Những khía cạnh pháp lý của quyền hưởng dụng

13/09/2020 18:25

(LSO) – Bài viết phân tích, đánh giá những quy định về căn cứ xác lập quyền hưởng dụng và việc áp dụng những quy định này vào đời sống thực tế nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể trong sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ có liên quan đến quyền hưởng dụng tài sản của người khác.

Ảnh minh họa. (Nguồn internet).

1. Quyền hưởng dụng là một vật quyền

Quyền hưởng dụng được quy định từ Điều 257 đến Điều 266 tại Mục 2 Chương XIV về quyền khác đối với tài sản trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Điều 257 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định”. Quyền hưởng dụng được xác lập từ một trong ba căn cứ theo quy đinh tại Điều 58: “Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc”.

Các quy định tại Điều 257 và Điều 258 BLDS năm 2015 không những tạo ra khả năng thực hiện các quyền dân sự của chủ sở hữu, mà còn là điều kiện cho các chủ thể không phải là chủ sở hữu khai thác tài sản. Quy định về quyền hưởng dụng là quy định đáp ứng được kịp thời nhu cầu của chủ thể và là một biện pháp tiết kiệm trong việc khai thác tài sản, mà không phải khi nào cũng phải thông qua các hợp đồng thuê, mượn; giảm được rất nhiều những chi phí về tài sản và thời gian. Chủ thể có quyền hưởng dụng khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức trên tài sản tương tự như chủ sở hữu, trong một thời hạn nhất định.

Quy định về căn cứ xác lập quyền hưởng dụng theo di chúc là một cải cách căn bản trong việc khai thác tài sản của người đã chết bằng việc hưởng dụng, mà không phải là người được chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản theo thừa kế. Quy định về căn cứ xác lập quyền hưởng dụng theo di chúc đã tạo ra khả năng duy trì khối di sản của người chết để lại và bảo đảm quyền của những người thừa kế theo pháp luật, khi người hưởng dụng đầu tiên qua đời hoặc hết thời hạn hưởng dụng tối đa theo luật định là 30 năm. Chủ thể hưởng dụng có thể là cá nhân, có thể là pháp nhân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 260 BLDS năm 2015, thì người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng. Quy định này nhằm khai thác triệt để tài sản là đối tượng hưởng dụng, tránh lãng phí trong trường hợp người hưởng dụng không có nhu cầu hoặc không khai thác hết giá trị kinh tế của tài sản hưởng dụng. Quy định này phù hợp với nền kinh tế thị trường, đặc biệt đối với việc khai thác những tư liệu sản xuất, kinh doanh mà tài sản là sản nghiệp như các nhà máy, hệ thống dây chuyền trong sản xuất hàng hóa và các tư liệu sản xuất khác.

Quyền hưởng dụng tài sản được quy định trong BLDS năm 2015 là một bước cải cách trong tư duy lập pháp tại Việt Nam về lĩnh vực dân sự. Quyền hưởng dụng được hiểu là vật quyền, cho nên quyền này có thể là đối tượng của giao dịch dân sự, người hưởng dụng được quyền thu lợi từ việc hưởng dụng đó. Hưởng dụng là quyền của người không phải là chủ sở hữu của tài sản, nhưng có quyền hưởng dụng các lợi ích do tài sản mang lại trên căn cứ hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Trước đây, trong Bộ An Nam giản yếu năm 1883, đã phỏng theo Luật của Cộng Hoà Pháp cùng thời kỳ đó, tại Điều 384 quy định: Người cha được quyền hưởng dụng pháp định đối với tài sản riêng của con cho đến khi người con 18 tuổi(Người mẹ chỉ được hưởng dụng tài sản của con sau khi người cha chết với điều kiện người mẹ không kết hôn với người khác – không tái giá).Khi người con đến 18 tuổi, người cha được hưởng dụng phải ghi chép về các khoản hoa lợi phát sinh từ tài sản của người con. Nếu chi phí nuôi dưỡng người con này vẫn còn thừa, thì người cha có nghĩa vụ trả lại cho người con khoản dư thừa này. Nhưng trong Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) và Dân luật Bắc Kỳ (1931) đều không có quy định về hưởng dụng tài sản của con chưa đến 18 tuổi. Bởi vì, theo quy định của pháp luật dân sự Trung Kỳ và Bắc Kỳ thì các con còn ở chung với cha, mẹ không có quyền có tài sản riêng, trừ trường hợp các con đã trưởng thành và đã thoát quyền khỏi người cha, người mẹ theo phương thức: “Kiến giả nhất phận”.

