Từ nội dung vụ việc
Toà soạn Tạp chí Luật sư Việt Nam nhận được đơn thư của bà Lê Thị Sơn, trú tại khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ, phản ánh về việc, bà cùng với bốn chị em là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan, có gửi đơn khởi kiện gửi TAND tỉnh Phú thọ yêu cầu hủy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đứng tên người sử dụng đất là bà Lê Thị Đào và ông Nguyễn Danh Đông và yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với tài sản của bố bà là ông Lê Văn Lắm để lại.
Theo phản ánh của bà Sơn, ông Lê Văn Lắm (sinh năm 1922; chết năm 2005; HKTT trước khi chết: Khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ) cùng chung sống với bà Nguyễn Thị Ô (sinh năm: 1920; chết năm: 2018; HKTT trước khi chết: Khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ) và bà Nguyễn Thị Thế (chết năm 1993; HKTT trước khi chết: Khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ) từ trước ngày 03/01/1987. Việc chung sống với nhau giữa ông Lắm, bà Ô và bà Thế hoàn toàn tự nguyện, được họ hàng hai bên chứng kiến và chấp nhận. Ông Lắm và bà Ô sinh được một người con gái là bà Lê Thị Bền; ông Lắm và bà Thế sinh được 3 người con lần lượt là Lê Thị Sơn, Lê Thị Đào, Lê Thị Liễu. Ngoài ra, ông Lắm và bà Thế còn nhận một người con nuôi là ông Lê Văn Nguyên (có giấy tờ pháp lý theo quy định của pháp luật). Trước khi kết hôn với ông Lắm, bà Thế đã có một người con riêng là bà Đỗ Thị An. Năm 1993, mẹ bà Sơn là bà Nguyễn Thị Thế chết; năm 2005, bố bà Sơn chết do tuổi cao sức yếu. Sau khi bố mẹ đẻ bà Sơn chết, năm 2009, bà Nguyễn Thị Ô đã về ở cùng ông Nguyên và ông Nguyên đã chăm sóc, phụng dưỡng bà Ô. Đến năm 2018, do tuổi cao, sức khỏe yếu, bà Ô chết.
Trong quá trình ông Lắm chung sống với bà Ô và bà Thế, cả ba người đã cùng chung sức tạo lập được một khối tài sản chung là diện tích đất với tổng diện tích 18.160m2 (mười tám nghìn một trăm sáu mươi mét vuông). Ngày 15/3/2001, diện tích đất này đã được UBND huyện Yên Lập (cũ), tỉnh Phú Thọ cấp cho hộ ông Lê Văn Lắm, số vào sổ cấp GCNQSDĐ số 00943. Sau khi ông Lắm, bà Thế, bà Ô chết, hàng thừa kế thứ nhất được hưởng phần di sản thừa kế bao gồm bà Lê Thị Bền, bà Đỗ Thị An, bà Lê Thị Sơn, bà Lê Thị Đào, bà Lê Thị Liễu, ông Lê Văn Nguyên.
Tuy nhiên, năm 2014, phần lớn diện tích đất mà ông Lắm, bà Thế, bà Ô để lại đã được cấp đổi lại và thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị Đào và ông Nguyễn Danh Đông. Việc cấp đổi QSDĐ từ ông Lắm sang vợ chồng ông Đông bà Đào, bà Sơn cùng các đồng thừa kế khác không được biết.
Sau khi bà Thế, ông Lắm và bà Ô chết, bà Sơn cùng các đồng thừa kế khác có ý muốn dùng một phần diện tích đất trong tổng diện tích đất của bố mẹ để lại để xây dựng nghĩa trang, thờ cúng bố mẹ và xây dựng nhà từ đường để con cháu sau này có chỗ thờ tự ông bà tổ tiên, tuy nhiên, việc làm này không được ông Đông bà Đào đồng ý. Ông Đông nói rằng việc sang tên QSDĐ là hợp pháp do ông Lắm và bà Ô để lại di chúc đồng ý cho ông Đông, bà Đào toàn bộ diện tích đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

Mặc dù bị “cấm thay đổi hiện trạng”, công trình xây dựng trên thửa đất tranh chấp vẫn tiếp tục được xây dựng.
