/ Dọc đường tố tụng
/ Nhiều vụ tranh chấp đất đai chưa có hồi kết tại Cần Thơ

Nhiều vụ tranh chấp đất đai chưa có hồi kết tại Cần Thơ

29/04/2026 15:20 |

(LSVN) - Nhiều vụ án tranh chấp đất đai kéo dài, qua nhiều cấp Tòa xét xử vẫn chưa có hồi kết, nguyên nhân từ đâu?

Nội dung vụ án theo Bản án phúc thẩm số 183/2026/DS-PT ngày 18/3/2026 của TAND thành phố Cần Thơ thể hiện:

“Phần đất tranh chấp giữa bà Thanh (con bà Hà) với ông Phước phát sính từ lúc bà Hà còn sống. Trải qua nhiều lần khiếu nại, nhiều cấp cơ quan nhà nước giải quyết không thành. Ông Phước từng khởi kiện UBND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 253/YHGCN/RĐ cấp ngày 04/01/1991 của bà Hà nhưng đã rút đơn kiện, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.

Vào ngày 20/10/2016, ông khởi kiện bà Hà (lúc này bà Hà còn sống), Tòa án thụ lý Vụ án số 208/2016/TLST-DS ngày 08/11/2016 để giải quyết yêu cầu công nhận phần đất diện tích 1.309m² (mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm) là thửa 147 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phước. Bà Hà cũng có yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.309m² (mục đích sử dụng đất trồng lúa) thuộc thửa 20' (là một phần còn lại của thửa 114, do có tranh chấp với ông Phước nên chưa được cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 253/YHGCN/RĐ cấp ngày 01/01/1991 cho bà Hà.

Bản án phúc thẩm lần hai của TAND thành phố Cần Thơ.

Bản án phúc thẩm lần hai của TAND thành phố Cần Thơ. 

Bản án sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 16/7/2020 của TAND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã tuyên: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phước". Sau đó, cả ông Phước và bà Hà đều kháng cáo bản án nêu trên. Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bà Hà chết vào ngày 20/02/2022.

Bản án dân sự phúc thẩm số 247/2022/DS-PT ngày 30/9/2022 của TAND thành phố Cần Thơ tuyên: “Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thu Hà, chấp nhận kháng cáo, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phước”. Sau khi bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật và đang trong giai đoạn xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm thì ông Phước tự phá dỡ hàng rào ranh, chặt cây để vào quản lý phần đất tranh chấp mà không thông qua trình tự thủ tục yêu cầu thi hành án.

Ngày 24/11/2022, bà Nguyễn Thu Thanh (người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Hà) có đơn đề nghị giám đốc thẩm Bản án dân sự phúc thẩm số 247/2022/DS-PT ngày 30/9/2022 của TAND thành phố Cần Thơ. Ngày 09/6/2023, Chánh án TAND Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị số 41/2023/KN-DS kháng nghị giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, bản án sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án cho TAND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Văn bản tặng cho đất của bà Hồng cho ông Phước.

Văn bản tặng cho đất của bà Hồng cho ông Phước.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 149/2023/DS-GĐT ngày 09/8/2023 của Ủy ban thẩm phán TAND Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên: Hủy bản án dân sự phúc thẩm và bản án dân sự sơ thẩm nêu trên, giao hồ sơ vụ án cho TAND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (cũ) xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

TAND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (cũ) đã thụ lý vụ án số 291/TB-TLVA ngày 21/11/2023 nhưng đến ngày 25/12/2023 ông Phước có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án (Quyết định số 68/2023/QDST-DS ngày 27/12/2023 đã có hiệu lực pháp luật).