Quyền hưởng dụng còn được quy định trong trường hợp người chồng chết trước người vợ. Theo quy định trong Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ thì sau khi người chồng chết, người vợ goá có các quyền: Hưởng toàn quyền sở hữu tài sản của người chồng nếu bên nhà chồng không còn bất kỳ người thừa kế nào và quyền hưởng dụng hoa lợi do toàn bộ di sản của người chồng để lại sau khi chết. Người vợ có quyền hưởng dụng tất cả tài sản của người chồng để lại, chỉ trừ hương hoả.

Quyền hưởng dụng là quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản nhưng có quyền thu lợi dựa trên cơ sở thoả thuận hoặc pháp luật quy định. Theo quy định tại Điều 577 Trung Kỳ hộ luật, thì quyền hưởng dụng thu lợi có thể không có điều kiện, có kỳ hạn, có thể có điều kiện. Điều 578 Trung Kỳ hộ luật quy định: Quyền hưởng dụng được xác lập có thể có kỳ hạn, có thể không có kỳ hạn hoặc có điều kiện, nhưng tối đa đến hết cuộc đời người hưởng dụng. Riêng đối với quyền hưởng dụng được lập ra có kỳ hạn hay cho một pháp nhân hưởng dụng, thì thời hạn tối đa không quá 30 năm. Người hưởng dụng theo quy định tại Điều 587 Trung Kỳ hộ luật còn có quyền cho thuê, cho mượn tài sản mà mình có quyền hưởng dụng. Ngược lại, người hưởng dụng không có quyền yêu cầu chủ sở hữu của tài sản mà mình hưởng dụng phải hoàn trả một khoản tiền với lý do người hưởng dụng đã chi phí làm tăng giá trị của tài sản mà mình hưởng dụng (Điều 591).

Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, quy định quyền hưởng dụng được xác lập trên cơ sở luật định hoặc theo thoả thuận (Điều 557). Quyền hưởng dụng có thể vô điều kiện, hay có thời hạn. Quyền hưởng dụng có thể được xác lập có điều kiện hoặc có thời hạn nhưng tối đa cũng không vượt quá cuộc đời người hưởng dụng. Theo Điều 559 Dân luật Bắc Kỳ, thì người hưởng dụng có quyền được hưởng tất cả hoa lợi do việc sử dụng tài sản mang lại. Điều 571 Dân luật Bắc Kỳ quy định, người hưởng dụng không có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản do mình hưởng dụng đền bù trong trường hợp người hưởng dụng có công hoặc chi phí làm tăng giá trị của tài sản do mình hưởng dụng.

Trước năm 1975, ở miền Nam có Bộ Dân luật năm 1972 cũng có quy định về quyền dụng ích. Điều 417 Bộ Dân luật năm 1972 quy định: “Quyền dụng ích là một vật quyền cho phép hưởng dụng và thu lợi một tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác trong một thời gian không quá đời sống của người thụ hưởng, với trách vụ giữ nguyên tài sản ấy”. Và: “Người dụng ích được hưởng mọi hoa lợi, dù là hoa lợi tự nhiên, canh tác hay dân sự” (Điều 420). Quyền của người dụng ích cũng tương tự như quyền của chủ sở hữu tài sản trong quan hệ về quyền địa dịch. Điều 425 Bộ Dân luật năm 1972 quy định: “Người dụng ích hưởng quyền địa dịch và mọi quyền lợi liên quan đến bất động sản dụng ích, y như chủ sở hữu”. Về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu và của người dụng ích được quy định tại Điều 430 Bộ Dân luật năm 1972: “Sở hữu chủ không được phép có hành vi gì phương hại đến quyền lợi của người dụng ích”. Về phần người dụng ích, cũng không thể đòi bồi hoàn gì về những tu bổ đã làm trong thời gian dụng ích dù những sự tu bổ này làm cho giá trị tài sản gia tăng, khi mãn kết quyền dụng ích. Tuy nhiên, người dụng ích hoặc người thừa kế được quyền tháo dỡ những đồ trang trí đã được gắn vào nơi dụng ích, nhưng những nơi ấy phải được chỉnh lập lại như cũ. Theo quy định tại Điều 438 Bộ Dân luật năm 1972, thì quyền dụng ích chấm dứt trong trường hợp: Người dụng ích chết hoặc quyền dụng ích và quyền sở hữu được xác lập ở một chủ thể hoặc tài sản dụng ích bị tiêu huỷ hoặc người dụng ích không hưởng dụng tài tài sản mình có quyền dụng ích trong thời gian 20 năm. Quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản nhưng lại có quyền hưởng dụng tài sản của người khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thoả thuận được quy định trong Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936 và Bộ dân luật Sài Gòn năm 1972. Quyền hưởng dụng hay còn gọi là quyền dụng ích là nhu cầu của quan hệ vật quyền; nó phát sinh một cách khách quan trong xã hội và đã được các bộ luật dân sự ở nước ta dưới thời thực dân – phong kiến và trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam đều có những quy định điều chỉnh quan hệ quyền hưởng dụng. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã không có một quy định nào về quyền hưởng dụng. Nguyên nhân của sự thiếu vắng quy định này là cách đặt vấn đề và quan điểm lập pháp chỉ nhằm quy định về quyền sở hữu, coi quyền sở hữu như một quyền năng tối cao. Về thực chất, quyền sở hữu tài sản cũng chỉ với vai trò là một thành tố của quan hệ vật quyền mà thôi. Vì vậy nhiều yếu tố có liên quan đến quyền sở hữu đã không được chú ý và đề cập. Bởi vì, chỉ tập trung quy định về quyền sở hữu tài sản, mà không quy định về những quan hệ khác có liên quan, đó là quan hệ vật quyền. Thực chất, quyền hưởng dụng tài sản của người không phải là chủ sở hữu tài sản, quyền dụng ích tài sản của người khác đều là những thành tố của quan hệ vật quyền.
Khắc phục sự thiếu vắng những quy định mang tính khách quan và phù hợp với đời sống xã hội, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định về quyền hưởng dụng với 10 điều, điều chỉnh quan hệ về quyền hưởng dụng tài sản (từ Điều 257 đến Điều 266). Những quy định về quyền hưởng dụng nhằm điều chỉnh căn cứ xác lập quyền hưởng dụng do luật định, theo thoả thuận hoặc theo di chúc (Điều 258), hiệu lực của quyền hưởng dụng được xác định từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác (Điều 259), thời hạn hưởng dụng dựa trên thỏa thuận của chủ sở hữu tài sản và người hưởng dụng hoặc do luật định nhưng tối đa đến hết cuộc đời người hưởng dụng đầu tiên là cá nhân, đối với người hưởng dụng là cá nhân; đối với pháp nhân hưởng dụng đến khi pháp nhân chấm dứt nhưng tối đa 30 năm nếu pháp nhân là người hưởng dụng đầu tiên. Như vậy, thời hạn hưởng dụng tối đa đối với cá nhân đến thời điểm cá nhân qua đời và đối với pháp nhân tối đa là 30 năm. Thời hạn hưởng dụng do luật định và người hưởng dụng có thể được chuyển giao, nhưng thời điểm để tính thời hạn bắt đầu từ người hưởng dụng đầu tiên.

