/ Kết nối
/ Người du kích trong Đoàn quân Tây tiến được gặp Bác Hồ

Người du kích trong Đoàn quân Tây tiến được gặp Bác Hồ

05/01/2021 17:54 |

LSVNO - Cụ Lương Văn Pém vinh dự được về Hà Nội dự Đại hội “Bảo vệ trị an toàn miền Bắc năm 1963 – 1964”. Tại Hội nghị đặc biệt này, cụ Pém được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí cán bộ lãn...

LSVNO - Cụ Lương Văn Pém vinh dự được về Hà Nội dự Đại hội “Bảo vệ trị an toàn miền Bắc năm 1963 – 1964”. Tại Hội nghị đặc biệt này, cụ Pém được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng. Được nghe Bác Hồ nói chuyện, cụ Pém “phấn khởi vô kể!”

Ký ức “Mường Lát hoa về…”!

Cụ Lương Văn Pém là người dân tộc Thái. Vào dịp xuân Quý Tỵ, tôi được trò chuyện với cụ Pém lúc mà cụ vừa bước sang tuổi 84 và tròn 62 năm tuổi Đảng. Cụ vẫn minh mẫn, da dẻ rất hồng hào. Trời lạnh. Dưới chân cầu thang của căn nhà sàn, cụ Pém - mặc áo thun hơi cũ nhưng còn nhìn thấy rõ dòng chữ Lào in trên ngực áo - pha trà ngồi trò chuyện với chúng tôi rất chân tình, cởi mở.

Từ ký ức của cụ, cảnh trời “Mường Lát hoa về trong đêm hơi” thuộc thời kỳ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền thượng du phía Tây xứ Thanh lần lượt được tái hiện… 

Cụ Lương Văn Pém.

Theo hướng tay cụ Pém, trước căn nhà sàn nhìn ra phía Tây Nam là núi Pom Chun Khún cao lừng lửng. Chân núi có dòng suối Xim, nước vắt ngang uốn lượn theo các thung lũng chảy từ bên Lào sang. Xưa kia, trên núi cây Lim, cây Lát to hai, ba người ôm, ken đặc thành mênh mông rừng. Hổ nhiều vô kể. Có đêm nó đói ăn, hổ gầm rú xông cả đàn vào bản vồ lợn, bò của đồng bào. Trai tráng bản Xim phải đốt đuốc, gõ mõ thâu đêm xua đuổi bầy động vật hoang dã này trở lại rừng.

Dưới chân núi Pom Chun Khún là ruộng bậc thang Nà Tá Trang. Đất màu mỡ, phì nhiêu nên cây lúa nếp nương ưng cái ruộng này lắm. Mùa về, chim sáo đậu lên sừng trâu mang theo hương nếp thơm lừng về bản. Vui mắt và cái mũi của đồng bào dân tộc Thái ở bản Xim cũng rất thích cái hương vị này ! 

Ngày đó, Trung đoàn Tây tiến bí mật về Mường Lát. Năm 1947, Lương Văn Pém mới 17 tuổi, khỏe như con trâu mộng, nhanh như con sóc, thạo đường rừng như con dê núi. Thanh niên Pém tham gia Đội du kích Quang Chiểu từ cuối năm 1946, thường ngày vẫn dẫn bộ đội lội ven theo suối Xim sang Mường Chanh, rồi sang Lào; từ Xốp Hào, Xiềng Khộp, Hủa Phăn lại xuyên rừng men theo suối Lóng tìm đường cho bộ đội về Chiềng Nưa, bản Lát, Sài Khao, Trung Lý để mật phục tiêu diệt các tên lính Pháp thuộc đồn bốt của Thổ ty thực dân Pháp đóng rải rác trên miền biên giới phía Tây xứ Thanh.

Học Quốc ngữ để phục vụ công tác giao liên

Khi gặp được bộ đội Tây tiến, thanh niên Pém lúc đó chưa biết chữ Quốc ngữ nhưng cũng năng nổ tình nguyện làm giao liên cho bộ đội. Ban ngày, Thổ ty thực dân Pháp đóng ở bản Tam Chung cho lính vác súng đi càn, lùng sục các bản cướp gạo ngô, lợn gà của dân, bắt gái đẹp của người Thái, giết du kích và truy quét bộ đội. Bộ đội Tây tiến phải liên tục di chuyển bí mật trong rừng về hậu cứ làm công tác dân vận, tập hợp lực lượng. Thanh niên Pém lúc đó như một “sợi dây liên lạc” truyền khẩu tin tức đến cán bộ ở các lán trại bí mật trong các cánh rừng nguyên sinh của Mường Lát.