Bà Thanh là con bà Hà, được những người thừa kế ủy quyền để khởi kiện ông Phước ra tòa án giải quyết tranh chấp do bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã bị TAND Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy, vụ việc tranh chấp vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thu Thanh trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp nằm trong tổng diện tích 7.196m² (trong đó có 4.386m² 2L+LNK+T) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 3 tại Yên Hạ - Đông Thạnh - Châu Thành - Hậu Giang thuộc sở hữu của bà Hà, đã được UBND huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (cũ) cấp ngày 04/01/1991. Gia đình bà sử dụng ổn định thì đến năm 1999 ông Phước dựa vào Tờ ưng thuận của bà Nguyễn Thị Hồng về việc cho đất vào năm 1986 để khiếu nại, tranh chấp phần đất có diện tích 01 công (tương đương diện tích 1.342,3m² trong tổng diện tích 4.386m² 2L) thuộc thửa 114 của bà Hà. Vụ việc đã được UBND huyện Châu Thành (sau này là UBND quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ) giải quyết không chấp nhận khiếu nại của ông Phước vì nội dung khiếu nại không có cơ sở. Năm 2002 ông Phước tự rào chắn ngang phần đất tranh chấp không cho gia đình đi qua phần đất này ra ruộng canh tác.

Đến năm 2008, bà Hà làm thủ tục đăng ký cấp đổi quyền sử dụng đất (từ giấy trắng sang giấy đỏ) đối với toàn bộ diện tích đất 7.196m² thửa 114. Năm 2009 cơ quan chức năng đã cập nhật thửa đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hà đối với một phần đất trồng lúa (2L) và đất thổ cư (T). Riêng một phần đất trồng lúa (2L) với diện tích 1.342,3m² được đánh số thửa 20' có tranh chấp với ông Phước trong thời gian dài, chưa giải quyết nên đã để lại, chưa được cấp đổi. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, trong năm bà Hà đã chuyển nhượng cho ông Lư Hớn Kia. Gia đình bà Hà vẫn quản lý, sử dụng phần đất này mặc dù bị ông Phước tranh chấp. Ngay khi bản án phúc thẩm có hiệu lực thì ông Phước tự ý phá dỡ tường ranh vào quản lý đất mà không thông qua thủ tục thi hành án dân sự. Khi vụ việc tranh chấp bị hủy, trả về cấp sơ thẩm xét xử lại – nghĩa là vụ việc tranh chấp vẫn chưa được giải quyết dứt điểm thì với tư cách là nguyên đơn, ông Phước đã rút đơn kiện. Nay bà được các anh chị em, con cháu thuộc hàng thừa kế của bà Hà ủy quyền cho bà khởi kiện ông Phước, yêu cầu tòa án giải quyết:

Đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Đơn đề nghị giám đốc thẩm. 

Công nhận quyền sử dụng đất (một phần đất trồng lúa còn lại của 114 là thửa 20') với diện tích đo đạc thực tế 1.336,7m² LUC thuộc thửa 114 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 253/YHGCN/RĐ cấp ngày 04/01/1991 cho hàng thừa kế của bà Hà (Gồm: Nguyễn Thu Thanh, Nguyễn Vũ Ngọc Linh, Nguyễn Thanh Vĩnh, Nguyễn Vi Vi, Nguyễn Anh Huy, Nguyễn Duy Khang). Ông Phước tự chịu chi phí di dời mái che (diện tích 10.95m²), cây cối để trả lại hiện trạng đất.

Quá trình tranh chấp, giải quyết tại tòa án ông Phước (bị đơn) và bà Lam (là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là vợ ông Phước) trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp của bà Nguyễn Thị Lê (mẹ bà Nguyễn Thu Hà) đứng tên, bị truất hữu vào năm 1973. Năm 1983, Nhà nước cải tạo đất, truất hữu của bà Lê đưa vào tập đoàn sản xuất. Do diện tích đất bà Hà lớn nên bị cắt một phần đất dư (đất vượt hạn mức) của bà cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng với diện tích hơn 01 công (tương đương 1.296m²). Do là đất lung, ngập nước không làm được ruộng lúa nên đến năm 1986, bà Hồng tặng cho lại ông Phước phần đất nêu trên. Việc tặng cho có lập tờ ưng thuận, có xác nhận của UBND xã Đông Thạnh, đã sử dụng đất, đóng thuế đất hàng năm. Thửa đất này giáp ranh với thửa đất số 05 của ông.