Căn cứ vào các quy định tại các quy định về quyền của người hưởng dụng (Điều 261); Nghĩa vụ của người hưởng dụng (Điều 262); quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản (Điều 263) thì người hưởng dụng có các quyền: Khai thác, sử dụng tài sản và thu hoa lợi, lợi tức; Yêu cầu chủ sở hữu sửa chữa tài sản là đối tượng mình đang khai thác; Cho thuê quyền hưởng dụng đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng;

Quyền hưởng hoa lợi, lợi tức trong thời hạn khai thác tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. Ngoài các quyền trên, chủ thể hưởng dụng có nghĩa vụ được quy định tại Điều 262 BLDS năm 2015 gồm: Nhận tài sản theo hiện trạng, thực hiện đăng ký nếu có quy định; khai thác tài sản phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng tài sản; giữ gìn, bảo quản tài sản như của chính mình; bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ và thực hiện nghĩa vụ phù hợp với yêu cầu kỹ thuật theo tập quán về bảo quản tài sản; hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu sau khi hết thời hạn hưởng dụng.

Tương ứng với quyền và nghĩa vụ của bên có quyền hưởng dụng, là quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài sản. Theo quy định tại các Điều 263 và 264 BLDS năm 2015, thì chủ sở hữu vẫn có quyền định đoạt tài sản, nhưng không được làm thay đổi quyền hưởng dụng đã được xác lập. Như vậy, quyền hưởng dụng của chủ thể không thay đổi trong trường hợp tài sản là đối tượng của quyền này vẫn tồn tại và có sự thay đổi về chủ sở hữu trong các trường hợp chuyển giao quyền sở hữu như bán, tặng cho, đổi, để lại thừa kế tài sản.

Chủ sở hữu tài sản cũng có quyền đơn phương truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình như khai thác tài sản không đúng với công dụng, mục đích, quản lý tài sản không chu đáo dẫn đến tình trạng hư hỏng, xuống cấp, hao phí… Ngoài các quyền trên, chủ sở hữu tài sản, theo quy định tại khoản 4 Điều 263 BLDS năm 2015 có nghiã vụ sửa chữa tài sản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng được hoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị tài sản.

Quan hệ về quyền hưởng dụng tài sản là một quan hệ pháp luật dân sự. Vì vậy, có các điều kiện phát sinh, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể như: khi thời hạn của quyền sử dụng đã hết; theo thỏa thuận của các bên; người hưởng dụng trở thành chủ sở hữu tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng (mua, được tặng cho, khấu trừ nghĩa vụ dân sự, được thừa kế tài sản là đối tượng đang hưởng dụng…).