Tại các lán trại, đêm đến thanh niên thiểu số Lương Văn Pém được bồi dưỡng văn hóa. Các anh Lê Nông, Văn Doãn, anh Bé, anh Giới cùng một số bộ đội Tây tiến khác thường xuyên dạy chữ Quốc ngữ cho thanh niên Pém và các đồng chí du kích dùng bút chì tập viết vào từng miếng gỗ.

Cụ Pém bảo, viết xong lại mài miếng gỗ thật nhẵn rồi viết lại. Cách học như thế và vừa làm giao liên vừa học hơn hai tháng, cụ Pém khi đó bắt đầu viết thạo chữ Quốc ngữ. Nhờ vậy, việc đọc thông văn bản đã giúp cho nhiệm vụ giao liên công văn, thư từ mật vụ của Lương Văn Pém cùng với những đồng chí giao liên khác từ Trung đoàn 52 đến các đơn vị bộ đội đóng quân trên miền Tây biên giới Việt - Lào trải dài từ Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An, đều được giữ bí mật đến đúng cán bộ, đúng địa chỉ một cách an toàn, không bị địch phát hiện...

Lưu giữ thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Câu chuyện dưới căn nhà sàn đang tan vào hương khói của ly trà xuân, chợt cụ Pém như nhớ ra điều gì quan trọng về “Đội quân Tây tiến” mà cụ đang lưu giữ, rồi nó nhỏ: “Các cháu uống trà, chờ cụ lên nhà ít phút”. Lúc xuống, cụ Pém cầm tập tài liệu mà nguồn các văn bản này đã được chắt lọc in thành tập sách “Tây tiến” đưa cho tôi đọc, rồi tiếp tục trò chuyện. Cụ Pém chỉ vào bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho tôi xem, nói: “Trước khi Trung đoàn Tây tiến (E52) được thành lập ngày 27/02/1947, thì vào ngày 01/02/1947, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Quốc phòng đã gửi thư động viên các chiến sĩ trong Bộ đội Tây tiến”

Nhìn ra dãy núi Pom Chun Khún, một trong những nơi chiến trường xưa của Đoàn quân Tây tiến.

Trong thư, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được vùng đó, không những quân địch ở vào cái thế “cứ cao lâm hạ” có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện cái âm mưu ác độc “dĩ Việt chế Việt” chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiểu số để tiến đánh chúng ta…

Ở miền Bắc Việt Nam thực dân Pháp cũng sẵn cái ý định khống chế các vùng dân tộc thiểu số từ Lai Châu đến Thanh, Nghệ để tiến đánh Hòa Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An và mong dùng chính sách lừa gạt và đàn áp để lập nên xứ Thái “tự trị”, xứ Mường “tự trị” dưới gót sắt của chúng”.

Từ nhận xét trên, Đại tướng căn dặn và động viên: “…Các đồng chí thấy rõ nhiệm vụ bảo vệ biên cương phía Tây của chúng ta là quan trọng đến chừng nào. Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam, chúng ta không thể để cho địch dễ dàng dẫm lên được…

Trên con đường về miền Tây, các đồng chí sẽ phải lặn lội nơi rừng xanh suối bạc, ở những địa phương hàng nửa ngày đường không thấy một bóng người, thủy thổ không quen thuộc, vật chất thiếu thốn, ngôn ngữ bất đồng, nước độc ma thiêng. Chỉ một việc cất chân lên đường tiến về hướng Tây là đủ tỏ cái chí hy sinh, cái lòng kiên nghị của các đồng chí…”.

Cụ Pém chờ tôi ghi chép xong đoạn thư trên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, rồi lại say sưa kể cho chúng tôi nghe những vinh dự về sự nghiệp theo cách mạng của mình. Từ đầu xuân 1947, Trung đoàn 52 lên đường nhận nhiệm vụ Tây tiến cho đến Chiến dịch biên giới Thu – Đông 1950, cụ Pém được tổ chức giao nhiệm vụ ở lại Quang Chiểu vận động đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây tham gia cách mạng.

Kỷ niệm được gặp Bác Hồ

Năm 1952, cụ Pém xây dựng gia đình. Năm đó, bộ đội lại hành quân lên Tây tiến và cụ Pém không những tiếp tục tham gia du kích mà còn vận động được 22 thanh niên bản địa giác ngộ cách mạng, đi theo Bộ đội Tây tiến. Đồng thời, từ cuối năm 1952, cụ Pém được giao nhiệm vụ làm Phó Công an xã Quang Chiểu (gồm cả Mường Chanh) kéo dài trong nhiều năm liền.