Năm 1999, bắt đầu có tranh chấp do bà Nguyễn Thu Hà mạo danh là chủ đất gốc, đòi lại đất gốc và cho người chặt phá cây trên đất. Ông làm hàng rào, rào lại đất, bà Hà khiếu nại yêu cầu mở hàng rào để đi vào thửa đất 114 của bà Hà. Ngày 03/8/2004, Cơ quan Thanh tra thành phố Cần Thơ đã không chấp nhận khiếu nại của bà Hà. Năm 2003, ông lợp mái che bằng tôn rộng 20m² hiện đang chứa đồ và nuôi gà, ngoài ra ông Phước còn trồng dừa, chuối, xoài.

Với nội dung nêu trên, TAND thành phố Cần Thơ đã tuyên sửa một phần Bản án sơ thẩm số 137/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của TAND khu vực 3 – Cần Thơ, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu Thanh, công nhận phần đất có diện tích 1.336,7m² (loại đất trồng lúa) thửa 061, tờ bản đồ 27 tại Khu vực Yên Trung, phường Cái Răng, thành phố Cần Thơ thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thu Hà. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tụng đồng thời là người thừa kế của bà Nguyễn Thu Hà gồm: Nguyễn Thu Thanh, Nguyễn Vũ Ngọc Linh, Nguyễn Thanh Vinh, Nguyễn Vi Vi, Nguyễn Anh Huy, Nguyễn Duy Khang có quyền liên hệ cơ quan chức năng có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho mình theo quy định pháp luật, phù hợp với quyết định của bản án này.

Buộc ông Nguyễn Văn Phước và vợ bà Nguyễn Thị Lam tự tháo dỡ, di dời mái che tạm diện tích 10.95m², 24 cây chuối, 03 cây dừa, 08 cây xoài, 01 cây chanh, 02 cây me, 04 cây bưởi, 01 cây so đũa trả lại quyền sử dụng đất cho những người thừa kế của bà Nguyễn Thu Hà quản lý sử dụng (Kèm theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 50/VPĐK.KT ngày 03/9/2025 của Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Cần Thơ).

Không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm của TAND khu vực 3 – Cần Thơ và Bản án phúc thẩm của TAND thành phố Cần Thơ, ông Nguyễn Văn Phước cuàng vợ là bà Nguyễn Thị Lam có đơn gửi Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đề nghị xem xét lại vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, ông Phước và bà Lam cho rằng:

Phần đất tranh chấp chưa được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hà nên thẩm quyền giải quyết theo quy định Luật đất đai thuộc UBND cấp có thẩm quyền. Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm cũng tuyên là các thừa kế nguyên đơn (bà Hà) có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Phước nhận được quyền sử dụng đất từ hợp đồng tặng cho có chính quyền địa phương xác nhận, bên tặng cho là bà Nguyễn Thị Hồng, Tòa án 2 cấp có đưa bà Hồng vào tham gia tố tụng nhưng không hủy “Hợp đồng tặng cho tài sản”, đặc biệt khi bà Hồng tặng cho là đất lúa, nhưng hiện tại là đất vườn.

Trong quá trình xét xử, Tòa án 2 cấp đã xác định sai vị trí thửa đất tranh chấp, cụ thể là thửa 20, tờ bản đồ 27 (đất lúa) được tách ra từ thửa 114 (đất lúa) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 253/YH.GCN/RĐ cấp ngày 04/01/1991 của bà Nguyễn Thu Hà. Trong khi đó tại Văn bản số 242/CV-VPĐKĐĐ quận Cái Răng ngày 15/4/2022 xác nhận bà Hà đã bán toàn bộ thửa số 20, 24, 28 tách ra từ thửa 114 trước khi bà chết, như vậy bà Hà không còn tài sản (đất) để lại di sản thừa kế. Mặt khác vị trí thửa đất tranh chấp hoàn toàn khác với thửa 20 các thừa kế bà Hà khởi kiện.

Sau khi nhận tặng cho tài sản, ông Phước và gia đình thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất từ năm 1986 (thực hiện nghĩa vụ thuế có xác nhận của Chủ tịch UBND xã và chứng từ của cơ quan thuế địa phương. Nên ông Phước, bà Lam cho biết theo quy định của Bộ luật Dân sự ông bà là người thứ ba ngay tình từ hợp đồng tặng cho tài sản của bà Hồng.

PV