LSVNO - Trong 3 tháng đầu năm, Chi nhánh tại Cần Thơ của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam tổ chức khảo sát các doanh nghiệp đang hoạt động ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với tỷ lệ lớn thuộc lĩnh vực nông nghiệp. Số liệu cho thấy, năm 2017 các doanh nghiệp có sự phục hồi so với năm 2016 nhưng thách thức từ đầu năm 2018 vẫn rất lớn.
Theo Phó giám đốc Chi nhánh (PGĐ CN) Nguyễn Thị Thương Linh cho biết, năm 2017 so với năm 2016, về tổng thể tình hình kinh doanh, tỷ lệ doanh nghiệp tốt lên và ổn định đều cao hơn năm 2016, còn tỷ lệ xấu đi giảm hơn một nửa. Về doanh thu và lợi nhuận, tỷ lệ doanh nghiệp có tăng đã vượt cả năm 2016 và 2015. Đặc biệt, giá bán bình quân sản phẩm ở năm 2017 khá ổn định, tỷ lệ doanh nghiệp bán giá ổn định là 52,8%, hơn hẳn hai năm trước. Thực tế cũng cho thấy, nông sản năm 2017 ở vùng ĐBSCL được tiêu thụ khá ổn định, những mặt hàng chiến lược được mùa được giá như lúa gạo, tôm, cá tra và một số loại trái cây. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp chưa thoát khỏi khó khăn, cụ thể là 22,3% doanh nghiệp giảm doanh thu, 31,4% giảm lợi nhuận và 8,4% giảm giá bán sản phẩm.
PV: Nguyên nhân của tăng trưởng, ổn định và giảm là gì, thưa bà?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Các doanh nghiệp tăng được doanh thu và lợi nhuận chủ yếu do ứng dụng khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất, chú trọng năng suất lao động, đào tạo nhân sự và tái cơ cấu bộ máy. Doanh nghiệp nông nghiệp tăng nhờ tự chủ động nguồn cung ứng và đầu ra ổn định, nâng cao chất lượng sản phẩm; còn ổn định kinh doanh là nhờ có chiến lược ổn định thị phần. Còn những doanh nghiệp giảm hiệu quả kinh doanh do chi phí đầu vào tăng (thiếu nguyên liệu, giá xăng, bảo hiểm…), trong lúc đơn hàng giảm, giá bán không thay đổi và có cả lý do cạnh tranh không lành mạnh. Đặc biệt, các doanh nghiệp thủy sản giảm hiệu quả kinh doanh vì thị trường tiêu thụ không ổn định.
PV: Trong các loại chi phí của doanh nghiệp ở năm 2017, so với năm 2016, loại nào tăng cao nhất và có loại nào giảm hay không?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Tăng cao nhất ở năm 2017 so với năm 2016 là chi phí đầu vào không bao gồm nguyên liệu, tiếp theo là chi phí sản xuất, quản lý, tài chính. Còn những chi phí giảm là chi phí đào tạo, chi phí không chính thức, cả chi phí lương và bán hàng cũng giảm. Đáng chú ý là chi phí đào tạo giảm lớn nhất, đã giảm hơn một nửa so với năm trước.
PV: Bà có nhắc đến giá bán sản phẩm của doanh nghiệp, vấn đề rất được quan tâm trong lĩnh vực nông nghiệp. Qua khảo sát, việc hạ giá bán sản phẩm có phải là một giải pháp của doanh nghiệp trong năm 2017 hay không, nếu có thì hiệu quả như thế nào?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Hạ giá bán sản phẩm là một giải pháp của doanh nghiệp trong năm 2017 và số liệu khảo sát cho biết, đó là giải pháp kém hiệu quả nhất. Giải pháp hạ giá bán sản phẩm không đem lại hiệu quả cho 34,8% doanh nghiệp (tỷ lệ lớn nhất không đem lại hiệu quả trong tất cả các giải pháp), đem lại hiệu quả bình thường với 26,1%. Trong lúc, các giải pháp đem lại hiệu quả và rất hiệu quả là phát triển thị trường mới; cải thiện, phát triển kênh phân phối; nâng cao chất lượng sản phẩm; những giải pháp này đem lại hiệu quả cho 77,2-83,4% doanh nghiệp. Giải pháp tập trung nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới cũng đưa lại hiệu quả bình thường cho 40.9% doanh nghiệp.
