/ Kết nối
/ Nên quy định hành vi cưỡng bức mại dâm thành một tội danh độc lập

Nên quy định hành vi cưỡng bức mại dâm thành một tội danh độc lập

30/08/2021 08:28 |

(LSVN) -Việc hợp pháp hóa mại dâm không những không gây ra hay làm trầm trọng thêm, mà sẽ làm giảm đáng kể những tác động tiêu cực do cấm đoán mại dâm như hạ thấp nhân cách phụ nữ, làm gia tăng nạn buôn người. Hơn nữa, “mại dâm, cùng với gá bạc, là hai nghề lâu đời nhất của nhân loại, thực tế trên thế giới đã chứng minh là không thể cấm đoán được.

Hành vi “cưỡng bức mại dâm” là một tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS). Nhìn về tổng quan thì BLHS năm 2015 có nhiều thay đổi về hình thức và nội dung so với các trước đây và cũng đã phát huy được sức mạnh trong hoạt động phòng và chống tội phạm. Tuy nhiên, đối với hành vi cưỡng bức mại dâm và các hành vi phạm tội có liên quan thì trong quy định của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 không có nhiều thay đổi. Điều đó đã tạo nên sự hạn chế của quy phạm này so với các quy định có liên quan trong BLHS năm 2015. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ đồng thời chỉ ra một số điểm hạn chế đó và đây cũng chính là các căn cứ lý giải nhìn từ góc độ quyền con người, cho đề xuất kiến nghị về việc nên quy định hành vi cưỡng bức mại dâm thành một tội danh riêng trong BLHS để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt nhằm phân hóa trách nhiệm hình sự đạt hiệu quả cao.

Tại sao cần quy định hành vi cưỡng bức mại dâm thành một tội danh độc lập?

Hành vi cưỡng bức mại dâm là hành vi liên quan đến việc thực hiện hành vi tình dục không xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của người hành nghề mại dâm, do đó cũng là hành vi chống lại quyền con người.

Hành vi cưỡng bức mại dâm “là hành vi rất nguy hiểm bởi có khá nhiều phụ nữ bị buộc phải hành nghề mãi dâm do bị cưỡng bức bằng bạo lực, thường xuyên bị hành hạ cả về thể chất lẫn tinh thần. Hành vi cưỡng bức đó, thực chất là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ. Người phụ nữ có quyền tự mình định đoạt vấn đề tình dục theo tình yêu và danh dự của mình, không ai có quyền cưỡng ép. Do đó, nên coi hành vi này là tội phạm riêng biệt - tội cưỡng bức mãi dâm đồng thời đưa vào cùng một chương các tội xâm phạm tình dục, với mức hình phạt nghiêm khắc”[1].

Như vậy, khách thể trực tiếp bị xâm hại của tội phạm trong trường hợp này là các quyền con người, cụ thể là quyền tự do tình dục và sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm cần được bảo vệ của người hành nghề mại dâm. Do đó, việc BLHS xếp hành vi cưỡng bức mại dâm vào nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng tại Mục 4 thuộc Chương XXI BLHS năm 2015 là biểu hiện của việc chưa đề cao sự cần thiết phải bảo vệ quyền của những người hoạt động mại dâm như mọi con người bình thường khác. Từ đó, làm giảm đi ý nghĩa và sức mạnh về tính bảo vệ của công cụ pháp luật hình sự. Điều này cũng đồng nghĩa với việc xem nhẹ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nên chế tài quy định áp dụng đối với tội phạm này cũng ở mức hạn chế. Đồng thời dẫn đến nhận thức của các nhà thi hành pháp luật trong việc áp dụng các quy định này là chỉ mới chú trọng trừng trị người phạm tội vì mục đích giữ trật tự công cộng chứ chưa thực thi vì mục đích bảo vệ quyền của người hành nghề mại dâm và sức khỏe của cộng đồng[2].

Liên quan đến việc đánh giá về tính chất quan trọng của khách thể bị xâm hại bởi hành vi cưỡng bức mại dâm, cũng cần đánh giá lại các quy định của pháp luật khác khi coi mại dâm như một tệ nạn xã hội trong thi hành pháp luật. Bởi vì, đây chính là nguyên nhân dẫn tới phân biệt đối xử và kỳ thị với những người hành nghề mại dâm và là rào cản ngăn những người hành nghề mại dâm tìm đến công lý để bảo vệ quyền lợi của mình khi có những người trục lợi trên sự lao động của họ. Mặc dù, đối với vấn đề hợp pháp hóa mại dâm ở Việt Nam còn có một số quan điểm không đồng tình, vì họ cho rằng điều này ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, phá hoại gia đình, hạ thấp nhân cách của phụ nữ và làm gia tăng nạn buôn người. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, nhận thức đó cần nên nhìn nhận lại và cần nhìn nhận vấn đề hợp pháp mại dâm trước hết ở góc độ bảo vệ quyền của những người hành nghề mại dâm và sự thuận lợi cho việc quản lý xã hội.

Việc hợp pháp hóa mại dâm không những không gây ra hay làm trầm trọng thêm, mà sẽ làm giảm đáng kể những tác động tiêu cực do cấm đoán mại dâm như hạ thấp nhân cách phụ nữ, làm gia tăng nạn buôn người. Hơn nữa, “mại dâm, cùng với gá bạc, là hai nghề lâu đời nhất của nhân loại, thực tế trên thế giới đã chứng minh là không thể cấm đoán được. Tình hình ở Việt Nam cho thấy, càng cấm, mại dâm càng phát triển và diễn biến phức tạp trong bóng tối, vì vậy càng tác động tiêu cực hơn đến thuần phong mỹ tục, quan hệ gia đình, sức khỏe cộng đồng, an ninh xã hội, gia tăng nạn buôn người và đặt những lao động tình dục vào vị thế đặc biệt dễ bị tổn thương (vì họ vừa bị coi thường về nhân phẩm, vừa bị bóc lột về kinh tế và bị chà đạp về thể chất).

Trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, hợp pháp hóa mại dâm, nhìn từ nhiều góc độ, chính là để góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội, bảo vệ cộng đồng, bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và các quyền con người của hàng trăm ngàn phụ nữ lao động tình dục mà nhiều người trong số đó đang sống và làm việc trong hoàn cảnh tồi tệ như những nô lệ hiện đại”[3].

Sự tồn tại của mại dâm là không thể thay đổi vì nó phục vụ nhu cầu tình dục của con người và cũng là một trong các giải pháp để hạn chế tình trạng cưỡng hiếp, bạo lực tình dục. “Nguyên nhân gốc rễ hay nói cách khác, lý do căn bản để mại dâm tồn tại liên quan chặt chẽ đến tình dục của con người. Vậy tình dục liên quan như thế nào đến mại dâm? Cách giải thích dễ dãi nhất nhưng lại rất phổ biến cho rằng sở dĩ mại dâm tồn tại và phát triển vì nó cần thiết để phục vụ nhu cầu tình dục của con người vốn là bản năng tự nhiên không thể dập tắt được chừng nào con người còn tồn tại. Theo đó thì nhân loại bắt buộc phải chung sống với mại dâm mãi mãi. Trong thực tế, không phải vì tình dục là bản năng tự nhiên của con người mà chính là bản chất xã hội của tình dục hay cách tổ chức xã hội của tình dục làm nảy sinh và duy trì mại dâm”[4].

Mối quan hệ giữa sự tồn tại tất yếu của mại dâm với việc thực hiện quyền tình dục được biểu hiện rõ hơn khi phân tích vai trò và sự cần thiết phải thực hiện quyền tình dục - thỏa mãn nhu cầu tình dục đối với con người. Hoạt động tình dục là một hoạt động bình thường của một con người có sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, điều này không chỉ được công bố trong các nghiên cứu khoa học mà còn được ghi nhận trong các hệ thống pháp luật và phán quyết của nhiều quốc gia, tòa án trên thế giới.

Liên quan đến nhận định này, để thấy rõ sự thuyết phục, chúng ta có thể tham khảo vụ án Xavier tại Pháp. Nội dung vụ án như sau: Xavier là kỹ thuật viên làm việc cho công ty xây dựng đường sắt ở thành phố Paris và được điều đi công tác vào tháng 02/2013. Trong chuyến đi, Xavier lên cơn đau tim và chết sau khi quan hệ tình dục với cô gái địa phương vừa gặp. Theo kết luận của chính quyền, công ty phải trợ cấp 80% lương tháng của Xavier cho gia đình nạn nhân cho tới năm Xavier được nghỉ hưu (tính theo lúc còn sống) cùng với một phần lương hưu. Do phản đối quyết định này, công ty đã khởi kiện lên tòa án. Trong bản án phúc thẩm của tòa án thành phố Paris công bố ngày 04/9, tòa án đồng tình với quyết định của chính quyền địa phương và đã bác bỏ yêu cầu khởi kiện của công ty với lý lẽ như sau “quan hệ tình dục cũng là hoạt động trong cuộc sống đời thường, cũng như tắm rửa hoặc ăn uống”[5].

Do đó, cần xác định nhận thức rằng những người hành nghề mại dâm là một sự cung cấp dịch vụ, là một phương thức để họ mưu cầu cuộc sống. Họ có quyền lựa chọn khách hàng để cung cấp dịch vụ, cần sự tôn trọng và bảo đảm giới hạn an toàn từ phía khách hàng. Vì thế họ cũng có quyền được lên tiếng để tố cáo sự xâm phạm đó. Việc cấm đoán triệt để mọi hình thức mại dâm là không căn cứ vào bản chất thực tế và cũng không khả thi. “Đã có nhiều bằng chứng cho thấy rằng ở nơi nào mà mại dâm bị đặt ra ngoài vòng pháp luật thì ở đó nó có thể đi vào bí mật, không thể kiểm soát được. Người hành nghề mại dâm bị phạt nhưng họ vẫn tiếp tục hành nghề. Họ thường xuyên bị bạo lực tình dục bởi khách hàng và những người căm ghét họ. Nạn nhân sẽ không dám tố cáo thủ phạm vì bản thân họ sẽ gặp rắc rối với cảnh sát, thậm chí có thể bị bắt và cảnh sát cũng không có động cơ để bảo vệ người hành nghề mại dâm. Ở những nơi mà mại dâm là bất hợp pháp thì người hành nghề mại dâm thường bị bóc lột thậm tệ bởi bọn chủ chứa và ma cô[6]”.

Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cưỡng bức mại dâm là rất cao và cần phải được mô tả lại cho phù hợp với quy định mới của BLHS năm 2015

Đặc điểm về hành vi khách quan của tội phạm "Cưỡng bức mại dâm" được quy định tại khoản 2 Điều 327 trong tội "Chứa mại dâm" và một số tội phạm khác có liên quan như tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329) từ trước đến nay chưa được nhà làm luật nhìn nhận và đánh giá một cách nghiêm túc về tính chất và mức độ nguy hiểm của nó trong mối quan hệ với sự cần thiết của việc bảo vệ quyền con người. Chính vì vậy, sự mô tả về đặc điểm của hành vi khách quan còn hạn chế.

Hành vi cưỡng bức mại dâm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 327 BLHS năm 2015. Mặc dù cùng được quy định tại một điều luật nhưng bản chất của hành vi khách quan tội chứa mại dâm hoàn toàn khác hành vi cưỡng bức mại dâm. Theo Điều 3 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003 thì: “Hành vi chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Hành vi khách quan của tội phạm này được hiểu là: “Cưỡng bức mại dâm là trường hợp ép buộc người khác phải bán dâm trái với ý muốn của họ”[7]. Các hình thức ép buộc để ép người hành nghề phải bán dâm là các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác buộc người đó phải thực hiện việc bán dâm.