Quyền hưởng dụng còn bị chấm dứt trong trường hợp người hưởng dụng từ bỏ hoặc không thực hiện quyền hưởng dụng trong thời hạn do luật định hoặc tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không còn hoặc theo quyết định của Tòa án và các căn cứ khác do luật định.

Trường hợp đối tượng của quyền hưởng dụng không còn là trường hợp tài sản bị tiêu hủy hoặc hưởng dụng mặt nước để khai thác nuôi trồng thủy sản nhưng đã cạn kiệt do bị sa mạc hóa, bị ô nhiễm nặng hoặc cây ăn quả không còn khả năng ra hoa kết trái do bị già cỗi, bị đổ gẫy, bị hỏa hoạn, diện tích đồi rừng bị lở, xói mòn do mưa lũ cuốn trôi…

2. Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng

Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định tại Điều 258 BLDS năm 2015: “Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của pháp luật, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc”.

Xác lập quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật

Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của pháp luật là quyền của một chủ thể được khai thác, sử dụng tài sản của một chủ thể khác mà giữa họ không có giao kết hợp đồng hoặc người hưởng dụng không dựa theo di chúc của cá nhân người lập di chúc để lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng sau khi người để lại tài sản chết.

Về quyền hưởng dụng theo quy định của pháp luật, thì hiện nay ở Việt Nam không có một quy định cụ thể nào, mà chỉ quy định về việc quản lý tài sản riêng của các con vị thành niên; việc sử dụng, định đoạt tài sản của người con phải vì lợi ích của người con chưa trưởng thành. Pháp luật Việt Nam hiện không có quy định về trường hợp cha mẹ khấu trừ những khoản chi nuôi dưỡng con chưa trưởng thành và khoản chi phí cho việc học tập của con vị thành niên vào tài sản riêng của người con này.

Trước đây, Điều 744 BLDS năm 1995 quy định về quyền tiếp tục sử dụng đất của các thành viên trong hộ gia đình: “Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu trong hộ có thành viên chết, thì các thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng đất do Nhà nước giao cho hộ đó; nếu trong hộ gia đình không còn thành viên nào, thì Nhà nước thu hồi đất đó”.

Như vậy, theo quy định trên thì những thành viên trong gia đình của người chết được tiếp tục khai thác đất nông nghiệp cho đến hết thời hạn được giao đất, là một quyền hưởng dụng rất phổ biến ở Việt Nam.

Trên thực tế, ở Việt Nam còn rất nhiều trường hợp quyền hưởng dụng phát sinh từ những quan hệ rất cụ thể. Ví dụ như tài sản của người chồng hoặc người vợ đã chết để lại hoặc là bất động sản hoặc là động sản mà những người có quyền thừa kế các di sản này của người chồng hoặc người vợ đã chết, nhưng không có tranh chấp về việc hưởng di sản và không có yêu cầu chia thừa kế di sản, thì người chồng hoặc người vợ còn sống có quyền hưởng dụng tài sản của người đã chết có thể đến hết đời, nếu những người có quyền hưởng thừa kế không có yêu cầu chia di sản.

+ Xác lập quyền hưởng dụng theo thỏa thuận

Quyền hưởng dụng được xác lập theo thỏa thuận là việc bên có tài sản là động sản hoặc bất động sản thỏa thuận với bên có hưởng dụng tài sản đó có thời hạn hoặc không có thời hạn, theo đó bên hưởng dụng có quyền sử dụng tài sản là đối tượng của hương dụng để hưởng hoa lợi, lợi tức hoặc nhằm đáp ứng nhu cầu sinh sống của bản thân hoặc của các thành viên trong gia đình người có quyền hưởng dụng.

Hợp đồng hưởng dụng tài sản của chủ sở hữu cũng thỏa mãn các điều kiện về chủ thể, về tài sản được phép chuyển giao, về nội dung, về hình thức, thủ tục theo luật định. Hợp đồng hưởng dụng là hợp đồng dân sự, cho nên có nội dung của một hợp đồng dân sự. Nội dung của hợp đồng hưởng dụng tuân theo quy định tại Điều 398 BLDS năm 2015 về đối tượng hưởng dụng là động sản, bất động sản, câu cối, súc vật… số lượng, chất lượng của đối tượng hưởng dụng; giá hưởng dụng (nếu có), phương thức thanh toán; thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; phương thức giai quyết tranh chấp…

+ Quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc

Với tư cách là chủ sở hữu của tài sản, chủ sở hữu tài sản có quyền lập di chúc chỉ định người thừa kế quyền hưởng dụng tài sản của mình sau khi người lập di chúc chết.

