Chủ trì phiên khai mạc toàn thể có ông Nguyễn Như Hùng, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy VKSND Tối cao; GS. TS. Võ Khánh Vinh, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Cố vấn cao cấp của Trường Đại học Kiểm sát và TS. Nguyễn Văn Khoát, Hiệu trưởng Nhà trường.

Toàn cảnh Diễn đàn nghiên cứu tư pháp năm 2026.
Về phía đại biểu thuộc ngành Kiểm sát nhân dân còn có ông Nguyễn Kim Sáu - Vụ trưởng Vụ 10; bà Hoàng Thị Quỳnh Chi- Kiểm sát viên VKSND Tối cao; ông Đỗ Văn Thường - Quyền Viện trưởng Viện Khoa học Kiểm sát; ông Phạm Hải Anh - Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Ninh; ông Phạm Xuân Minh - Viện trưởng VKSND TP. Cần Thơ; cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc VKSND Tối cao: Văn phòng VKSND Tối cao; Vụ Tổ chức cán bộ; Cục Thống kê tội phạm và chuyển đổi số; Thanh tra VKSND Tối cao; Vụ Công tố và kiểm sát điều tra án ma túy; Viện Khoa học kiểm sát; Báo Bảo vệ pháp luật...; đại diện lãnh đạo của VKSND TP. Hà Nội, VKSND TP. Hải Phòng, VKSND tỉnh Thanh Hóa; một số cán bộ nguyên là Kiểm sát viên VKSND Tối cao, các Kiểm sát viên và học viên.
Về phía các đại biểu thuộc các cơ quan trung ương, có ông Nguyễn Văn Hiển - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; ông Nguyễn Văn Phúc - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội khóa XIII. Về phía các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và các đơn vị đối tác của Nhà trường, có TS. LS. Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam; đại diên lãnh đạo Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp, Viện Chiến lược và Khoa học pháp - Bộ Tư pháp, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam…

Các thành viên chủ trì Diễn đàn nghiên cứu tư pháp năm 2026.
Về phía các chuyên gia, các nhà khoa học, có các GS.TS.: Trần Ngọc Đường, Lê Minh Tâm, Nguyễn Minh Đoan, Hoàng Thị Kim Quế, Hoàng Thế Liên, Vũ Công Giao, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Đăng Dung, Trần Phương Đạt; cùng các PGS. TS. và các nhà khoa học có uy tín trong lĩnh vực luật học. Về phía Trường Đại học Kiểm sát, có các Phó Hiệu trưởng cùng các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên Nhà trường, tham gia diễn đàn trực tiếp và trực tuyến.
Trong chương trình phiên toàn thể sáng ngày 14/5/2026, bên cạnh tham luận “Nghiên cứu hoàn thiện thể chế pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của đất nước” được đưa vào kỷ yếu Diễn đàn, TS.LS. Phan Trung Hoài đã trình bày một số nhận thức và cách tiếp cận các chủ đề của Diễn đàn mà các nhà khoa học đã phát biểu rất sâu sắc trước đó.

Các chuyên gia, nhà khoa học tại phiên khai mạc toàn thể Diễn đàn sáng ngày 14/5/2026.
Thứ nhất, từ chủ đề Diễn đàn nghiên cứu tư pháp năm 2026, nhận thức và cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu có nhiều điểm mới liên quan đến việc hoàn thiện thể chế pháp luật nói chung và thể chế tư pháp hình sự nói riêng. Vấn đề đặt ra là sự nhìn nhận vai trò của pháp luật và xác tiêu chí đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật gắn liền với yêu cầu phát triển của thực tiễn và đời sống xã hội, coi thực tiễn đời sống sinh động là thước đo xác định hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, là nhân tố bảo đảm sự ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người, các quyền tự do và dân chủ của công dân.
Mục đích tồn tại của xã hội không phải chỉ là vì luật pháp và ngược lại, chính luật pháp, nói rộng hơn là thể chế quản trị đất nước, trong một chừng mực nhất định, cần thấu hiểu hơn ai hết “cơ thể xã hội” mà nó đang tồn tại, để điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển. C. Mác đã từng nói: “Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người… Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy”. Mặt khác, việc hoàn thiện thể chế pháp luật cũng cần kế thừa tư tưởng nhân nghĩa Á Đông và pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, thể hiện chính sách nhân văn, bảo vệ quyền con người. Bác Hồ đã từng nói: “Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ chinh trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật” và “nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, là vấn đề ở đời và làm người”.