Như vậy, mặc dù khác nhau về đặc điểm hành vi phạm tội, những để làm rõ hành vi khách quan của hành vi chứa mại dâm và hành vi cưỡng bức mại dâm thì hành vi mua dâm và bán dâm cũng cần được làm rõ. Tuy nhiên, trong BLHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn khác chưa mô tả rõ về hành vi này, trong khi điều này là cần thiết. Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, “bán dâm” là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; còn “mua dâm” được hiểu là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu. Từ quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh trên, có thể suy ra, hành vi cưỡng bức mại dâm được hiểu là người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác buộc người khác phải thực hiện việc giao cấu với người có nhu cầu mua dâm. Việc hiểu như thế này đã phù hợp với yêu cầu của thực tiễn tình hình xâm hại tình dục hiện nay hay chưa?

Thực tiễn cho thấy, người đồng tính có nhu cầu mua dâm hoặc người đồng tính bị ép phải bán dâm, nhưng họ chỉ có thể thực hiện được hành vi quan hệ tình dục khác mà không thể thực hiện hành vi giao cấu. Vậy giả sử nếu thực tế người bán dâm bị ép phải bán dâm bằng hành vi quan hệ tình dục khác và có thể bị thiệt hại về quyền tình dục, về tính mạng, sức khỏe, về thể chất, tinh thần thì BLHS không thể dựa vào quy định này để làm cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho người hoạt động mại dâm. Trong khi, những thiệt hại mà họ gánh chịu có thể còn lớn hơn những đối tượng tác động khác phải gánh chịu. Bên cạnh đó, việc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trong quá trình mua bán dâm khi người hoạt động mại dâm đang ở trạng thái bị cưỡng ép có nguy cơ gây ra những thiệt hại về thể chất lẫn tinh thần rất cao. Do đó, nếu BLHS quy định việc mua bán dâm chỉ là thực hiện hành vi giao cấu thì sẽ là chưa phản ánh hết được tính thực tiễn của tình hình tội phạm này.

Đề xuất, kiến nghị

Trên cơ sở các phân tích ở trên, chúng tôi nhận thấy rằng cần thiết phải xây dựng lại quy định về tội phạm cưỡng bức mại dâm trong BLHS năm 2015 cùng một số kiến nghị định hướng cụ thể sau đây:

Một là, cần đánh giá lại khách thể bị xâm hại của hành vi cưỡng bức mại dâm và một số quy định pháp luật khác liên quan đến hoạt động mại dâm. Hành vi cưỡng bức mại dâm cần được quy định riêng thành một tội danh độc lập và bố trí vị trí điều luật này vào cùng một nhóm với các tội xâm phạm tình dục thuộc Chương 14 - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Đây là cơ sở để đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tình dục đối với người hành nghề mại dâm để từ đó quy định chế tài áp dụng tương xứng với chủ thể thực hiện tội phạm. Sự ghi nhận này cũng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng về tính chất của vụ án xảy ra, của đối tượng được bảo vệ trong quá trình thực hiện công tác đấu tranh chống tội phạm.

Hai là, việc mô tả rõ hành vi khách quan của tội phạm trước hết thể hiện rõ nhận thức đầy đủ của nhà làm luật về các hình thức thể hiện của tội phạm, làm tăng thêm “tuổi thọ” của quy phạm hình sự. Đồng thời là cơ sở để phòng ngừa và trừng trị các hành vi phạm tội trong thực tiễn hiện tại và có thể phát sinh các dạng thể hiện mới trong tương lai. Do vậy, khi tiến hành quy định tách tội cưỡng bức mại dâm thành một tội phạm độc lập trong BLHS thì cũng cần mô tả rõ hành vi khách quan của tội phạm này trong quy phạm hoặc có văn bản hướng dẫn về hành vi bán dâm trong tội cưỡng bức mại dâm và các tội phạm có liên quan như tội mua dâm người dưới 18 tuổi - Điều 329. Cụ thể là quy định mở rộng phạm vi cách hiểu của hành vi bán dâm, bởi vì so với quy định của Pháp lệnh Phòng chống mại dâm 2003 là đang còn quá hẹp, chưa bao quát hết các trường hợp mua, bán dâm bằng các hình thức quan hệ tình dục khác - ngoài trường hợp giao cấu. Do đó, định nghĩa về hành vi khách quan của tội cưỡng bức mại dâm cần được xây dựng lại đầy đủ như sau: “Cưỡng bức mại dâm là trường hợp ép buộc người khác phải bán dâm trái với ý muốn của họ”, trong đó “bán dâm” là hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Tương tự như vậy, hành vi “mua dâm” sẽ được hiểu là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.

Ba là, việc xem mại dâm là sự tồn tại bất hợp pháp đã vô tình đẩy những người hoạt động mại dâm vào sự nguy hiểm, họ có thể bị xâm hại tình dục, bị bạo hành tình dục mà không thể lên tiếng để bảo vệ quyền lợi bị xâm hại của mình. Do đó, song song với quá trình hoàn thiện quy định về tội phạm này thì để đạt được sự thống nhất trong quy phạm pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống, Nhà nước cần cải cách luật pháp theo hướng hợp pháp hóa mại dâm, quy định công nhận và quy định về nghề mại dâm, sẽ là cơ sở để ghi nhận sự bảo vệ về quyền con người của những người hành nghề mại dâm là bình đẳng như tất cả mọi người trong xã hội, là cơ sở để pháp luật hình sự đánh giá và quy định chính xác khách thể bị gây thiệt hại và áp dụng biện pháp trừng phạt đối với những trường hợp cưỡng bức hoặc lạm dụng người hành nghề mại dâm. Quy định này sẽ tạo cơ sở công nhận quyền được tố cáo, được bảo vệ của người hành nghề mại dâm.

