Tài sản bảo đảm là gì?
Thông thường, doanh nghiệp đi vay dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc của bên có liên quan để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay mà không giao tài sản này cho ngân hàng. Trong trường hợp này, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là biện pháp thế chấp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.
Pháp luật Việt Nam hiện không định nghĩa tài sản bảo đảm, nhưng có thể hiểu đó là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản[1] mà doanh nghiệp dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận bảo đảm thông qua các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, ký cược, ký quỹ, đặt cọc... Theo quy định của pháp luật, điều kiện để một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm[2]:
- Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm;
- Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu;
- Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ;
- Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng được thực hiện như thế nào?
Theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024 được sửa đổi, bổ sung năm 2025, ngân hàng có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây[3]:
Thứ nhất, ngân hàng chỉ thu giữ tài sản bảo đảm khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, bao gồm: (i) đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; hoặc (iii) trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định[4].
Thứ hai, hợp đồng bảo đảm phải có thỏa thuận về việc doanh nghiệp đồng ý cho ngân hàng quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm trong hợp đồng là điều kiện tiên quyết để ngân hàng phát sinh quyền thu giữ.
Thứ ba, biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Điều đó đồng nghĩa với việc hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, các bên đã đăng ký biện pháp bảo đảm nếu thuộc trường hợp phải đăng ký theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan[5].
Thứ tư, tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; không thuộc trường hợp bị tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản.
Thứ năm, tài sản bảo đảm được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ. Đơn cử là trường hợp bên thứ ba là cá nhân dùng tài sản của mình để bảo đảm cho doanh nghiệp huy động các nguồn vốn tín dụng. Nếu tài sản bảo đảm là chỗ ở duy nhất của cá nhân thì ngân hàng phải trích cho cá nhân một khoản tiền bằng 12 tháng lương tính theo mức lương tối thiểu. Nếu tài sản bảo đảm là công cụ lao động chủ yếu/ duy nhất của cá nhân thì khoản tiền phải trích bằng 06 tháng lương tính theo mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu được tính theo vùng nơi cá nhân có tài sản bảo đảm đang thực tế sinh sống. Nghĩa vụ xác nhận, chứng minh để được hưởng các khoản trích kể trên thuộc về cá nhân có tài sản bảo đảm. Theo Điều 5 Nghị định 304, cá nhân phải có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản bảo đảm thuộc hoặc không thuộc trường hợp kể trên theo yêu cầu của ngân hàng trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Các tài liệu chứng minh bao gồm giấy chứng nhận quyền sở hữu, sao kê tài khoản ngân hàng ghi nhận thu nhập hàng tháng, tài liệu chứng minh việc thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân, hóa đơn điện hoặc nước hoặc internet ghi nhận địa chỉ thường trú, tạm trú,…
Thứ sáu, ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản[6]. Trường hợp tài sản bảo đảm là động sản thì ngân hàng cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thông báo, ngoại trừ việc niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[7]. Các thông tin cần công khai bao gồm thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ tài sản bảo đảm. Hình thức công khai thông tin theo quy định của pháp luật gồm đầy đủ các bước:
- Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử;
- Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
- Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở UBND cấp xã nơi doanh nghiệp đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở UBND cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
- Thông báo cho doanh nghiệp, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) theo phương thức thông báo đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì ngân hàng phải gửi trực tiếp văn bản thông báo hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử theo các thông tin, địa chỉ do doanh nghiệp, người đang giữ tài sản bảo đảm cung cấp.
Thứ bảy, ngân hàng chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của chính ngân hàng, đồng thời không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.[8]
Ngoài ra, ngân hàng phải xây dựng và ban hành quy định nội bộ về trình tự, thủ tục thực hiện việc thu giữ, bao gồm cả quy định khi thực hiện việc ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm.[9]
Để đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp khi giao dịch với ngân hàng
Để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp cần nắm được các nội dung liên quan đến trình tự, thủ tục thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm tại ngân hàng nhận bảo đảm. Doanh nghiệp nên yêu cầu ngân hàng cung cấp các quy định nội bộ liên quan trước khi tiến hành giao kết hợp đồng bảo đảm.
Đảm bảo rà soát kỹ hợp đồng bảo đảm và nắm rõ điều kiện thu giữ tài sản bảo đảm
Việc rà soát kỹ hợp đồng bảo đảm là đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để doanh nghiệp đối chiếu, phát hiện các sai phạm liên quan đến việc ngân hàng thực hiện hợp đồng bảo đảm và thu giữ tài sản bảo đảm theo hợp đồng. Trường hợp doanh nghiệp đồng ý cho ngân hàng thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, nội dung này phải được ghi nhận minh thị trong hợp đồng bảo đảm. Trên cơ sở đó, ngân hàng mới có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của doanh nghiệp.
Cần tư vấn từ chuyên gia có kinh nghiệm về việc ngân hàng thu giữ tài sản bảo đảm
Bên cạnh đó, trước khi ngân hàng tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, doanh nghiệp cần rà soát xem mình có thuộc trường hợp bị xử lý tài sản bảo đảm hay không. Trường hợp cần thiết nên xem xét lấy ý kiến của chuyên gia, luật sư hoặc đơn vị tư vấn để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong trường hợp này. Chẳng hạn như khi có nguy cơ bị thu giữ tài sản bảo đảm, doanh nghiệp có quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản được thu giữ, lý do thu giữ phải được ghi nhận rõ ràng trong thông báo của ngân hàng. Ngoài ra, để kịp thời tiếp nhận và xử lý thông tin từ ngân hàng, doanh nghiệp cần thông báo cho ngân hàng khi có thay đổi thông tin, địa chỉ nhận thông báo.
Có thể thấy, Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sửa đổi đã luật hóa quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng khi các bên có thỏa thuận về quyền thu giữ, không cần qua tòa án xét xử theo pháp luật dân sự. Theo đó, ngân hàng hành động theo quyền hợp đồng nhưng vẫn phải đảm bảo tuân thủ các quy định về trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, điều kiện của tài sản bảo đảm, nghĩa vụ công khai thông tin… Điều này đòi hỏi doanh nghiệp hết sức cẩn trọng và có chiến lược giao dịch phù hợp để tài sản bị bảo đảm không bị thu giữ trái quy định và mong muốn của doanh nghiệp.
[1] Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015.
[2] Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
[3] Khoản 2 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng.
[4] Điều 299 Bộ luật Dân 2015.
[5] Khoản 1, 2 Điều 23 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
[6] Khoản 3 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng.
[7] Khoản 4 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng.
[8] Khoản 6 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng.
[9] Khoản 7 Điều 198a Luật Các tổ chức tín dụng
NGUYỄN TƯỜNG AN CHI
Công ty Luật TNHH HM&P