Tuy nhiên, theo bà Sơn được biết, nội dung của bản di chúc do bố bà để lại không chỉ rõ vị trí đất nào cho ông Đông, bà Đào (nội dung di sản để lại theo ý muốn của bố bà Sơn cho ông Đông, bà Đào, bao gồm một số tài sản: Nhà gỗ 6 gian 4 hàng chân; một sân gạch 62m2; 1 bộ trưởng kép, 1 chiếc đồng hồ quả lắc; 1 tủ kính kể bàn thờ tổ tiên; 1 con trâu đực đen 7 tuổi; 1 cái vườn 4 sào trong vườn có 7 cây gỗ mít, 5 cây gỗ soan, 11 cây quế; 1 cái ao sau vườn 2 sào thả cá, ruộng 2 sào đồng cảo, ruộng một lúa một màu 6 sảo 8 thước và một khu đất trồng màu ước 3 sảo). Ngoài ra, trong bản di chúc, ông Lắm còn nhắc đến việc để lại 3 gò lá cọ và 8 búi diễn hợp ở sau vườn, đến sau khi ông Lắm chết sẽ giao cho con gái và cháu nội. Tài sản mả ông Lắm viết di chúc để lại với nội dung “Bản di chúc lập tự cho con gái” là tài sản chung của ông Lắm, bà Thế, bà Ô. Bản di chúc do ông Đông, bà Đào nắm giữ không có chữ ký của bà Ô, nghĩa là bà Ô không được định đoạt phần tải sản này mà hoàn toàn do ông Lắm quyết định, mặc dù đây là tài sản chung của vợ chồng. Hơn thế nữa, mặc dù mẹ đẻ của bà Sơn là bà Nguyễn Thị Thế mất sớm (năm 1993), nhưng khối tài sản với diện tích 18.160m2 là do cả ba người: ông Lắm, bà Thế, bà Ô cùng tạo lập mà có. Trong nội dung của bản di chúc do ông Lắm để lại còn ràng buộc trách nhiệm của ông Đông, bà Đảo, khi được hưởng quyền thừa kế di sản là phải có “trách nhiệm nuôi ông bà tôi khi còn sống và lúc chết phải có nghĩa vụ chôn cất cho ông bà tôi không được ai thay thế”. Tuy nhiên, sau khi ông Lắm chết, đến năm 2009, bà Ô đã phải về ở cùng với con trai là ông Lê Văn Nguyên đến khi chết. Toàn bộ quá trình mai táng bà Ô do ông Nguyên lo liệu.
Sau đó, để tránh mất tinh cảm gia đình giữa anh em trong nhà, bà Sơn đã làm đơn yêu cầu các ban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương hòa giải, tuy nhiên, ông Đông bà Đào không đồng ý thỏa thuận, nên hòa giải không thành.
Bà Sơn cho rằng, việc ông Đông, bà Đào tự ý sang tên phần lớn diện tích đất trong tổng diện tích đất do bố mẹ bà để lại là trái với quy định của pháp luật, bản di chúc bố bà để lại không hợp pháp. Chính vì lẽ đó, bà Sơn có nguyện vọng yêu cầu TAND tỉnh Phú Thọ căn cứ theo các quy định của pháp luật để xem xét và phân chia di sản thừa kế đối với các di sản thừa kế do bố mẹ bà để lại. Đồng thời hủy GCNQSDĐ đứng tên người sử dụng đất là bà Lê Thị Đảo và ông Nguyễn Danh Đông, bao gồm: Thửa đất số: 176, tờ bản đồ số: 82, Diện tích: 6548,1m2 (trong đó: ONT: 400m2; LNK: 6148,1m); Thửa đất số: 89, tờ bản đồ số: 82, Diện tích: 1075,0m2, mục đích sử dụng: LNC; Thửa đất số: 157, 211,72,85,128,88, tờ bản đồ: 82,83,96; Diện tích: 4813,9 m2.
Cấm thay đổi hiện trạng vẫn ngang nhiên thi công
Sau khi xem xét đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bà Lê Thị Sơn, là nguyên đơn trong Vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-DS ngày 08/7/2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và yêu cầu hủy GCNQSDĐ”, ngày 04/3/2026, TAND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Quyết định số 01/2026/QĐ-BPKCTT áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” buộc bà Lê Thị Đào và ông Nguyễn Danh Đông (là bị đơn trong vụ án nêu trên), đều có địa chỉ: Khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ tạm dừng các hành vi làm thay đổi hiện trạng thửa đất số 176, tờ bản đồ số 82, diện tích 6.548m và thửa đất số 89, tờ bản đồ số 82, diện tích 1.075m2, đều có địa chỉ tại: Khu Xuân Hương, xã Sơn Lương, tỉnh Phú Thọ.