[1] Dương Tuyết Miên, “Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học 1998, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.49.

[2] Ông Lê Tấn Thanh Tùng, Phó Tổng giám đốc Công ty Du lịch Việt Nam (Vitours) tại Đà Nẵng cho rằng: cần thí điểm triển khai loại hình phố đèn đỏ có quản lý chặt chẽ, phải tư duy mở hơn về một số hoạt động lâu nay vẫn bị coi là nhạy cảm như mại dâm, cá cược, cờ bạc. Quy định hiện hành cấm nhưng thực tế các hoạt động này vẫn diễn ra lén lút dưới nhiều hình thức, phát sinh nhiều tiêu cực, rủi ro cho khách hàng và người phục vụ.Ông Tùng giải thích rõ hơn về đề xuất của mình rằng: Là một người làm du lịch, tôi hiểu rõ nhu cầu thực tế của khách nước ngoài. Trong dịch Covid-19 vừa qua, có 2 du khách bị dương tính với Covid-19 khi truy tìm lại, họ đã có nhu cầu và đã sử dụng dịch vụ mại dâm có tổ chức. Như vậy, nếu không công khai thì làm sao quản lý được? xem https://thanhnien.vn/du-lich/thuc-hu-de-xuat-mo-pho-den-do-o-da-nang-de-kich-cau-du-lich-1254302.html, truy cập ngày 03/01/2021.

[3] Vũ Công Giao, Pháp luật về quyền tình dục trên thế giới và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam, xem tài liệu trích dẫn footnote số 30, tr 17, nguồn Website: http://hr.law.vnu.edu.vn/sites/default/files/resources/quyen_ve_tinh_duc_trong_phap_luat_quoc_te_va_quoc_gia_-_vu_cong_giao.pdf, truy cập ngày 25/9/2017.

[4] Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, “Tình dục và mại dâm: Quan điểm về ứng xử đối với mại dâm”,  Tham luận tại Hội nghị Tổng kết Ủy ban quốc gia Phòng chống AIDS, mại dâm và ma túy Hải Phòng, 01/2010, tr.1

[5] Pháp công nhận chết sau quan hệ tình dục là tai nạn lao động, nguồn https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/quoc-te/25212/phap-cong-nhan-chet-sau-quan-he-tinh-duc-la-tai-nan-lao-dong, truy cập ngày 12/9/2019.

[6] Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội, tlđd, tr 8.

[7] TS Đỗ Đức Hồng Hà, “Tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm: Lý luận và thực tiễn”, nguồn https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/86, truy cập ngày 29/3/2021.

 
ThS NGUYỄN HUYỀN LY

Giảng viên Trường Đại học Luật Huế

Thủ đoạn gian dối trong cấu thành tội 'Lừa đảo chiếm đoạt tài sản' và tội 'Cướp giật tài sản'

Hoàn thiện thể chế Luật sư trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

(LSVN) - Dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong lĩnh vực tư pháp, dân chủ hóa phải được thể hiện trước hết qua sự công bằng, nghiêm minh và hợp pháp của tất cả các hoạt động của các cơ quan tư pháp. Một trong những công cụ quan trọng giúp người dân thực hiện công bằng trong quá trình tố tụng tư pháp là thông qua sự giúp đỡ pháp lý của Luật sư. Vai trò của Luật sư không chỉ trong tố tụng tư pháp mà trong công việc tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ về mặt pháp luật cho công dân thực hiện đầy đủ quyền của mình trong mọi mặt đời sống xã hội, đồng thời giáo dục họ ý thức tuân thủ pháp luật. Với ý nghĩa như vậy, Luật sư thực sự là những người đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong quá trình xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở Việt Nam.

 

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bình đẳng, công bằng trong hoạt động tư pháp cần được tôn trọng hơn bao giờ hết. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động tư pháp, Nhà nước ta đã từng bước thể chế hoá các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trong nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật Luật sư…

Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật, cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, tổ chức bổ trợ tư pháp trong những năm qua, đặc biệt với việc ban hành Luật Luật sư năm 2006, Nhà nước đã thể chế hóa tổ chức và hoạt động của Luật sư với tư cách là một nghề  đặc thù trong xã hội, góp phần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của đội ngũ Luật sư và hoạt động nghề nghiệp của họ.

Nghề Luật sư ngày càng phát triển và trở thành nghề tự do được các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định. Lịch sử nghề Luật sư ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị ở nước đó. Hoạt động Luật sư trong cơ chế thị trường được coi là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp, được điều chỉnh bằng luật về hành nghề Luật sư và luật về kinh doanh. Tuy nhiên, giữa các nước theo hệ thống tập quán và các nước theo hệ thống luật thành văn có những điểm khác nhau trong quan niệm về Luật sư.

Trên thế giới, nghề Luật sư được tổ chức theo nhiều hình thức và rất đa dạng. Sự đa dạng này xuất phát từ đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ cũng như hệ thống pháp luật của mỗi nước. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về nghề Luật sư nhưng đều có chung một điểm cho rằng, Luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần bảo đảm công lý. Nghề Luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của Luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề Luật sư.

Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà có sự nhận thức khác nhau về vai trò, vị trí của Luật sư. Nghề Luật sư và vai trò của Luật sư luôn có sự thay đổi và phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế khách quan của mỗi xã hội.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhiệm vụ của Luật sư là góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội[1] bằng việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu biết và thi hành đúng pháp luật, phục vụ công lý, bảo vệ những quyền của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định.