PV: Doanh nghiệp ĐBSCL quan tâm kết nối trong kinh doanh hay chưa, khó khăn vừa qua và nhu cầu thời gian tới?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Khoảng 70% doanh nghiệp đã kết nối trong kinh doanh. Tuy nhiên, chủ yếu nhờ hỗ trợ của địa phương và Chi nhánh Cần Thơ - Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam còn tự tổ chức chỉ có 19% doanh nghiệp. Các khó khăn chính trong hoạt động kết nối của doanh nghiệp là thiếu thông tin, không có đầu mối ráp nối và không có các mối quan hệ. Hiện nay, nhu cầu kết nối của các doanh nghiệp rất cao; trong đó, 90,5% muốn kết nối cùng ngành nghề; 52,4% muốn kết nối thị trường, tiếp thị.
PV: Cơ chế, chính sách còn điều gì gây khó khăn cho doanh nghiệp không?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Tôi xin nêu ví dụ cụ thể. Cục thuế tỉnh Hậu Giang làm việc cứng nhắc với doanh nghiệp chế biến kinh doanh mỡ cá. Cụ thể, thuế suất với sản phẩm mỡ cá làm thức ăn cho gia súc là 0%, sản phẩm mỡ cá sử dụng cho thực phẩm là 10%. Tuy nhiên, mỡ cá chỉ được tính 0% khi đăng ký với Cục Chăn nuôi và được Cục Chăn nuôi cấp giấy chứng nhận. Nhưng việc chứng nhận là rất khó khăn. Trong khi đó, Đồng Tháp đã áp thuế tất cả là 0% do tỉnh cho rằng mỡ cá mặc nhiên làm thức ăn cho gia súc. Các quy định cứng nhắc như thế gây khó cho doanh nghiệp và theo phản ánh của doanh nghiệp, thủ tục hoàn thuế cũng chậm. Trong xuất nhập khẩu, việc áp thuế xuất khẩu dừa là chưa hợp lý; khó khăn trong việc đáp ứng Quy định của Cục kiểm dịch thực vật về nhập khẩu dừa từ Indonesia. Thủ tục xin giấy phép xuất khẩu theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP còn khó khăn, ảnh hưởng rất nhiều đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang mong muốn tìm kiếm và mở rộng thị trường. Phí đường bộ BOT cao làm tăng chi phí kinh doanh và chi phí cơ hội (thời gian ùn tắc giao thông) cũng đang cản trở doanh nghiệp phát triển.
PV: Các doanh nghiệp dự báo những khó khăn gì ở năm 2018 và chuẩn bị ứng phó như thế nào?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Dự báo chi phí sản xuất tiếp tục tăng, trong khi thị trường hàng nông sản xuất khẩu bị nhiều rào cản kỹ thuật, còn thị trường nội địa bị cạnh tranh bởi hàng ngoại. Nguyên liệu cũng sẽ khó khăn do biến đổi khí hậu, nhất là nguyên liệu thủy sản còn giới hạn vùng biển khai thác (Thailand, Malaysia, Indonesia). Tất cả làm cho khó khăn của doanh nghiệp không hề giảm, có thể tăng trong năm 2018.
Để ứng phó với khó khăn, hầu như ở đâu cũng nhắc đến công nghiệp 4.0 nhưng ít doanh nghiệp có kế hoạch thực thi cụ thể. Cần lao động có tay nghề và doanh nghiệp phải chủ động đào tạo nhưng qua khảo sát, chưa thấy rõ sự quan tâm của doanh nghiệp, chỉ thấy rõ việc cắt giảm chi phí đào tạo ở năm 2017. Xây dựng và quản trị thương hiệu; nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã để lấy niềm tin của thị trường, cả xuất khẩu và nội địa, cũng chưa thấy doanh nghiệp có được sự chú trọng tương xứng.
Cá tra Việt Nam đang gặp thách thức lớn ở thị trường Mỹ vì thuế chống bán phá giá cao và yêu cầu tiêu chuẩn tương đương.
PV: Trước thách thức, các doanh nghiệp kiến nghị điều gì với cơ quan hữu quan địa phương?
PGĐ CN Nguyễn Thị Thương Linh: Sự minh bạch thông tin, kênh truyền thông hiệu quả với lãnh đạo địa phương luôn được doanh nghiệp quan tâm và đánh giá cao. Cải cách hành chính, đặc biệt cấp cơ sở được các doanh nghiệp kiến nghị cần ưu tiên hàng đầu. Họ cho biết, với cấp tỉnh bây giờ không đáng lo nhưng ở cấp huyện trở xuống thì còn có nhiều trắc trở.
Đồng thời, điều kiện “cứng” không còn trở thành quá quan trọng đối với doanh nghiệp. Bây giờ, doanh nghiệp chú ý và đánh giá cao việc giải quyết từng vụ việc mà có kết quả hơn là đưa ra nhiều chính sách hay kế hoạch “trên giấy” thường ít có kết quả.
Sáu Nghệ