Nhìn ra dãy núi Pom Chun Khún, một trong những nơi chiến trường xưa của Đoàn quân Tây tiến.

Mười năm sau (năm 1962), cụ Pém được làm Chủ tịch xã Quang Chiểu và được đại diện cho đồng bào các dân tộc thiểu số biên giới phía Tây Thanh Hóa ra Thủ đô Hà Nội dự mít tinh Quốc khánh. Hai năm sau, cụ Pém lại vinh dự được về Hà Nội dự Đại hội “Bảo vệ trị an toàn miền Bắc năm 1963 – 1964”. Tại Hội nghị đặc biệt này, cụ Pém được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, trong đó có đồng chí Trần Quốc Hoàn. “Được nghe Bác Hồ nói chuyện, phấn khởi vô kể!”, cụ Pém nói hồn nhiên và rất tự hào.

Theo cụ Pém kể: “Trong Hội nghị, Bác khen xã Quang Chiểu đoàn kết tốt. Một xã biên giới xa huyện, xa tỉnh, xa Trung ương, nhưng cán bộ một lòng theo Đảng, đồng bào các dân tộc thiểu số với bộ đội, với công an đoàn kết tốt giúp đỡ lẫn nhau…. Bác vừa dứt lời, các đại biểu vỗ tay hoan hô rầm cả hội trường. Lúc đó, tôi phấn khởi đỏ cả mặt. Dừng tiếng vỗ tay, Bác hỏi các đồng chí có noi gương tinh thần đoàn kết của xã Quang Chiểu…? Cả hội trường lại đồng thanh: Thưa Bác, có ạ!”. Lúc kể, mắt cụ Pém sáng lên, trông tinh nhanh hoạt bát rất lạ thường. Lúc đó, hình như cụ Pém đang liên tưởng đến thời thanh niên trai tráng oai phong, hào hùng của mình… 

“Sau đó về Phủ chủ tịch, Bác tặng mỗi người một cây đèn pin và 4 mét (2 mét trắng, 2 mét đen) vải lụa Hà Đông. Ít năm sau bà mẹ mất, tôi dùng vải của Bác tặng liệm cho mẹ…”, cụ Pém cảm động kể.

Khi nói về người mẹ quá cố, cụ Pém đang vui chợt nhiên nét mặt đợm buồn. Cụ trầm giọng, nhớ: “Ở xã Xuân Nha, huyện Mộc Châu, Sơn La có 20 thanh niên tham gia Đội du kích Tây tiến. Khi đó, Lương Chí Ánh trẻ nhất 14 tuổi, nay đang còn sống. Còn những du kích và Bộ đội Tây tiến mà tôi đã gặp thì 90% là đã mất vì chiến trường, vì bệnh tật và vì già. Trong đó, anh Vượng hy sinh ở bản Chiềng Ken (Hủa Phăn – Lào)…, hy sinh ở Quang Chiểu có anh Bé, anh Giới và một anh tôi không nhớ tên bị địch bắn và chúng tôi chôn ở ven suối Xim. Những đồng đội còn sống thì nay cũng đã ngoài 90 tuổi cả rồi…”.

***

Ngừng một lát, cụ Pém đưa chén trà về phía tôi, rồi nhìn ra ngọn núi Pom Chun Khún, khẽ ngâm mấy câu thơ trong bài thơ Tây tiến của Quang Dũng: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ/Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”. Lúc này, cụ bà Vi Thị Ót (81 tuổi, vợ cụ Pém) từ dưới bếp bê rá xôi lên mời chúng tôi bằng tiếng Thái, nên cụ Pém phải ngừng ngâm khúc thơ bi tráng của Tây tiến, để dịch câu chuyện mà cụ Ót kể về gia đình.

Cụ Ót khoe, vợ chồng cụ sinh được 8 người con (4 trai, 4 gái), đến nay có 11 cháu nội, 9 cháu ngoại và 7 đứa chắt. Các con đều thoát ly cả, trong đó cậu con trai thư ba, là Lương Minh Thông hiện đang được tổ chức phân công giữ chức Bí thư huyện ủy huyện Mường Lát.

Nghe xong, tôi hiểu ý của cụ Pém, rằng: “Gia đình cụ,tốt phúc vô kể”!

Ghi chép của: Lê Trọng Hùng