Trong cuộc sống hàng ngày công dân thường có nhiều mối quan hệ với nhau và với cơ quan, tổ chức. Những mối quan hệ này nhiều khi phát sinh những mâu thuẫn, động chạm đến quyền lợi của mỗi bên. Đặc biệt là những vấn đề phải giải quyết bằng con đường tòa án mà ở đây những quyền cơ bản của công dân dễ bị đụng chạm nhất. Thường công dân bị hạn chế bởi trình độ văn hóa, sự hiểu biết pháp luật nên khó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện. Tổ chức Luật sư được thành lập để giúp cho công dân về mặt pháp lý. Luật sư là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật, là người giúp cho công dân về mặt pháp luật có hiệu quả nhất khi có những vụ việc xảy ra liên quan đến pháp luật, nhất là những vụ việc ở tòa án.

Vai trò của Luật sư trong việc bào chữa cho người bị buộc tội, bảo vệ quyền lợi của các đương sự trước tòa án không phải lúc nào và ở nơi nào cũng được thừa nhận. Trong thực tế xã hội vẫn còn có tư tưởng hạ thấp vai trò của Luật sư và cho rằng Luật sư sẽ gây khó khăn cho việc chống tội phạm, giúp cho kẻ phạm tội trốn tránh trách nhiệm, gây khó khăn trong việc phát hiện tội phạm, bảo đảm bí mật điều tra, bảo quản chứng cứ... Ngược lại, có tư tưởng cho rằng tội phạm đã rõ ràng thì Luật sư không thể bào chữa cho kẻ phạm tội hoặc Luật sư là “người giúp việc” cho cơ quan tiến hành tố tụng. Quan niệm như vậy đối với Luật sư là trái với quy định của pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Sự tham gia của Luật sư trong vụ án hình sự không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ của tố tụng hình sự mà còn nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử và tăng cường pháp chế trong tố tụng hình sự. Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong vụ án hình sự không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai sót trong việc xử lý vụ án. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện hợp pháp - Luật sư thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của Luật sư trong tố tụng nói riêng và trong xã hội nói chung.

Bên cạnh hoạt động tranh tụng, Luật sư còn nhận làm tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức bằng hình thức ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Luật sư thực hiện tư vấn trong nhiều lĩnh vực pháp luật, soạn thảo các văn bản như di chúc, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán bất động sản, soạn thảo giấy tờ pháp lý của công ty... Lĩnh vực hoạt động soạn thảo văn bản có liên quan đến pháp luật là một lĩnh vực hoạt động quan trọng trong hoạt động tư vấn pháp luật của Luật sư. Luật sư còn hướng dẫn khách hàng về những vấn đề có liên quan đến pháp luật, quyền của họ được pháp luật quy định và cách xử sự theo đúng pháp luật. Việc tư vấn pháp luật cho khách hàng của Luật sư góp phần không nhỏ trong việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội, ngăn chặn được những hành vi vi phạm pháp luật, giảm bớt phiền hà cho cơ quan nhà nước khi người dân thiếu hiểu biết pháp luật đi khiếu nại không đúng cơ quan có thẩm quyền.

Là người hiểu biết pháp luật, thông qua việc hành nghề, Luật sư phải trau dồi kiến thức và sử dụng kiến thức đó để tăng cường giáo dục và phát triển hệ thống pháp luật.

Luật sư đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội. Luật sư với tư cách là người có kiến thức sâu rộng về pháp luật, có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tham gia tích cực trong việc bảo vệ pháp quyền, cần phải khẳng định mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh[2].

Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước luôn là nhiệm vụ trung tâm trong việc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta trong thời gian qua. Trong 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về hoàn thiện bộ máy Nhà nước, không ngừng nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ chiến lược với phương châm Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Cùng với việc cải cách bộ máy Nhà nước và cải cách nền hành chính, nhiều nghị quyết của Đảng đã đề ra cải cách tư pháp. Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Mục tiêu của cải cách tư pháp là xây dựng một hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh có phương thức tổ chức, hoạt động khoa học, hiện đại góp phần quan trọng vào việc giữ gìn trật tự kỷ cương phép nước. Nội dung chủ yếu của cải cách tư pháp là củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền của tòa án, đổi mới tổ chức và hoạt động của viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp, trong đó có tổ chức Luật sư. Hoàn thiện thể chế Luật sư là một trong những nội dung của cải cách tư pháp và có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp. Hoàn thiện thể chế Luật sư phải được đặt trong bối cảnh cải cách tư pháp nói riêng và trong tổng thể cải cách bộ máy nhà nước nói chung.

Nghiên cứu các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp cho thấy, trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng ta rất chú trọng đến cải cách tổ chức và hoạt động Luật sư. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: Đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động Luật sư… phù hợp với chủ trương xã hội hóa, kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp. Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư có phẩm chất, đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy vai trò của họ trong tư vấn pháp luật và trong tố tụng.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã đặc biệt quan tâm đến vai trò của Luật sư và đặt nhiệm vụ cho cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm hoạt động của Luật sư trong tố tụng. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: Đào tạo, phát triển đội ngũ Luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để Luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với Luật sư. Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức Luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức Luật sư đối với thành viên của mình. Các văn kiện của Đảng ta, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra những định hướng rất quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động Luật sư cho phù hợp với tình hình mới của đất nước trước xu hướng phát triển và hội nhập.

Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động Luật sư nêu rõ: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư; chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra để bảo đảm hoạt động của Luật sư được thực hiện theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật của Luật sư, tổ chức hành nghề Luật sư, đồng thời phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư trong việc phát triển đội ngũ Luật sư và nâng cao chất lượng của tổ chức và hoạt động Luật sư.

Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư đã chỉ rõ yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế về Luật sư và hành nghề Luật sư, tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về Luật sư bảo đảm đồng bộ, thống nhất. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư. Đề cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động Luật sư. Phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư. Tổ chức Luật sư thực hiện tự quản theo quy định của pháp luật, dưới sự quản lý của Nhà nước.