Nền kinh tế thị trường là môi trường của mọi cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau phát huy được triệt để nhất năng lực của mình để tạo ra những sản phẩm cho xã hội thông qua các giao dịch dân sự, thương mại. Quy định về quyền hưởng dụng trong BLDS năm 2015, là một cải cách lớn trong những quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản với những mục đích tạo điều kiện cho các chủ thể trong xã hội khai thác tài sản của các chủ sở hữu, đồng thời tạo ra cơ chế nhằm khuyến khích khả năng khai thác tối đa và có hiệu quả tài sản trong xã hội, để giảm bớt những chi phí cho chủ thể có nhu cầu sử dụng tài sản mà không phải chi phí cho việc mua tài sản, tiết kiệm được thời gian và không phải chịu một khoản chi lớn về tài sản. Quy định về quyền hưởng dụng đã góp phần bảo vệ sản xuất, sự bình ổn trong quan hệ dân sự và tạo ra những điều kiện thuận lợi trong việc khai thác những tiềm năng của tài sản thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau trong xã hội.

Xác lập quyền địa dịch theo di chúc, lần đầu tiên ở Việt Nam được quy định trong BLDS năm 2015. Đây là một quy định có tính linh hoạt phù hợp với thời đại và quan hệ xã hội trên mọi mặt của đời sống sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ.

Trước đây ở Việt Nam, Bộ Dân luật Bắc Kỳ (1931) và Bộ Dân luật Trung Kỳ (1936) đều có những quy định về quyền hưởng dụng thu lợi hay quyền ứng dụng thu lợi (Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định “quyền của người ứng dụng thu lợi”, Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định: “Quyền của người hưởng dụng thu lợi”). Điều 557 Dân luật Bắc Kỳ quy định: “Quyền ứng dụng thu lợi hoặc do pháp luật định ra hoặc do người ta tự định lấy. Quyền ấy có thể đối với tất cả các hạng động sản, bất động sản”. Quyền hưởng dụng được quy định tại Điều 576 Bộ Dân luật Trung Kỳ: “Quyền hưởng dụng thu lợi hoặc do pháp luật định ra hoặc do người ta tự ý định ra. Quyền ấy có thể đối với tất cả các hạng động sản và bất động sản”. Các căn cứ xác lập quyền hưởng dụng được quy định trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ chỉ gồm hai căn cứ: Quyền hưởng dụng do luật định hoặc do thỏa thuận. Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ không có quy định xác lập quyền hưởng dụng theo di chúc.

BLDS năm 2015 quy định quyền hưởng dụng được xác lập do luật định, theo thỏa thuận hoặc theo di chúc. Quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc được quy định tại Điều 258 BLDS năm 2015, đã mở ra những khả năng để chủ sở hữu tài sản có quyền lựa chọn các hình thức định đoạt tài sản của mình, trong đó có quyền định đoạt quyền hưởng dụng tài sản của mình theo di chúc. Đây là quy định phù hợp với đời sống kinh tế, xã hội hiện đại ở Việt Nam, được thể hiện trong những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, đã như một truyền thống và theo thông lệ, nhân sự kiện cá nhân qua đời thì toàn bộ tài sản của cá nhân khi còn sống tạo ra, có được và cá nhân với tư cách chủ sở hữu khối tài sản của mình, có quyền định đoạt bằng cách lập di chúc chỉ định người thừa kế di sản của mình sau khi qua đời. Thừa kế theo di chúc là cách thức chuyển dịch tài sản của cá nhân sau khi chết cho người khác được chỉ định thừa kế theo di chúc. Người thừa kế theo di chúc có thể là một hoặc nhiều người theo sự chỉ định của người lập di chúc. Quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc không nhằm chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản cho người hưởng dụng, mà chỉ chuyển giao tài sản cho người hưởng dụng có kỳ hạn hoặc suốt đời nếu là cá nhân, tối đa ba mươi năm nếu pháp nhân là người hưởng dụng, mà không chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người hưởng dụng. Đây là sự khác biệt về tính chất thừa kế theo di chúc di sản thông thường với việc xác lập quyền hưởng dụng tài sản theo di chúc. Người thừa kế theo di chúc được nhận di sản thừa kế theo di chúc và được xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản được hưởng. Nhưng người hưởng dụng chỉ có quyền nhận tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng mà không được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản này. Người thừa kế theo di chúc là chủ sở hữu phần di sản được hưởng và có quyền định đoạt tài sản với tư cách chủ sở hữu, còn người hưởng dụng chỉ có quyền khai thác tài sản phù hợp với công dụng, mục đích sử dụng tài sản. Người hưởng dụng chỉ được thu hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng trong thời gian quyền hưởng dụng có hiệu lực pháp luật. Như vậy, quyền hưởng dụng được thực hiện có thời hạn theo di chúc, có thể không có thời hạn, nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng là cá nhân, tối đa ba mươi năm nếu người hưởng dụng là pháp nhân. Người hưởng dụng có thể bị truất quyền hưởng dụng trong trường hợp người hưởng dụng vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của người hưởng dụng theo luật định hoặc được xác định trong di chúc của người để lại tài sản hưởng dụng.

