Sự lúng túng trong định tội danh…
Theo hồ sơ vụ án, vụ tranh chấp kéo dài giữa bà Nguyễn Thị Thùy Dung và các bị hại đã trải qua nhiều giai đoạn tố tụng phức tạp. Sau khi CQĐT Công an tỉnh An Giang ban hành Bản kết luận điều tra số 346 và Kết luận điều tra bổ sung số 781, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh An Giang không chấp thuận mà đã hai lần trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung.
Cụ thể, ngày 16/12/2025, VKSND tỉnh An Giang đã ban hành Quyết định số 22/QĐ-VKSAG-P2 trả hồ sơ điều tra bổ sung lần thứ hai. Lý do được VKSND đưa ra rất rõ ràng và mang tính nguyên tắc: CQĐT Công an tỉnh An Giang chưa làm rõ được giá trị, công năng của dàn thiết bị nuôi chim yến; chưa định giá tài sản dây chuyền sản xuất và đặc biệt là chưa xác định chính xác số tiền bị chiếm đoạt của từng bị hại.
Sau nhiều tháng điều tra bổ sung, ngày 23/02/2026, CQĐT Công an tỉnh An Giang đã ban hành Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 93/BKL-VPCQCSĐT. Kết luận này đề nghị truy tố bà Dung với ba tội danh: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (khoản 4 Điều 174), “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (khoản 4 Điều 175) và “Lừa dối khách hàng” (khoản 2 Điều 198) theo Bộ luật Hình sự.
Điểm đáng chú ý nhất: Tại Bản kết luận điều tra số 93 là việc CQĐT Công an tỉnh An Giang đã bất ngờ thay đổi tội danh liên quan đến cung cấp thiết bị dẫn dụ chim yến từ tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Điều 174 BLHS) sang tội “Lừa dối khách hàng” (Điều 198 BLHS). Việc thay đổi tội danh sát ngày ban hành kết luận điều tra cho thấy một sự lúng túng nhất định trong việc xác định bản chất hành vi của bị can. Bên cạnh đó, các yêu cầu cốt yếu của VKSND về việc giám định kỹ thuật thiết bị, làm rõ nguồn gốc, tính năng của “dàn máy móc đóng lon đa năng” cũng chưa được điều tra một cách chi tiết, đầy đủ, khiến cho việc định tội danh càng thêm thiếu cơ sở vững chắc.

Bản kết luận điều tra và Kiến nghị của Luật sư.
Những tài liệu, chứng cứ chưa được xem xét trong quá trình điều tra…
Đáng nói hơn, trong suốt quá trình điều tra, phía bị can, Luật sư bào chữa và gia đình bà Dung đã nhiều lần có văn bản kiến nghị gửi CQĐT yêu cầu làm rõ các tình tiết quan trọng của vụ án. Cụ thể, họ đã yêu cầu đối chất giữa bị can và bị hại để làm sáng tỏ các giao dịch, đồng thời cung cấp nhiều tài liệu, chứng cứ quan trọng nhằm chứng minh bản chất dân sự của vụ việc. Tuy nhiên, các nội dung kiến nghị, tài liệu, dữ liệu này chưa được CQĐT Công an tỉnh An Giang xem xét, xử lý.
Đặc biệt, nghịch lý càng lộ rõ khi một sản phẩm được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, công nhận tính mới và tính sáng tạo trên toàn lãnh thổ, nhưng lại bị CQĐT Công an tỉnh An Giang coi là “công cụ lừa dối” mà không hề xem xét tạo ra sự xung đột pháp lý một cách toàn diện.
Các mâu thuẫn pháp lý nghiêm trọng mà Luật sư chỉ ra...
Ngay sau khi Bản kết luận số 93 được ban hành, Luật sư Trần Đình Kiên (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) đã gửi Đơn kiến nghị khẩn cấp tới lãnh đạo VKSND tỉnh An Giang. Trong đơn, Luật sư đã chỉ ra những mâu thuẫn nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính khách quan của vụ án, cụ thể:
Thứ nhất, hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” 07 tỉ đồng – không có chứng cứ: Luật sư Kiên nhấn mạnh, toàn bộ cáo buộc bị can Dung vay 07 tỉ đồng của ông Phú chỉ dựa trên lời khai duy nhất của bị hại. Trong khi đó, bị can Dung luôn phủ nhận việc vay mượn này. Đáng chú ý, trong hồ sơ vụ án không hề có giấy tờ, chứng từ hay bất kỳ tài liệu nào chứng minh giao dịch 07 tỉ đồng được thực hiện.
Luật sư cho biết, người bào chữa, bị can và gia đình đã nhiều lần có văn bản kiến nghị CQĐT Công an tỉnh An Giang tiến hành đối chất giữa bị can và bị hại, cũng như yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh là có hay không về việc “vay mượn”. Đặc biệt, trong cả hai lần ban hành quyết định trả hồ sơ, Viện KSND tỉnh An Giang đều yêu cầu "tiến hành đối chất giữa bị can và bị hại về thời hạn trả nợ số tiền 07 tỉ đồng mà bị hại cho bị can Dung mượn", thế nhưng CQĐT Công an tỉnh An Giang vẫn không thực hiện.
Việc CQĐT Công an tỉnh An Giang không tuân thủ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện KSND, vẫn giữ nguyên quan điểm buộc tội khi thiếu chứng cứ quan trọng nhất để buộc tội; việc điều tra không dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội và nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, trong đơn kiến nghị của mình, Luật sư khẳng định đó là hành vi có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
Thứ hai, trong việc điều tra, đánh giá hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 23 tỉ đồng – một số chứng cứ đã bị bỏ qua: Liên quan đến số tiền 23 tỉ đồng bị cáo bị buộc đã chiếm đoạt của ông Phú, bà Dung và gia đình đã cung cấp cho cơ quan điều tra nhiều tài liệu quan trọng nhằm chứng minh bản chất dân sự của giao dịch. Đáng kể nhất là đoạn video ghi lại cảnh hai bên gặp gỡ vào sáng ngày 01/11/2019 tại TP.HCM, cùng nhiều hình ảnh, tài liệu liên quan đến quá trình hợp tác kinh doanh. Đoạn video này có thể làm sáng tỏ bản chất của giao dịch, cho thấy đây là một quan hệ kinh doanh, hợp tác thương mại chứ không phải hành vi gian dối để chiếm đoạt. Bên cạnh đó, phía bị can cũng yêu cầu đối chất việc nhận tiền giữa bị can Dung, bị hại Phú và những người liên quan nhưng CQĐT Công an tỉnh An Giang vẫn không xem xét, giải quyết.
Từ đó, Luật sư Kiên khẳng định việc kết luận tội danh này không đúng pháp luật, có dấu hiệu hình sự hóa quan hệ dân sự giữa các pháp nhân trong hoạt động kinh doanh”. Trong vụ án này, ranh giới giữa một hợp đồng kinh tế có rủi ro và một vụ án hình sự rất dễ bị xóa nhòa nếu CQĐT trong quá trình điều tra, kết luận không khách quan và đánh giá vụ việc một cách toàn diện.
Thứ ba, tội “Lừa dối khách hàng” – Đây được xem là điểm mâu thuẫn lớn nhất trong Bản kết luận điều tra số 93. Luật sư chỉ ra rằng, tại phần mô tả diễn biến nội dung vụ án, CQĐT Công an tỉnh An Giang trình bày 03 nội dung: “Lừa đảo 23 tỉ đồng của Phú”, “Lạm dụng tín nhiệm 07 tỉ đồng của Phú” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” liên quan đến cung cấp thiết bị nuôi chim yến tự chế.
Tuy nhiên, đến phần kết luận, CQĐT Công an tỉnh An Giang lại kết luận bị can phạm tội “Lừa dối khách hàng” (Điều 198) chứ không phải “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với các bị hại còn lại liên quan đến thiết bị. Luật sư đặt câu hỏi: Cơ sở nào để chứng minh tội “Lừa dối khách hàng”?
Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật, tội danh này có dấu hiệu định tội bắt buộc là “thu lợi bất chính” và hành vi gian dối phải diễn ra trong việc cân, đong, đo, đếm, hoặc tính toán gian hàng hóa. Trong khi đó, suốt quá trình điều tra và trong bản kết luận, CQĐT Công an tỉnh An Giang không hề làm rõ số tiền “thu lợi bất chính” của bị can là bao nhiêu.
Các hợp đồng đã được thực hiện, bị can đã giao máy, các bị hại đã nhận và sử dụng máy. Những tranh chấp nếu có chỉ dừng lại ở mức độ chất lượng sản phẩm, công năng máy móc – vốn thuộc phạm vi của pháp luật dân sự hoặc kinh tế. “Việc không làm rõ yếu tố then chốt cấu thành tội phạm khiến cho bản kết luận trở nên thiếu căn cứ”, Luật sư Kiên nhấn mạnh.
Kiến nghị đình chỉ vụ án hình sự
Dựa trên nguyên tắc suy đoán vô tội và những dấu hiệu vi phạm tố tụng nêu trên, Luật sư Trần Đình Kiên kiến nghị Viện trưởng VKSND tỉnh An Giang đình chỉ vụ án và đình chỉ tư cách bị can đối với bà Nguyễn Thị Thùy Dung.
Luật sư nhấn mạnh, việc chuyển đổi tội danh sang "Lừa dối khách hàng" trong khi không làm rõ giá trị tài sản, công năng thiết bị và phớt lờ chứng cứ từ bị can là hết sức khiên cưỡng. Đưa tranh chấp thương mại vào vòng xoáy hình sự không chỉ gây oan sai cho cá nhân mà còn tạo rủi ro pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp, khiến môi trường đầu tư bất ổn.
Luật sư và bị can đang đặt trọn niềm tin vào sự công tâm, minh bạch của các cơ quan tư pháp tỉnh An Giang, để sự thật khách quan được trả về đúng bản chất vốn có, thay vì cố gắng duy trì những cáo buộc hình sự khi “khoảng trống” chứng cứ vẫn còn quá lớn và thẩm quyền điều tra vẫn đang bị đặt dấu hỏi.
ĐỖ ĐẠT – NAM HUỲNH