Để đưa được các quan điểm chỉ đạo đó trở thành hiện thực đòi hỏi chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản, trong đó phải kể đến các biện pháp về đổi mới nhận thức, đổi mới về công tác tổ chức, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sư. Việc thực hiện các biện pháp đó phải gắn liền với mục tiêu của cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong nhà nước pháp quyền thì các nguyên tắc về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, bình đẳng, công bằng trong hoạt động tư pháp cần được tôn trọng hơn bao giờ hết. Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng lực, hiệu quả, hiệu lực của hoạt động tư pháp, Nhà nước ta đã từng bước thể chế hóa các quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp. Quan điểm mang tính định hướng là cải cách tư pháp phải nằm trong chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Tổ chức Luật sư không thể thiếu được trong Nhà nước pháp quyền bởi vì hoạt động của Luật sư không chỉ hỗ trợ, bổ trợ cho hoạt động tư pháp mà còn góp phần bảo đảm cho các quyền của công dân được thực hiện trong thực tế. Người hành nghề Luật sư phải là người có năng lực và độc lập trong hành nghề, họ cung cấp các dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức và chịu trách nhiệm về các dịch vụ này.

Từ góc độ nhà nước, hoạt động Luật sư không nằm trong hoạt động quyền lực nhà nước, không phải là hoạt động tư pháp nhưng nó có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp, có liên quan đến hoạt động thực thi quyền tư pháp. Hoạt động Luật sư gắn liền với mục đích hỗ trợ, bổ trợ cho hoạt động xét xử của tòa án, góp phần làm cho việc xét xử khách quan, chính xác và đúng pháp luật.

Xét từ góc độ xã hội, hoạt động Luật sư là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thông qua việc tư vấn pháp luật, bào chữa, đại diện trước tòa án, xác lập và cung cấp các chứng cứ nhằm giúp cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng, khách quan.

Như vậy, hoạt động Luật sư vừa có chức năng bổ trợ tư pháp, hỗ trợ cho việc thực thi quyền tư pháp, lại vừa có chức năng giúp đỡ, hỗ trợ cho công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hai chức năng này của Luật sư không những không đối lập nhau mà còn có quan hệ khăng khít với nhau và rất cần thiết cho việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền.

Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động Luật sư là nhằm phát triển đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, phát huy vai trò của Luật sư trong hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử.

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện một số bước quan trọng về cải cách tư pháp. Tổ chức, bộ máy của các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, thi hành án và bổ trợ tư pháp đã có nhiều điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của đất nước. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức tư pháp, bổ trợ tư pháp đã được xác định rõ ràng hơn. Hoạt động bổ trợ tư pháp, trong đó có Luật sư ngày càng phát triển, góp phần hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tư pháp và nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân, hỗ trợ có hiệu quả cho công dân trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Trong Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 của Ban bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động Luật sư đã cho thấy, sau hơn 10 năm thực hiện Chỉ thị 33, thể chế về Luật sư và hành nghề Luật sư được hoàn thiện bước đầu. Quản lý nhà nước đối với tổ chức và hành nghề Luật sư được tăng cường. Vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư được quan tâm hơn. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước, hoạt động tự quản, kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Luật sư còn hạn chế; thể chế về Luật sư và hành nghề Luật sư còn một số nội dung chưa đồng bộ, thiếu cụ thể. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế về Luật sư và hành nghề Luật sư, tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về Luật sư bảo đảm đồng bộ, thống nhất nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Đề cao trách nhiệm của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động Luật sư. Phát huy trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư thực hiện tự quản theo quy định của pháp luật, dưới sự quản lý của Nhà nước.

Vì vậy, thể chế Luật sư cần tiếp tục hoàn thiện theo những định hướng cơ bản sau đây:

- Cần khẳng định Luật sư là một nghề trong xã hội và tổ chức, hoạt động Luật sư cần được xây dựng trên những nguyên tắc là một nghề chuyên nghiệp, nghề tự do;

- Cần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để phát triển đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu về Luật sư tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện cho cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng như hỗ trợ cho hoạt động xét xử;

- Từng bước chuẩn hóa các tiêu chuẩn Luật sư phù hợp với các yêu cầu, điều kiện cụ thể của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng phải bảo đảm đáp ứng các chuẩn mực về mặt chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với điều kiện hành nghề của Luật sư trong khu vực và trên thế giới;

- Đề cao trách nhiệm cá nhân của Luật sư, nâng cao vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về Luật sư và hành nghề Luật sư; phân biệt rõ quản lý nhà nước về Luật sư và hành nghề Luật sư với tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư;

- Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản điều chỉnh về Luật sư và hành nghề Luật sư, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho nghề Luật sư Việt Nam phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế.

[1] Điều 3 Luật Luật sư năm 2006 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012).

[2] TS Nguyễn Văn Tuân, Pháp luật về Luật sư và đạo đức nghề nghiệp Luật sư, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr. 236 - 239.

TS NGUYÊN VĂN TUÂN

Bộ Y tế yêu cầu thực hiện nghiêm công tác tiêm chủng vaccine Covid-19

Hướng dẫn mới quy trình tổ chức vận tải đường sắt mùa dịch

(LSVN) - Ngày 30/8, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành hướng dẫn tạm thời về tổ chức giao thông, kiểm soát dịch đối với hoạt động vận tải bằng phương tiện giao thông đường sắt trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19.

 

Theo đó, ngoài các yêu cầu bắt buộc về thực hiện 5K đối với nhân viên đường sắt, hành khách trên tàu dưới ga, Bộ Giao thông Vận tải cũng quy định, chỉ mở bán 50% số chỗ trên các toa xe ghế ngồi, giường nằm để đảm bảo hành khách ngồi, nằm giãn cách nhau một hàng ghế hoặc đảm bảo khoảng cách 1m.