Thứ hai, quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc có thể có thời hạn do người lập di chúc ấn định, thời hạn hưởng dụng ngắn hay dài tùy thuộc vào ý chí của người lập di chúc, mà không phụ thuộc vào đối tượng của quyền hưởng dụng là bất động sản hay động sản hay cây trồng hay vật nuôi… Nếu quyền hưởng dụng có thời hạn theo di chúc, thì người hưởng dụng chỉ có quyền tự mình hoặc cho người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng. Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng theo di chúc thuộc quyền sở hữu chung của những người thừa kế hợp pháp di sản của người để lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng đó. Vì vậy, người hưởng dụng có quyền yêu cầu những người thừa kế với tư cách là đồng sở hữu chung theo phần đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng thực hiện nghĩa vụ sửa chữa đối với tài sản để bảo đảm không bị suy giảm đáng kể dẫn tới tài sản không thể sử dụng được hoặc mất toàn bộ công dụng, giá trị của tài sản.

Thứ ba, trường hợp quyền hưởng dụng có thời hạn theo di chúc thì khi kết thúc thời hạn của quyền hưởng dụng, những người thừa kế hợp pháp của người để lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng có quyền yêu cầu người hưởng dụng có kỳ hạn theo di chúc chuyển giao tài sản cho mình. Theo quy định tại khoản 2 Điều 264 BLDS năm 2015: “Trường hợp quyền hưởng dụng chấm dứt mà chưa đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức thì khi đến kỳ hạn thu hoa lợi, lợi tức, người hưởng dụng được hưởng giá trị của hoa lợi, lợi tức thu được tương ứng với thời gian người đó được quyền hưởng dụng”. Giá trị của hoa lợi, lợi tức thu được tương ứng với thời gian hưởng dụng được xác định theo cách tính lấy tổng giá trị mà tài sản đó thu được khi đến thời vụ thu hoạch trừ đi chi phí quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, thu hoạch, phần còn lại thuộc về người hưởng dụng.

Những cơ sở pháp lý liên quan đến tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng đã đươc phân tích cho thấy sự khác biệt giữa thừa kế theo di chúc của người được chỉ định nhận di sản thừa kế theo di chúc và người hưởng dụng tài sản được chỉ định theo di chúc. Khi thời hạn của quyền hưởng dụng theo di chúc chấm dứt, những người thừa kế hợp pháp tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng có quyền chia di sản hoặc thỏa thuận với người hưởng dụng tài sản theo di chúc có thời hạn tiếp tục được hưởng dụng tai sản. Trong trường hợp này, người hưởng dụng không hưởng dụng theo di chúc mà thực hiện quyền hưởng dụng theo hợp đồng mà một bên là những người thừa kế, bên còn lại là người hưởng dụng. Theo đó, quyền hưởng dụng được xác lập theo hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo hợp đồng hưởng dụng. Hợp đồng hưởng dụng có các nội dụng của hợp đồng dân sự và giải quyết tranh chấp được áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự – hợp đồng hưởng dụng. Hợp đồng hưởng dụng có thể có thời hạn, có thể không có thời hạn và được giải quyết theo những quy định chung về hợp đồng dân sự. Quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc, do vậy những điều kiện có hiệu lực của di chúc được thực hiện. Những điều kiện có hiệu lực của di chúc định đoạt tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được chyển giao cho người hưởng dụng theo di chúc, cũng tuân theo các quy định về di chúc trong BLDS năm 2015. Theo quy định tại Điều 624 BLDS năm 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” Di chúc là sự thể hiện ý nguyện cuối cùng của người lập di chúc, là chỉ định cho một hoặc nhiều người có quyền hưởng dụng tài sản của người lập di chúc sau khi qua đời. Ý nguyện của người lập di chúc được thể hiện thông qua quyền dân sự của cá nhân được pháp luật quy định. Quyền của người lập di chúc là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản chỉ định người hưởng dụng tài sản của mình suốt đời hoặc có thời hạn. Dựa trên ý nguyện của người lập di chúc, được thể hiện rõ trong nội dung của di chúc cho ai được hưởng dụng di sản là cá nhân hay tổ chức; người được chỉ định hưởng quyền hưởng dụng tài sản gì và có nghĩa vụ gì khi thực hiện quyền hưởng dụng tài sản. Người hưởng dụng tài sản theo di chúc có thể là cá nhân, có thể là pháp nhân; theo đó, thời hạn hưởng dụng của pháp nhân được pháp luật quy định tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân, đới với cá nhân có thể hưởng dụng tối đa đến hết cuộc đời.