TS.LS. Phan Trung Hoài trình bày tham luận tại phiên toàn thể sáng 14/5/2026.
Mặt khác, cần quan tâm về sự tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với tăng cường năng lực quản lý của Nhà nước, coi đây là nội dung trọng tâm trong nhận thức không chỉ của các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, quản lý điều hành đất nước, mà còn của cả các chủ thể tư pháp trong quá trình xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn đời sống. Trong định hướng hoàn thiện thể chế pháp luật, cần bổ sung quan điểm mới được nêu trong Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 Khóa XIV của Đảng, theo đó: Đầu tư việc xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành thực hiện phải đặt ngang hàng với đầu tư phát triển; xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành từ “tốt trong văn bản” sang “tốt trong đời sống”.
Thứ hai, cần nhận diện “điểm nghẽn”, rà soát, sửa đổi bổ sung thể chế, pháp luật. Có thể nhận thấy, các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nảy sinh bao giờ cũng có những nguyên cớ của nó, bên cạnh yếu tố chủ quan mang lỗi cố ý, trong đó một phần có sự chi phối của các chính sách, pháp luật trong nhiều trường hợp, đã nảy sinh những bất cập, mâu thuẫn với sự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội. Các vụ án hình sự kinh tế, tham nhũng đôi khi là sự biểu hiện ra bên ngoài của quá trình tích tụ mâu thuẫn giữa chính sách, pháp luật và đời sống, mặt trái của nền kinh tế thị trường bộc lộ gay gắt. Quan điểm đánh giá về sự tác động của nền kinh tế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ chế tăng cường năng lực quản lý của Nhà nước, đề cao vai trò của pháp luật được coi là điểm trung tâm của nhận thức của các nhà hoạch định, quản lý, các chủ thể tư pháp trong quá trình xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong các vụ án kinh tế, tham nhũng.
Thông qua thực tiễn xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng trong hơn 30 năm qua, có thể nhận thấy “điểm nghẽn” về thể chế và pháp luật nằm ở quá trình xây dựng và thi hành pháp luật chưa đồng bộ, nhiều chính sách, pháp luật không theo kịp với đời sống, tính ổn định không cao, còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo dẫn đến nhận thức và áp dụng pháp luật còn khác nhau giữa chủ thể quản lý và người thực thi, giữa các cơ quan và người tiến hành, người tham gia tố tụng.
Cụ thể, thực tiễn xét xử các vụ án kính tế - tham nhũng cho thấy có nhiều vướng mắc trong nhận thức và áp dụng pháp luật về đất đai; lúng túng trong việc hình thành Tập đoàn kinh tế Nhà nước mang tính thí điểm; vấn đề đầu tư vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh ra ngoài doanh nghiệp Nhà nước; nhận thức và áp dụng pháp luật không đúng trong việc xác định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư Dự án và điều chỉnh đối với giao dịch chuyển nhượng cổ phần; bất cập, vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh liên quan đến chuyển nhượng Dự án giữa Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp với các Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở; sơ hở, thiếu sót trong một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực chứng khoán, tài chính, ngân hàng (quản lý ngoại hối, công tác phòng, chống rửa tiền, tín dụng).
Thứ ba, cần phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể gắn với các chức năng cơ bản là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS và hoạt động tư pháp, cũng như kiểm soát quyền lực nhằm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC). Xét về bản chất, trong TTHS luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản: Buộc tội, bào chữa và xét xử, trong đó vai trò của các chủ thể được phân định theo các chức năng tố tụng. Việc phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể gắn với các chức năng cơ bản của TTHS là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS và hoạt động tư pháp, cũng như kiểm soát quyền lực nhằm PCTNLPTC.