Với nhóm hành khách là thành viên trong cùng một gia đình, có thể không áp dụng quy định về giãn cách trong toa xe.

Đối với nhân viên bán vé phải yêu cầu hành khách đến mua vé cung cấp đầy đủ các thông tin cá nhân của người đi tàu bao gồm: Họ và tên, số chứng minh thư nhân dân (căn cước công dân hoặc hộ chiếu), số điện thoại và nhập lên hệ thống bán vé điện tử. Khi mua vé online qua các website: dsvn.vn; vetauonline.vn; vetau.com.vn và qua các ứng dụng Momo, VNpay, Viettelpay, Vimo, hành khách phải cung cấp đầy đủ các thông tin cá nhân như mua tại cửa vé.

Doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt bán vé phải thông báo trước cho địa phương nơi khách đến mác tàu, giờ tàu đến và danh sách hành khách xuống ga để chuẩn bị phương án đón hành khách và phòng, chống dịch theo quy định.

Tại ga hành khách lên tàu, các đơn vị phải kiểm tra, hướng dẫn hành khách thực hiện việc khai báo y tế bắt buộc, đảm bảo toàn bộ hành khách phải được khai báo y tế trước khi lên tàu (trừ trường hợp hành khách đến ga sát giờ tàu chạy sẽ thực hiện việc khai báo y tế trên tàu).

Hướng dẫn cũng nêu rõ cần kiểm tra thân nhiệt, giấy xét nghiệm của tất cả hành khách trước khi vào ga, lên tàu. Trường hợp phát hiện hành khách có các biểu hiện ho, sốt, khó thở phải kịp thông báo cho cơ quan y tế địa phương hoặc hotline của Bộ Y tế 1900 9095 để thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo quy định.

Trên tàu, nhân viên đường sắt phải kiểm tra, hỗ trợ hành khách thực hiện việc khai báo y tế bắt buộc đối với những người chưa kịp khai báo y tế dưới ga; bổ sung thông tin cá nhân của hành khách chưa có hoặc còn thiếu thông tin cá nhân.

Hướng dẫn nêu rõ các nội dung cần thực hiện trong trường hợp hành khách đi tàu có dấu hiệu sốt cao, ho, tức ngực, mệt mỏi... nghi nhiễm Covid-19. Cụ thể, bố trí khu vực riêng cho hành khách nghi nhiễm, tạm thời cách ly trên tàu, đồng thời di chuyển bớt hành khách sang các toa lân cận gần nhất, nhằm hạn chế tiếp xúc nhiều với người nghi nhiễm Covid-19.

Nhân viên phụ trách toa xe khi tiếp xúc với hành khách nghi nhiễm Covid-19 cũng cần được cách ly ngay, không bố trí phục vụ hành khách. Khi tàu về ga cuối cùng, trường hợp có thông báo kết quả xét nghiệm dương tính của hành khách thì nhân viên cách ly theo quy định.

Bộ Giao thông vận tải cũng yêu cầu, tại các ga tàu có tác nghiệp đón trả khách, doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt bàn giao số lượng hành khách, danh sách hành khách xuống tàu với cơ quan được chính quyền địa phương ủy quyền để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

Đáng chú ý tại hướng dẫn này, Bộ Giao thông vận tải yêu cầu, hành khách đi hoặc đến địa phương đang áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg phải có xác nhận đồng ý cho phép đi của địa phương nơi đang cư trú; xác nhận đồng ý tiếp nhận của địa phương nơi đến.

Hành khách lên tàu phải có giấy xét nghiệm theo quy định, thực hiện nguyên tắc 5K trong suốt hành trình. Trường hợp có biểu hiện ho, sốt, khó thở phải báo ngay cho nhân viên phục vụ trên tàu để thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo quy định.

Đối với vận tải hàng hóa, hướng dẫn của Bộ Giao thông Vvận tải yêu cầu tại ga xếp - dỡ, doanh nghiệp kinh doanh vận tải đường sắt đăng ký điểm kiểm soát dịch tại các địa điểm giao dịch vận chuyển hàng hóa trên hệ thống thông tin quản lý khai báo y tế tại website http://tokhaiyte.vn, in mã QR code từ hệ thống; Yêu cầu khách hàng khai báo y tế trên ứng dụng Bluezone hoặc Ncovy để khách hàng quét mã QR code tại điểm kiểm soát dịch khi đến làm việc.

Nhân viên đường sắt và công nhân bốc xếp tại các ga thuộc địa phương áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg, khi đến nơi làm việc phải có giấy xét nghiệm theo quy định. Sau khi dỡ hàng hóa xong phải khử khuẩn toa xe hàng nếu thấy cần thiết, để đảm bảo nguyên tắc phòng chống dịch.

Bộ Giao thông vận tải cũng quy định cụ thể việc phòng dịch trong suốt hành trình chạy tàu dọc đường. Tại các ga tàu dừng, đỗ tác nghiệp kỹ thuật, trưởng tàu hàng, lái tàu, phụ lái tàu và các nhân viên làm việc trên tàu hàng chỉ được tiếp xúc với nhân viên liên quan khi thực hiện nhiệm vụ, không vào ga khi không cần thiết. Mọi giao nhận thực hiện ngoài hiện trường và khi giao nhận phải thực hiện nghiêm nguyên tắc 5K của Bộ Y tế.

Tại ga cuối hành trình, trưởng tàu hàng, lái tàu, phụ lái tàu và các nhân viên làm việc trên tàu hàng sau khi giao nhận vận đơn, giấy tờ liên quan với các đơn vị phải về ngay nhà lưu trú, không tiếp xúc với người lạ và đi ra ngoài khu vực ga.

DUY ANH

Chuyên viên bị bắt vì cấp trái phép thẻ luồng xanh: Tội 'Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ' hay tội 'Nhận hối lộ'?