Quyết định số 01/2026/QĐ-BPKCTT của TAND tỉnh Phú Thọ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp”.
Cũng trong ngày 04/3/2026, THADS tỉnh Phú thọ cũng ban hành Quyết định số 8485/QĐ-THADS buộc bà Lê Thị Đào và ông Nguyễn Danh Đông tạm dùng các hành vi làm thay đổi hiện trạng thửa đất trên.

Quyết định THA chủ động số 8485/QĐ-THADS của THADS tỉnh Phú thọ yêu cầu tạm dùng các hành vi làm thay đổi hiện trạng thửa đất đang tranh chấp.
Mặc dù từ khi nhận quyết định “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” nhưng gia đình ông Đông, bà đào vẫn xây dựng công trình nhà cấp 4, bê tông, cốt thép trên thửa đất đang tranh chấp.
Qua trao đổi với bà Đinh Thị Thuý Hường, Trưởng Phòng Kinh tế xã Sơn Lương cho biết, thực hiện theo Quyết định số 01/2026/QĐ-BPKCTT ngày 04/3/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, sau khi nhận được tin báo của bà Sơn, UBND xã Sơn Lương đã lập tổ công tác xuống hiện trường 3 lần để kiểm tra và vào ngày 14/4/2026, có lập biên bản làm việc. Hiện trạng tại khu vực thửa đất số 176, tờ bản đồ 82, diện tích 490,0 m² (tương đương tờ bản đồ 407 xã Sơn Lương). Tại thửa đất, ông Đông đang xây dựng nhà ở cấp IV, diện tích xây dựng 170m², hiện tại đã xây xong phần tường chiều cao 3,3m, gia đình đang tiến hành chuẩn bị lợp mái.
Đoàn làm việc đã yêu cầu hộ ông Đông tạm dừng thi công, chấp hành theo Quyết định số 01/2026/QĐ-BPKCTT của TAND tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, bà Hường cho biết, bây giờ vụ việc đang được Toà án giải quyết, phía UBND xã Sơn Lương sẽ tiếp tục tích cực phối hợp giải quyết.
Về vấn đề trên, theo Luật sư Đặng Văn Mão, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hùng Dũng, thuộc Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho biết, việc Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” về bản chất nhằm giữ nguyên hiện trạng tài sản, tránh phát sinh thêm hậu quả pháp lý, ngăn chặn việc làm phức tạp tranh chấp và bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện. Do đó, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đều có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự.
Theo quy định tại Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải nghiêm chỉnh chấp hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Về hành vi không chấp hành quyết định “Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” là việc tự ý sửa chữa, tháo dỡ, xây dựng thêm hoặc tác động làm thay đổi hình dạng, diện tích, kết cấu, giá trị của tài sản khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp đương sự có điều kiện chấp hành nhưng cố tình trốn tránh, tiếp tục thi công hoặc cản trở hoạt động thi hành án thì được xem là hành vi cố tình không thi hành án theo quy định pháp luật.
Căn cứ khoản 5 Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cá nhân không chấp hành bản án, quyết định hoặc không thực hiện các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Đồng thời, theo Điều 92 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, khi phát hiện hành vi vi phạm, Chấp hành viên có quyền lập biên bản, yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản. Trường hợp đương sự không tự nguyện chấp hành, cơ quan THADS có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định từ Điều 71 đến Điều 92 của Luật Thi hành án dân sự nhằm buộc tháo dỡ hoặc xóa bỏ phần công trình, tài sản bị thay đổi trái phép để khôi phục hiện trạng ban đầu như thời điểm quyết định cấm được ban hành.
Ngoài ra, căn cứ Khoản 3 Điều 64 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hành vi không thực hiện hoặc cản trở việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Bên cạnh trách nhiệm hành chính và dân sự, người có hành vi cố tình không chấp hành quyết định của Tòa án, tiếp tục làm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp hoặc cản trở hoạt động thi hành án dù đã được yêu cầu chấm dứt còn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015 về “Tội không chấp hành án” theo đó, tùy tính chất, mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm và có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
PV