Các nhà khoa học, diễn giả chụp ảnh lưu niệm cùng Ban tổ chức tại phiên khai mạc toàn thể Diễn đàn nghiên cứu tư pháp năm 2026.
Hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự đòi hỏi việc xác định đầy đủ đặc điểm mô hình TTHS hiện nay ở nước ta là mô hình thiên về thẩm vấn, có tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng. Đặc trưng của mô hình này thể hiện mối quan hệ giữa phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tư pháp nói chung, quan hệ giữa Luật sư và cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng. Mục tiêu xuyên suốt của TTHS nước ta là tìm ra sự thật, tìm đến chân lý khách quan của sự việc, chi phối mọi trình tự, thủ tục, cũng như thẩm quyền của các chủ thể trong TTHS. Thể chế hoá quan điểm của Đảng tại Nghị quyết 08, Nghị quyết 49 và Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 26 Bộ luật TTHS 2015 quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo, cần quy định chặt chẽ hơn nguyên tắc tranh tụng được thực hiện ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố và thủ tục tranh luận tại phiên toà, khẳng định phán quyết của Toà án phải xuất phát từ kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên toà.
Vấn đề đảm bảo quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa được coi là điều kiện tất yếu cho việc đảm bảo nguyên tắc tranh tụng một cách công bằng, tạo cơ hội cho người bị buộc tội khả năng tiếp cận với công lý và TTHS có được bản chất dân chủ của nó. Vì thế, cần tạo môi trường pháp lý cho việc thực hiện chức năng gỡ tội, thể hiện thông qua việc Nhà nước có biện pháp đảm bảo cho Luật sư được thực hiện các kỹ năng chuyên môn của mình mà không bị cản trở hoặc can thiệp không đúng đắn, cũng như người dân có thể tiếp cận một cách bình đẳng và hiệu quả đối với các dịch vụ pháp lý mà người bào chữa cung cấp. Từ cách tiếp cận này, có cơ hội tạo ra sự bình đẳng và khả năng tham gia của Luật sư trong quan hệ phối hợp mang tính phản biện với các cơ quan tư pháp và trong hoạt động tư pháp.
Thứ tư, nâng cao vai trò, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ luật sư trong hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự. Các Nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật đã ghi nhận đội ngũ luật sư có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thông qua việc thực hiện chức năng xã hội cao quý là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh tế, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Đề cao vai trò của luật sư trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền là khẳng định nguyên tắc “thượng tôn pháp luật”, coi pháp luật là thước đo giá trị công bằng, chuẩn mực ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Trong điều kiện phát triển của xã hội nước ta hiện nay và yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp, đội ngũ luật sư là những người hành nghề chuyên nghiệp theo các phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý, có kiến thức về pháp luật, được đào tạo nghề nghiệp, phải qua thời gian tập sự và kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư cấp quốc gia mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.
Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị khi chỉ đạo đề án xây dựng Học viện tư pháp đã đề cập đến một trong những chức danh tư pháp cần đào tạo là luật sư, đồng thời “mở rộng nguồn để bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp, không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn là các luật gia, luật sư”. Để thực hiện Nghị quyết về thí điểm thực hiện chế định luật sư công được Quốc hội Khóa XVI thông qua ngày 24/4/2026, một trong những nguồn phát triển chế định luật sư công là từ đội ngũ luật sư hiện nay, Cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và được gia nhập Đoàn Luật sư để trở thành luật sư công theo quy định tại Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Do đó, có thể khẳng định, giá trị của hoạt động nghề nghiệp luật sư không khác gì với những người làm công tác tư pháp khác.
Do đó, cần xác định địa vị pháp lý của luật sư là chức danh tư pháp độc lập theo tinh thần Nghị quyết 27 của Bộ Chính trị, vận hành và có vị thế bình đẳng về chức năng cơ bản trong tố tụng, đặt trong thể chế và sự vận hành thể chế tư pháp thống nhất trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, từ đó nâng cao vai trò, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ luật sư trong hoàn thiện thể chế, pháp luật về tư pháp hình sự.
Tại phiên chuyên đề “Hoàn thiện thể chế pháp luật về tư pháp hình sự hiện đại, đồng bộ, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững của đất nước” vào chiều 14/5/2026, TS.LS. Phan Trung Hoài đã phát biểu ý kiến về chính sách Luật Luật sư, Bộ luật hình sự và Bộ luật TTHS hiện đang được các cơ quan chủ trì soạn thảo lấy ý kiến trên một số phương diện như sau:
Một là, xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hình sự theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân; đề cao hiệu quả phòng ngừa, tính nhân đạo, tính hướng thiện, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm; tiếp tục nghiên cứu giảm bớt tội danh có khung hình phạt tử hình, tăng điều kiện áp dụng hình phạt tử hình; ưu tiên áp dụng các biện pháp về kinh tế, hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, coi việc khắc phục hậu quả kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Ban chấp hành Trung ương Đảng là căn cứ quan trọng để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm khi xử lý các sai phạm; nghiên cứu chính sách mới về tạm hoãn và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và chính sách xử lý chuyển hướng đối với người phạm tội đã chủ động khắc phục hậu quả và nộp phạt mà không cần thông qua thủ tục kết tội…

