/ Trợ giúp pháp lý
/ Quy định mới về các trường hợp từ chối giao khu vực biển

Quy định mới về các trường hợp từ chối giao khu vực biển

24/02/2026 15:01 |

(LSVN) - Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về nguyên tắc giao khu vực biển, các trường hợp từ chối giao khu vực biển vừa được Chính phủ ban hành.

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực biển và hải đảo. Đáng chú ý, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về nguyên tắc giao khu vực biển; các trường hợp từ chối giao khu vực biển; thẩm quyền giao, công nhận, cho phép trả lại khu vực biển; gia hạn, sửa đổi, bổ sung Quyết định giao khu vực biển; thu hồi khu vực biển; trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị giao khu vực biển.

Cụ thể, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 4 nhằm bổ sung thêm nguyên tắc khai thác tại một khu vực biển và nguyên tắc giải quyết sự trùng nhau về vị trí biển đề nghị giao. Trong một vùng biển có thể giao cho một hoặc nhiều tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích sử dụng nhưng không được mâu thuẫn với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác đang được phép tiến hành. Trên một khu vực biển chỉ giao cho một tổ chức, cá nhân thực hiện một hoặc nhiều mục đích khai thác, sử dụng tài nguyên biển.

Trường hợp có sự chồng lấn, trùng nhau về vị trí, phạm vi khu vực biển đề nghị giao thì giải quyết hồ sơ của tổ chức, cá nhân nộp trước đối với hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, được thể hiện trên Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ngoài ra, Nghị định 44/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5a nhằm đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ trong các quy định của pháp luật đối với các trường hợp từ chối giao khu vực biển.

Nghị định 44/2026/NĐ-CP quy định từ chối giao khu vực biển trong trường hợp phạm vi khu vực biển đề nghị sử dụng nằm trong các khu vực biển dưới đây, trừ trường hợp các cơ quan, đơn vị, tổ chức được giao quản lý hoặc pháp luật quy định cho phép tổ chức, cá nhân được thực hiện các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển tại các khu vực này:

- Khu vực sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh;

- Khu vực bảo vệ 1 của di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt, di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới;

- Khu vực thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái của vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế; khu vực có rừng đặc dụng đã được công bố theo quy định của pháp luật về môi trường, đa dạng sinh học, lâm nghiệp;

- Khu vực thuộc khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản;

 - Khu vực có hệ sinh thái cỏ biển, rạn san hô thuộc khu vực cần bảo vệ đặc biệt được xác định trong Quy hoạch không gian biển quốc gia;

- Khu vực có công trình dầu khí, thiết bị và công trình trên biển, vùng an toàn xung quanh các công trình này và các khu vực đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, công nhận khu vực biển.

HUY VŨ