Như vậy, quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc theo quy định của pháp luật phải nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người hưởng dụng sau khi người lập di chúc chết. Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc mà không có bất kỳ sự lệ thuộc nào vào bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên. Giao dịch dân sự này là loại giao dịch đặc biệt, tuy rằng các điều kiện của chủ thể lập di chúc, ý chí của chủ thể, nội dung và hình thức của di chúc đều phù hợp với quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thi hành sau khi người để lại di chúc chết. Do hành vi đơn phương của người lập di chúc và nội dung của di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người hưởng dụng có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng hoặc không có bất kỳ mối quan hệ nào giữa người hưởng dụng và người để lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng theo di chúc. Người được chỉ định là người hưởng dụng tài sản theo di chúc không có quyền sở hữu tài sản, mà chỉ có quyền khai thác, sử dụng tài sản của người chết để lại trong thời hạn nhất định hoặc suốt đời người hưởng dụng nếu là cá nhân. Đã như một tiền lệ và như một đạo lý trong cuộc sống là chủ sở hữu tài sản có quyền định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc và chỉ định người thừa kế, người được di tặng tài sản của người để lại di chúc sau khi chết. Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật nói chung thì đều có chung một căn cứ là xác lập quyền sở hữu do được thừa kế. Thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đều có một đặc điểm chung là chuyển dịch tài sản của một người sau khi qua đời cho người khác nhận di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người có quyền hưởng di sản thừa kế là chủ sở hữu của những phần di sản được chia. Tuy nhiên, theo quy định về căn cứ xác lập quyền hưởng dụng tại Điều 258 BLDS năm 2015, thì người được chỉ định hưởng quyền hưởng dung theo di chúc của người để lại di sản chỉ có quyền khai thác, sử dụng tài sản để hưởng dụng tài sản và những lợi ích vật chất do tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng mang lại. Theo quy định về căn cứ xác lập quyền hưởng dụng tài sản, thì người hưởng dụng không được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản mình đang hưởng dụng. Người hưởng dụng có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi từ tài sản mình hưởng dụng như chủ sở hữu của tà sản. Người hưởng dụng có quyền hưởng dụng tất cả hoa lợi từ tài sản mình có quyền hưởng dụng. Quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc, có thể có những yếu tố liên quan do người lập di chúc đặt ra đối với người có quyền hưởng dụng: Về tài sản hưởng dụng là bất động sản hay động sản hay vườn cây hay diện tích nước nuôi trồng thủy sản, hải sản khác. Pháp luật dân sự hiện nay của Việt Nam không quy định cụ thể tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được liệt kê như thế nào. Nhưng theo quy định trong Bộ Dân luật Trung Kỳ, thì những tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng còn bao gồm: Khoản tiền thuê nhà, tiền lời của các khoản tiền cho vay, tiền lời cổ phần tham gia các hội, tiền trưng nộp về các hầm mỏ do người thứ ba đang khai thác, tiền lĩnh canh (Điều 581).

Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng theo di chúc đã tạo ra những điều kiện thuận lợi và có hiệu quả trong việc bảo tồn và khai thác khối tài sản là di sản thừa kế do người lập di chúc để lại. Bởi vì, khối tài sản thuộc quyền sở hữu của một người, sau khi người chủ sở hữu qua đời được để lại cho một hoặc nhiều người hưởng dụng là cá nhân hoặc pháp nhân; người hưởng dụng không phải là chủ sở hữu tài sản, mà chỉ có quyền sử dụng, khai thác tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng để hưởng phần hoa lợi, lợi tức do tài sản mang lại. Vì vậy, tài sản hưởng dụng là di sản của một người để lại cho người khác hưởng dụng mà không phải là chuyển giao quyền sở hữu tài sản, cho nên tài sản là đối tượng hưởng dụng không được chia thừa kế. Với việc để lại quyền hưởng dụng theo di chúc, thì những người thừa kế khác có quyền hưởng di sản theo pháp luật không được chia tài sản này như trường hợp thừa kế thông thường khác. Vì vậy, khối tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng vẫn được bảo tồn, không bị chia nhỏ thành nhiều phần như chia di sản thừa kế cho những người thừa kế có quyền hưởng di sản. Di tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng không được chia, cho nên việc sử dụng tài sản đó vẫn bình thường như khi người để lại tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng còn sống.

Đối với di sản của chủ sở hữu lập di chúc để lại cho người khác có quyền hưởng dụng là một doanh nghiệp, một công ty, một dây chuyền sản xuất của cơ sở sản xuất thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ khác nhau không bị chia nhỏ thành nhiều phần cho những người có quyền thừa kế; tài sản của người quá cố để lại quyền hưởng dụng theo di chúc vẫn được khai thác, sử dụng bình thường, theo đó sản xuất không bị phá vỡ, người lao động vẫn có việc làm và tính ổn định trong sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của người hưởng dụng tài sản vẫn được duy trì vào việc sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ vẫn phát triển mặc dù chủ sở hữu tài sản đã qua đời.