TP. Hồ Chí Minh đề xuất bổ sung thêm 9.247 tỉ đồng hỗ trợ cho người dân

(LSVN) - Sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh vừa đề xuất bổ sung đối tượng hưởng chính sách hỗ trợ gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Tổng kinh phí dự kiến hơn 9.247 tỉ đồng từ ngân sách TP. Hồ Chí Minh.

 

Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, Nghị quyết 09/2021/NQ-HĐND đã có hai gói hỗ trợ người dân ảnh hưởng bởi Covid-19 trong tháng 6, tuy nhiên đến nay, dịch vẫn tiếp diễn, Thành phố áp dụng Chỉ thị 16 và nhiều biện pháp siết chặt giãn cách xã hội nên số người dân gặp khó khăn tăng lên. Do đó, nghị quyết này cần điều chỉnh theo hướng mở rộng nhóm được giúp đỡ và kéo dài thời gian hỗ trợ đến cuối năm 2021.

Theo đó, Sở đã đề xuất bổ sung hơn 1.660 tỉ đồng để hỗ trợ hơn 1,1 triệu lao động tự do, mỗi người sẽ nhận được 1,5 triệu đồng.

Ngoài ra, Sở cũng đề xuất bổ sung hơn 7.210 tỉ đồng để chi cho gần 1,6 triệu hộ (khoảng 4,5 triệu người) lao động khó khăn sống trong nhà trọ, lưu trú, xóm nghèo, khu vực bị phong tỏa và 300.000 lao động làm thuê theo thời vụ, mỗi người nhận được 1,5 triệu đồng; hỗ trợ cho gần 54.000 hộ nghèo, cận nghèo, mỗi hộ nhận 1,5 triệu đồng với tổng kinh phí gần 81 tỉ đồng.

Ngoài ra, Sở cũng kiến nghị hỗ trợ gần 39.000 người có công với cách mạng, người hưởng trợ cấp hàng tháng; hơn 157.000 người thuộc nhóm bảo trợ xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sống ở cộng đồng, các mái ấm... Mỗi trường hợp nhận 1,5 triệu đồng với tổng kinh phí 294 tỉ đồng.

Theo Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP. Hồ Chí Minh, kinh phí chi cho các nhóm hỗ trợ này được đề xuất từ ngân sách, trong đó có nguồn cải cách tiền lương.

Trong đợt dịch lần thứ tư, ngoài gói 26.000 tỉ đồng do Nhà nước hỗ trợ đang được áp dụng toàn quốc, TP Hồ Chí Minh cũng đang triển khai hai gói hỗ trợ riêng với tổng trị giá gần 1.800 tỉ đồng và vừa bổ sung hơn 2.500 tỉ đồng. Tính đến nay, có khoảng 1.840 tỉ đồng đã được giải ngân để chi hỗ trợ cho người dân có hoàn cảnh khó khăn vì dịch bệnh. 

Mới đây, TP. Hồ Chí Minh cũng đã kiến nghị Chính phủ hỗ trợ gần 28.000 tỉ đồng và 142.200 tấn gạo nhằm giúp đỡ 1,5 triệu hộ dân với hơn 4,7 triệu người đang gặp khó khăn vì dịch bệnh. 

MINH HIỀN

 

Làm rõ hơn vai trò, trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai

Sở GTVT TP. HCM dừng cấp giấy nhận diện cho xe chở hàng

(LSVN) - Sở Giao thông vận tải (GTVT) dừng tiếp nhận, cấp Giấy nhận diện có mã QR cho phương tiện vận tải hàng hóa, vận chuyển công nhân, chuyên gia, thông qua các đơn vị đầu mối. Đối với các phương tiện vận chuyển công nhân, chuyên gia, căn cứ mục 3 hướng dẫn kèm Công văn số 3323 của Công an thành phố để triển khai thực hiện.

Sở GTVT TP.HCM vừa có văn bản khẩn hướng dẫn đăng ký nhận giấy nhận diện phương tiện có mã QR.

Theo đó, các đơn vị, chủ phương tiện vận tải hàng hóa  thực hiện việc đăng ký, sử dụng Giấy nhận diện có mã QR thông qua địa chỉ https://vantai.drvn.gov.vn, theo quy định tại Công văn số 6102 của Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

Việc đăng ký để nhận Giấy nhận diện này được thực hiện tự động, các Sở GTVT không phê duyệt như trước đây.

Đặc biệt, Sở GTVT dừng tiếp nhận, cấp Giấy nhận diện có mã QR cho phương tiện vận tải hàng hóa, vận chuyển công nhân, chuyên gia, thông qua các đơn vị đầu mối.

Đối với các phương tiện vận chuyển công nhân, chuyên gia, căn cứ mục 3 hướng dẫn kèm Công văn số 3323 của Công an thành phố để triển khai thực hiện. Cụ thể, xe chở nhân viên cơ quan, doanh nghiệp không được cấp mã QR phải có 1 người ngồi trên xe có Giấy đi đường theo quy định. Người ngồi trên xe phải có giấy tờ chứng minh cùng cơ quan, công ty, doanh nghiệp,...

Người điều khiển phương tiện và người đi cùng trên phương tiện phải thực hiện khai báo y tế qua địa chỉ website https://suckhoe.dancuquocgia.gov.vn trước khi tham gia giao thông để phòng ngừa ùn tắc giao thông, góp phần phòng chống dịch Covid-19 có hiệu quả.

Trường hợp cần thêm thông tin chi tiết hoặc gặp khó khăn vướng mắc, Sở GTVT TP.HCM đề nghị liên hệ ông Nguyễn Kiên Giang, số điện thoại: 0988.205.533 hoặc hộp thư điện tử sgtvt@tphcm.gov.vn.

PHƯƠNG HOA

Thành lập Hội đồng thẩm định Quy hoạch sử dụng đất quốc gia
 

Admin