TS.LS. Phan Trung Hoài phát biểu tại phiên chuyên đề hoàn thiện thể chế pháp luật về tư pháp hình sự chiều ngày 14/5/2026.
Hai là, nghiên cứu sửa đổi toàn diện Bộ luật TTHS, Bộ luật TTDS, Luật TTHC, theo hướng xem xét nâng cao vai trò của các bên tranh tụng trên cơ sở sự cân bằng trong thực thi các chức năng cơ bản trong TTHS; đổi mới thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền của những người tham gia tố tụng. Từ kinh nghiệm của một số quốc gia (trong đó Trung Quốc có mô hình TTHS như ở Việt Nam), cần đơn giản hóa quy trình, thủ tục tố tụng; tháo gỡ và đi đến xem xét xóa bỏ thủ tục hành chính là cấp thông báo đăng ký bào chữa và thực hiện thủ tục đăng ký theo tố tụng công nghệ số có sự kết nối giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ sở giam giữ, tạo điều kiện cho người bào chữa được tham gia tố tụng ngay từ khi giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, được quyền tiếp cận sớm nhất và trao đổi riêng với người bị tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra (như Pháp lệnh luật sư 1987 đã ghi nhận); mở rộng sự tham gia của luật sư trong biện pháp điều tra đặc biệt, trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, thi hành án tử hình và thi hành án hình sự… Nghiên cứu chế định “Hội thẩm Đoàn” trong hoạt động xét xử của Tòa án; thủ tục xem xét quyết định áp dụng hình phạt trong trường hợp người phạm tội nhận tội, nhận hình phạt để được hưởng khoan hồng; kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp; khuyến khích phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án như trọng tài, hòa giải...

Các đại biểu tham gia phiên chuyên đề hoàn thiện thể chế pháp luật về tư pháp hình sự chiều ngày 14/5/2026.
Ba là, tăng cường giám sát hoạt động tư pháp nói chung, giám sát hoạt động tư pháp hình sự nói riêng là vấn đề quan trọng của cải cách tư pháp và đã được đặt ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng như Nghị quyết 08, Nghị quyết 49, Báo cáo chính trị tại Đại hội XIV của Đảng. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về kiểm soát quyền lực trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; bảo đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế giám sát quyền lực tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; bảo đảm tính thống nhất với đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, người dân và các chủ thể xã hội khác trong giám sát và kiểm soát quyền lực tư pháp.
Bốn là, trong quá trình xây dựng chính sách và dự thảo Luật Luật sư, cùng với việc quy định chế tài và mức độ xử lý đối với các hành vi vi phạm điều cấm trong hoạt động hành nghề của luật sư, để bảo đảm sự công bằng và tăng cường cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, pháp luật tố tụng, cần quy định nghiêm cấm cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư và chế tài kèm theo, có thể bao gồm: (a) Từ chối, trì hoãn bất hợp pháp hoặc gây khó khăn trong việc thực hiện thủ tục đăng ký bào chữa; ngăn cản, gây khó khăn trong việc thực hiện các quyền của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng; (b) Can thiệp trái pháp luật vào quá trình tư vấn pháp luật giữa luật sư với khách hàng và các hoạt động khác trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý; (c) Gây áp lực, đe dọa hoặc dùng các biện pháp hành chính, kinh tế hoặc biện pháp khác để can thiệp vào tính độc lập, khách quan trong hoạt động hành nghề luật sư; (d) Có hành vi xúc phạm nhân phẩm, uy tín hoặc đe dọa hành hung, gây thương tích cho luật sư và người thân của luật sư trong quá trình hành nghề.
PV tổng thuật
(Ảnh: Trường Đại học Kiểm sát).