Đối tượng của quyền hưởng dụng vẫn được duy trì và giữ được mối đoàn kết giữa những người có quyền đối với tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng. Trên thực tế đời sống xã hội, có câu ngạn ngữ: “đánh nhau chia gạo, chào nhau ăn cơm”, thể hiện bản chất của các cá nhân trong trường hợp chia nhau các lợi ích, nhất là các lợi ích vật chất. Pháp luật quy định quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc đã đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của đời sống, xã hội đương thời.

Quyền hưởng dụng hóa giải được nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến di sản của người chết để lại, được thể hiện trong những trường hợp sau đây:

Thứ nhất, chủ sở hữu tài sản lập di chúc chỉ định người hưởng dụng tài sản của mình để lại sau khi chết, tránh được những tranh chấp xảy ra giữa những người thừa kế, tránh được nguy cơ phá vỡ một cơ sở sản xuất, một doanh nghiệp, một dây chuyền sản xuất… Nếu một dây chuyền sản xuất, một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của một người, theo lẽ thông thường thì sau khi chủ sở hữu những tài sản này qua đời, có thể để lại di chúc chỉ định người hưởng di sản hoặc người chủ sở hữu tài sản có để lại di chúc nhưng di chúc không có hiệu lực thi hành, thì di sản của người này được chia theo pháp luật. Việc chia di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật đã chia khối di sản của người chết để lại thành các phần tương ứng với phần mỗi người thừa kế có quyền hưởng. Từ nguyên nhân này mà khối tài sản của một nghiệp chủ bị phân chia và cơ sở sản xuất ngừng hoạt động do những người thừa kế không thỏa thuận để cùng duy trì doanh nghiệp, duy trì sản xuất. Nhưng quyền của một người hoặc nhiều người cùng được hưởng dụng doanh nhiệp, một cơ sở sản xuất, kinh doanh thì họ chỉ có quyền sử dụng các tư liệu sản xuất thuộc về chủ doanh nghiệp trước đó để duy trì, mở rộng, phát triển việc sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và tài sản của doanh nghiệp vẫn tồn tại, việc sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ không bị triệt tiêu.

Thứ hai, pháp luật quy định quyền hưởng dụng được xác lập theo di chúc. Quy định này là cơ sở pháp lý để chủ sở hữu tài sản lựa chọn cách định đoạt tài sản của mình sau khi chết cho người hưởng dụng được chỉ định trong di chúc chiếm hữu, sử dụng và thu được hoa lợi, lợi tức từ tài sản là đối tượng hưởng dụng. Theo quy định của pháp luật, người lập di chúc có quyền lựa chọn người có khả năng duy trì, sử dụng tài sản do mình để lại là bất kỳ ai hoặc là cá nhân thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc là người không thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc chỉ định cho pháp nhân được hưởng dụng tài sản. Việc lựa chọn người hưởng dụng tài sản do người để lại tài sản quyết định. Do vậy, trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại tài sản là đối tượng hưởng dụng, người lập di chúc chỉ định người này mà không chỉ định người kia là dựa vào khả năng của người có thể thực hiện được quyền hưởng dụng theo ý chí chủ quan của người lập di chúc. Người lập di chúc để lại tài sản cho người hưởng dụng là bất kỳ ai hoặc là người thuộc diện thừa kế theo luật hoặc là người không thuộc diện thừa kế theo luật mà là một cá nhân khác hoặc pháp nhân.

Thứ ba, quyền hưởng dụng được thực hiện nhằm giúp đỡ những chủ thể có nhu cầu sử dụng tài sản của người để lại tài sản một cách kịp thời mà không phải mất nhiều công sức, tài sản để tạo lập các tài sản để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của mình.

Thứ tư, trong cộng đồng dân cư, trong hộ gia đình có thể áp dụng quyền hưởng dụng một mảnh đất, ngôi nhà, vườn cây, ao cá… và những vật phẩm tiêu dùng khác giao được giao cho một người quản lý, sử dụng để khai thác những hoa lợi, lợi tức và người này được hưởng một phần trong số các hoa lợi thu được, phần hoa lợi còn lại để phục vụ cho việc duy trì nhà thờ của một họ, một tộc và người hưởng dụng này thực hiện các hành vi như một chủ sở hữu tài sản. Tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được quản lý, duy trì, phát triển do người có quyền hưởng dụng thực hiện./.

PGS.TS. PHÙNG TRUNG TẬP
Giảng viên cao cấp, Trường Đại học Luật Hà Nội

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp