1. Khi nào doanh nghiệp được phục hồi?
Luật PHPS quy định một trong những nguyên tắc quan trọng là phải ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi đối với doanh nghiệp, hợp tác xã (gọi chung là doanh nghiệp) [2]. Để doanh nghiệp được áp dụng thủ tục phục hồi, cần phải thông qua 2 giai đoạn: (i) Giai đoạn yêu cầu mở thủ tục phục hồi; và (ii) Giai đoạn thực hiện phương án phục hồi. Trong đó, giai đoạn thực hiện phương án phục hồi chỉ được tiến hành sau khi Tòa án có quyết định mở thủ tục phục hồi. Theo đó, thủ tục phục hồi được mở khi:
Thứ nhất, doanh nghiệp có đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phục hồi [3]
Nếu thủ tục phá sản mang tính “xử lý hậu quả” và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, thì thủ tục phục hồi đóng vai trò phòng ngừa và can thiệp sớm, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tái cấu trúc hoạt động, cơ cấu lại tài chính và duy trì sự tồn tại. Pháp luật trao quyền nộp đơn yêu cầu phục hồi cho các chủ thể bao gồm: (1) người đại diện theo pháp luật; (2) các cơ quan quản trị nội bộ tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp; (3) đại hội thành viên của hợp tác xã; cũng như chủ doanh nghiệp tư nhân và chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Việc quy định rõ ràng giúp bảo đảm tính chính danh và thống nhất ý chí nội bộ khi lựa chọn con đường phục hồi.
Thứ hai, đơn yêu cầu được Tòa án thụ lý [4]
Người nộp đơn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, đồng thời cung cấp đầy đủ hồ sơ cốt lõi như phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, danh sách chủ nợ và người mắc nợ, kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh tình trạng tài chính của doanh nghiệp [5]. Bên cạnh đó, nghĩa vụ nộp lệ phí phục hồi và tạm ứng chi phí phục hồi là điều kiện bắt buộc để bảo đảm nguồn lực cho quá trình tố tụng và phục hồi [6]. Tòa án thực hiện sàng lọc và khi các điều kiện được đáp ứng, Tòa án thông báo thụ lý đơn và thủ tục phục hồi chính thức được mở. Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, doanh nghiệp, hợp tác xã không được thực hiện một số hoạt động mang tính chất tẩu tán tài sản [7] cũng như phải báo cáo Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để giám sát trước khi thực hiện các hoạt động liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã [8]. Sau khi Tòa án có thẩm quyền ban hành quyết định phục hồi thì doanh nghiệp được áp dụng phương án phục hồi.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, Thẩm phán xem xét, quyết định triệu tập Hội nghị chủ nợ [9]. Các chủ nợ tham gia Hội nghị sẽ tiến hành biểu quyết đối với phương án phục hồi hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp, hợp tác xã đề xuất. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có số chủ nợ đại diện cho từ 65% tổng số nợ của chủ nợ tham gia biểu quyết tán thành và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các chủ nợ [10].
Tiếp theo đó, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Thẩm phán ra một trong các quyết định Công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có hiệu lực kể từ ngày Thẩm phán ra quyết định công nhận [11]. Bên cạnh đó, kể từ ngày nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực thì các biện pháp cấm, giám sát đã áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được đương nhiên chấm dứt [12].

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
2. Khi nào doanh nghiệp được cho phá sản ?
Thủ tục phá sản của doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp lý được thực hiện nhằm chấm dứt hoạt động kinh doanh một cách có trật tự. Thủ tục này có thể được thực hiện theo thủ tục thông thường hoặc thủ tục rút gọn nếu xét thấy tính chất và quy mô của doanh nghiệp nhỏ hoặc tính chất vụ việc không phức tạp [13].
Theo quy định, khi doanh nghiệp đó mất khả năng thanh toán [14] và người có quyền, nghĩa vụ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản [15]. Lúc này Thẩm phán thụ lý xem xét vụ việc có quyền ra quyết định việc mở hoặc không mở thủ tục phá sản [16]. Quyết định này chưa có hiệu lực ngay và có thể được thay đổi sau khi có đơn đề nghị xem xét lại hoặc đơn kiến nghị với quyết định trước đó. Đây là bước khởi đầu để Tòa án kiểm tra, đánh giá trước khi chính thức đưa ra quyết định tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp. Từ thời điểm mở thủ tục cho đến khi có căn cứ quyết định tuyên bố phá sản, hàng loạt thủ tục khác được tiến hành như giám sát hoạt động kinh doanh, thay đổi người đại diện theo pháp luật nếu có đề nghị, xác định tiền lãi đối với khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị chủ nợ,…
Sau khi quyết định phá sản của tòa án được ban hành, doanh nghiệp sẽ được áp dụng các thủ tục phá sản để chấm dứt hoạt động. Lúc này, thẩm phán căn cứ các trường hợp dưới đây để xác định doanh nghiệp buộc phá sản hay không.
Thứ nhất, có báo cáo kết quả họp Hội nghị chủ nợ đối với trường hợp Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết kết luận phương án xử lý đối với doanh nghiệp;
Thứ hai, có nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có nội dung kết luận đề nghị tuyên bố phá sản và tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án giải quyết xong;
Thứ ba, có báo cáo của Quản tài viên về việc không thể thực hiện việc phục hồi hoặc quá hạn thời doanh phục hồi nhưng vẫn mất khả năng thanh toán;
Cuối cùng, có quyết định không công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có nội dung thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
3. Thuận lợi và thách thức của khung pháp lý mới
Những điểm tích cực
Thay vì chỉ đặt trọng tâm vào thủ tục phá sản khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, pháp luật đã xác lập chủ trương ưu tiên phục hồi sức khỏe tài chính của doanh nghiệp thông qua các cơ chế hỗ trợ phù hợp. Cách tiếp cận này tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm cơ hội vượt qua giai đoạn khủng hoảng, có thể tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thông qua thủ tục này, Nhà nước vừa bảo vệ lợi ích của chính đáng doanh nghiệp vừa góp phần hạn chế những hệ lụy tiêu cực gây xáo trộn, mất ổn định đối với nền kinh tế nói chung.
Các quy định mới cũng tiếp tục ưu tiên đối với các khoản nợ đối với người lao động [17]. Đồng thời, người lao động cũng được ghi nhận là một trong những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu thủ tục phục hồi, phá sản mà không cần phải chịu chi phí phục hồi, trừ trường hợp lợi dụng việc nộp đơn để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Không ít thách thức khi quy định mới có hiệu lực
Có thể thời gian đầu triển khai, các quy định mới sẽ gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp vì cần thời gian thử nghiệm, hoàn chỉnh các văn bản hướng dẫn từ các cơ quan có thẩm quyền. Chẳng hạn như quy định về bù trừ nghĩa vụ.[18] Tuy nhiên, áp dụng phương thức bù trừ dựa trên giá trị tài sản được định giá có thể phát sinh những trường hợp mà mức định giá chưa phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản. Trong trường hợp này, bên sở hữu tài sản có thể được hưởng lợi nếu tài sản được định giá cao hơn giá trị thực, và ngược lại. Từ đó tác động trực tiếp đến việc xác định phạm vi và mức độ nghĩa vụ của các bên liên quan. Vì thế, việc xây dựng văn bản hướng dẫn sẽ gặp thách thức không nhỏ, đòi hỏi cơ chế phương pháp định giá khách quan, trình độ của quản tài viên, thẩm phán phù hợp với tính chất vụ việc. Ngoài ra, thủ tục phục hồi và phá sản đều có yêu cầu thỏa mãn yếu tố “mất khả năng thanh toán” nhưng chủ thể khác nhau nộp đơn sẽ dẫn đến hai hướng xử lý khác nhau, dễ gây xung đột thẩm quyền và kéo dài thời gian giải quyết [19]. Điều này có thể xảy ra trường hợp lạm dụng khi đồng thời chủ doanh nghiệp nộp đơn phục hồi để trì hoãn nghĩa vụ thanh toán của mình hoặc các chủ nợ nộp đơn phá sản để gây sức ép trả nợ đối với doanh nghiệp.
[1] Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 38 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[2] Khoản 1 Điều 3 Luật PHPS.
[3] Khoản 1 Điều 24 Luật Luật PHPS.
[4] Điều 25 Luật Luật PHPS.
[5] Khoản 1 Điều 25 Luật Luật PHPS.
[6] Khoản 5 Điều 25 Luật Luật PHPS.
[7] Điều 31 Luật PHPS.[8] Điều 32 Luật PHPS.
[9] Khoản 1 Điều 33 Luật PHPS.[10] Khoản 6 Điều 33 Luật PHPS.
[11] Điểm a khoản 1 Điều 34 Luật PHPS.
[12] Khoản 2 Điều 34 Luật PHPS.
[13] Mục 2 Chương IV Luật PHPS.
[14] Khoản 2 Điều 5 Luật PHPS.
[15] Điều 38 Luật PHPS.
[16] Điều 41 Luật PHPS.
[17] Điều 46 Luật PHPS.
[18] Khoản 2 Điều 53 Luật PHPS.
[19] https://kinhtedothi.vn/hoan-thien-luat-pha-san-de-tang-hieu-qua-phuc-hoi-doanh-nghiep.914917.html, truy cập ngày 29/12/2025.
NGUYỄN VIỆT HÙNG
Công ty Luật TNHH HM&P

