/ Kinh tế - Pháp luật
/ Quy định về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Quy định về thủ tục thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

07/03/2026 07:15 |

(LSVN) - Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Nghị định này quy định chi tiết Điều 76, 77 và một số biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phục hồi, phá sản về thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, bao gồm: Thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản; định giá, bán tài sản và áp dụng biện pháp cưỡng chế; giám sát hoạt động của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

Theo Nghị định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành đối với mỗi quyết định tuyên bố phá sản. Trình tự ra quyết định, tổ chức thi hành và thông báo các văn bản liên quan được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Văn bản yêu cầu của Chấp hành viên gửi Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải ghi rõ thông tin doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, nội dung và phạm vi yêu cầu thực hiện.

Trường hợp Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản từ chối thi hành, họ phải có văn bản nêu rõ lý do gửi Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự trong thời hạn 3 ngày làm việc. Thẩm phán có trách nhiệm xem xét, ra quyết định thay đổi hoặc từ chối việc thay đổi và thông báo cho các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện. Các quyết định, văn bản về thi hành phá sản phải được gửi đến Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự và các chủ thể tham gia thủ tục phá sản trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ban hành.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Về xác minh điều kiện thi hành quyết định tuyên bố phá sản, Nghị định quy định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải thực hiện trong thời hạn 9 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Chấp hành viên. Người mắc nợ, người có tài sản bảo đảm có nghĩa vụ kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin liên quan và chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc kê khai.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định thi hành, Chấp hành viên phải có văn bản đề nghị Tòa án chuyển số tiền còn lại từ tài khoản do Tòa án chỉ định sang tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự để xử lý. Tòa án có trách nhiệm hoàn tất việc chuyển tiền trong vòng 7 ngày.

Đối với các khoản tiền thuê, tiền bán tài sản hoặc giá trị tài sản thu hồi, người mua, người nhận tài sản và các chủ thể có liên quan phải chuyển toàn bộ số tiền vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự, đồng thời thông báo cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản biết. Chi phí chuyển tiền được trích từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản tại thời điểm thực hiện giao dịch.

Nghị định cũng quy định cụ thể về ủy thác thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy thác cho một cơ quan thi hành án dân sự khác xử lý toàn bộ hoặc một phần quyết định phá sản, đặc biệt là các khoản có tài sản bảo đảm. Trong mọi trường hợp, cơ quan nhận ủy thác phải mở tài khoản riêng tại ngân hàng để gửi tiền thu được và thực hiện thanh toán theo đúng phương án phân chia tài sản được phê duyệt. Sau khi hoàn tất việc thi hành, cơ quan nhận ủy thác có trách nhiệm chuyển toàn bộ số tiền và hồ sơ cho cơ quan đã ủy thác, bảo đảm minh bạch, đúng quy định.

Đáng chú ý, Nghị định 64/2026/NĐ-CP cũng quy định thủ tục trả lại tài sản thuê hoặc mượn, theo đó trong vòng 3 ngày kể từ khi nhận được đề nghị và giấy tờ hợp lệ, Chấp hành viên phải chuyển hồ sơ cho Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để xem xét. Trong thời hạn 7 ngày, sau khi xác định chủ sở hữu đã thanh toán các nghĩa vụ còn lại, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và báo cáo bằng văn bản cho Chấp hành viên.

Về thanh toán tiền và thu phí thi hành, trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được tiền hoặc bàn giao tài sản, Chấp hành viên phải thực hiện thanh toán theo quyết định tuyên bố phá sản. Chi phí phát sinh trong quá trình thi hành được xác định là chi phí phá sản và được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Người được thi hành án phải nộp phí theo quy định; riêng trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tự thu được tiền từ việc bán tài sản mà không có cưỡng chế thì cơ quan thi hành án không thu phí.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, đồng thời quy định việc chuyển tiếp đối với các vụ việc phá sản đang được thi hành trước thời điểm có hiệu lực thì việc tổ chức thi hành được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 112/2025/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 12/6/2018 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc phối hợp trong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.

HUY VŨ