LSVNO - Quốc hội đã thông qua Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14. Luật này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2018.
Quốc hội thông qua Luật Thủy lợi.
Luật Thủy lợi được xây dựng thay thế Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi năm 2001, mở rộng phạm vi điều chỉnh bao quát hoạt động thủy lợi. Luật Thủy lợi quy định các nội dung mới tạo động lực cho tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thủy lợi nhằm phát triển thủy lợi bền vững, phục vụ ngày càng tốt hơn cho sản xuất, dân sinh, Một số hoạt động thủy lợi chưa được quy định tại Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi đã được Luật Thủy lợi quy định lần này như chiến lược, quy hoặc điều tra cơ bản thủy lợi; nội dung đặc thù của công tác đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồngl vận hành hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi…
Luật Thủy lợi gồm có 10 Chương, 60 Điều quy định về điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch thủy lợi; đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; quản lý, khai thác công trình thủy lợi và vận hành hồ chứa thủy điện phục vụ thủy lợi; dịch vụ thủy lợi; bảo vệ và bảo đảm an toàn công trình thủy lợi; thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động thủy lợi; trách nhiệm quản lý nhà nước về thủy lợi.
Những chính sách lớn được thể chế hóa trong Luật Thủy lợi
Hoạt động thủy lợi có tính đan xen với các ngành kinh tế khác, có nhiệm vụ chính là tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh. Tuy nhiên, công trình thủy lợi là công trình phục vụ đa mục tiêu, ngoài cấp nước cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối còn kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý nguồn nước, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, thực hiện chiến lược phát triển thủy lợi Việt Nam theo hướng hiện đại hóa, tăng dần mức bảo đảm phục vụ cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ..., bảo đảm an ninh lương thực và phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hóa nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế-xã hội bền vững, xóa đói giảm nghèo; chủ động phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra, nâng cao mức bảo đảm tiêu thoát nước, chống úng ngập, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Luật đã thể chế các chính sách lớn gồm: Xã hội hóa công tác thủy lợi, thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực của tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động dịch vụ thủy lợi.
Chuyển từ cơ chế “thủy lợi phí” sang “giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi” để thay đổi nhận thức coi công tác thủy lợi mang tính phục vụ sang tính dịch vụ, đưa hoạt động thủy lợi tiếp cận với cơ chế thị trường, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ thủy lợi, coi việc chi trả dịch vụ thủy lợi là một chi phí đầu vào trong sản xuất, góp phần sử dụng hợp lý, hiệu quả dịch vụ, đặc biệt việc sử dụng nước tiết kiệm.
Thủy lợi phục vụ đa ngành, đa mục tiêu, góp phần phòng, chống giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, từng bước thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Công tác thủy lợi phải phát huy và kế thừa kinh nghiệm truyền thống, đúc rút các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, kết hợp kiến thức, công nghệ hiện đại và tăng cường hợp tác quốc tế.
Xã hội hóa trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi
Thời gian qua, nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng đưa vào khai thác phục vụ sản xuất, dân sinh. Tuy nhiên đến năm 2020 khi kết thúc kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020, nhu cầu đầu tư công trình thủy lợi lớn sẽ không còn nhiều nhưng nhu cầu đầu tư, hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng vẫn còn rất lớn.
Trước tình hình đó, Luật Thủy lợi quy định rõ nguyên tắc trong đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, trong đó, Nhà nước chỉ tập trung đầu tư các công trình thủy lợi quan trọng đặc biệt, thủy lợi lớn; công trình thủy lợi khó huy động các nguồn lực xã hội; công trình thủy lợi kết hợp phục vụ quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai; công trình thủy lợi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng bị ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu.
Nhằm tăng cường vai trò và trách nhiệm của người sử dụng nước, Luật đã quy định về trách nhiệm của người sử dụng nước trong việc đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng. Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ cho người sử dụng nước đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng tùy theo vùng miền và điều kiện kinh tế. Nhà nước khuyến khích đầu tư theo hình thức PPP đối với công trình thủy lợi có khả năng thu hồi vốn.
Chuyển từ phí sang giá
Luật Thủy lợi quy định chuyển phí sang giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Cơ chế giá quy định tại Luật là cơ sở pháp lý để thu đúng, thu đủ từ các dịch vụ thủy lợi phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thu cho ngân sách nhà nước để tập trung đầu tư xây dựng, sửa chữa, nâng cấp công trình thủy lợi cho khu vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, trong bối cảnh ngân sách nhà nước có hạn, nhu cầu đầu tư lớn, yêu cầu sử dụng nước ngày càng cao. Đồng thời, cơ chế giá sẽ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế tham gia hoạt động thủy lợi, tạo động lực cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tốt hơn và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.
Theo Tờ trình của Ban soạn thảo, thực hiện cơ chế giá sẽ làm thay đổi nhận thức của xác hội từ thủy lợi phục vụ sang dịch vụ; gắn trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ thủy lợi và bên sử dụng dịch vụ thủy lợi, hiểu rõ bản chất nước là hàng hóa, dịch vụ thủy lợi là chi phí đầu vào trong sản xuất từ đó nâng cao ý thức sử dụng tiết kiệm nguồn nước. Chính phủ quy định cụ thể nội dung này nhằm bảo đảm tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Đây được xem là điểm mới quan trọng tại Luật Thủy lợi lần này. Điều này không chỉ hướng tới cung cấp dịch vụ tốt hơn đồng thời gắn với việc quản lý chặt chẽ chất lượng nước, số lượng nước. Do đó việc bảo vệ, bảo đảm an toàn công trình thủy lợi và việc bảo đảm chất lượng nước trong công trình được quan tâm đặc biệt. Luật quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm chất lượng nước trong công trình đó.
Để chuẩn bị cho Luật Thủy lợi có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, năm 2018, Tổng cục Thủy lợi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao chủ trì soạn thảo 4 văn bản quy phạm pháp luật, gồm: 3 Nghị định và Thông tư. Đến nay, Bộ đã trình Chính phủ ban hành 2 Nghị định, 1 Thông tư; riêng “Nghị định về quản lý an toàn đập” hiện đang xin ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phạm vi điều chỉnh và hiệu lực thi hành
Theo Quốc hội


