/ Bút ký Luật sư
/ Sự cần thiết của đại biểu Quốc hội là luật sư trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Sự cần thiết của đại biểu Quốc hội là luật sư trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

12/03/2026 12:22 |

(LSVN) - Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn để làm rõ sự cần thiết của đại biểu Quốc hội là luật sư, tập trung vào ba vai trò cốt lõi: vai trò trong công tác lập pháp; vai trò trong hoạt động giám sát; và vai trò đối với cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp có tính xây dựng nhằm tăng cường sự hiện diện và phát huy hiệu quả đóng góp của luật sư trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì nhân dân phục vụ trong kỷ nguyên mới.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đang tập trung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng đội ngũ đại biểu Quốc hội - đặc biệt là thành phần có chuyên môn pháp lý thực tiễn như luật sư hành nghề - ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết và mang ý nghĩa chiến lược. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn để làm rõ sự cần thiết của đại biểu Quốc hội là luật sư, tập trung vào ba vai trò cốt lõi: vai trò trong công tác lập pháp; vai trò trong hoạt động giám sát; và vai trò đối với cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các nhóm giải pháp có tính xây dựng nhằm tăng cường sự hiện diện và phát huy hiệu quả đóng góp của luật sư trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vì nhân dân phục vụ trong kỷ nguyên mới.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

1. Đặt vấn đề

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong các chức năng chính và là hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền như Việt Nam hiện nay thì công tác lập pháp này càng trở nên cấp thiết và cần được quan tâm hàng đầu. Đó không chỉ là việc xây dựng, ban hành các văn bản mới, mà còn là hoạt động rà soát, điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các quy định đã ban hành nhằm kịp thời đáp ứng các yêu cầu thực tiễn cuộc sống và phù hợp với tình hình phát triển chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước. Các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành đóng vai trò then chốt, chúng không những là hoạt động thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, thể hiện ý chí chung của nhân dân, mà còn là những văn bản pháp lý quan trọng mang tính bao trùm nhằm điều chỉnh các lĩnh vực xã hội khác nhau, là “nguồn” là “cơ sở, căn cứ”  để hệ thống hành pháp như Chính phủ, các Bộ ngành, Địa phương căn cứ triển khai áp dụng thực hiện[1].​

Xét trên thực tiễn hiện nay, hoạt động lập pháp hiện nay vẫn có những khoảng cách nhất định so với yêu cầu thực tiễn. Đến nay, đang có khoảng 90% các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là do Chính phủ soạn thảo, điều này phản ánh tính cấp thiết, nhu cầu làm luật xuất phát từ thực tiễn hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan thực thi pháp luật. Một thực tiễn cho thấy, xây dựng các dự án luật do chính bộ, ngành liên quan chủ trì đang có tình trạng “tư duy bộ ngành” - những gì phù hợp, có lợi cho quản lý, hoạt động của mình sẽ được ưu tiên, đề cao. Bên cạnh đó, theo kết quả khảo sát thực trạng nhân lực làm công tác xây dựng pháp luật được ghi nhận tại Bộ Tư pháp, có tới 83% cán bộ thẩm định và 77% cán bộ thẩm tra cho rằng kỹ năng chuyên môn còn hạn chế và cần chuẩn hóa; tại địa phương, 79% người được hỏi đánh giá nguồn nhân lực làm công tác soạn thảo, thẩm định, thẩm tra vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng[2]. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi cấp thiết “Tại sao Quốc Hội không nâng cao thực chất, chất lượng lập pháp có sự tham gia chính thức, thực chất của những chuyên gia pháp lý hành nghề luật sư - những người hằng ngày đối mặt với pháp luật từ phía người dân và doanh nghiệp?​”

Nghị quyết số 48[3]-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, đã xác định rõ chủ trương “nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội”, trong đó nhấn mạnh việc “tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật”. Đây là tư tưởng chỉ đạo có tính nhất quán, đặt nền móng lý luận cho yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ đại biểu, đặc biệt là thành phần có chuyên môn pháp lý chuyên sâu trong thực tiễn. Tiếp nối và nâng cao định hướng đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII[4] đã đặt ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng lãnh đạo, có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân. Đến năm 2025, Nghị quyết số 66[5]-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Giá trị tri thức của người hành nghề luật sư được coi trọng và “luật sư công” như là một cơ chết kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị được ghi tại nghị quyết này đã tiếp tục khẳng định: Nhà nước pháp quyền không chỉ được củng cố bằng ý chí hay quyết tâm chính trị, mà còn phải bằng chuẩn mực pháp lý nghiêm cẩn, cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả và niềm tin xã hội được nuôi dưỡng từ công lý.

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả bài viết này tập trung luận giải sự cần thiết phải có đại biểu Quốc hội là luật sư, đồng thời làm rõ những đóng góp thiết thực mà thành phần này có thể mang lại cho hoạt động của Quốc hội trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Nội dung

2.1. Điều kiện tiên quyết của đại biểu Quốc hội và lợi thế vốn có của luật sư

Theo quan điểm của tác giả, đại biểu Quốc hội là người được nhân dân tín nhiệm bầu, hoạt động của Đại biểu tại các Kỳ họp Quốc Hội là cơ quan Quyền lực cao nhất của nhân dân nhằm đảm bảo thực hiện quyền làm chủ và bảo đảm các quyền của nhân dân. Theo đó, điều kiện tiên quyết và cơ bản nhất đối với bất kỳ đại biểu Quốc hội nào cũng chính là sự am hiểu pháp luật, trước khi xét đến bất kỳ tiêu chí nào khác về lĩnh vực chuyên môn hay thành phần đại diện. Đây không phải là yêu cầu mang tính hình thức, mà là điều kiện nền tảng xuất phát từ bản chất và chức năng của Quốc hội với tư cách là cơ quan lập pháp - nơi mà mỗi quyết định, mỗi phiếu biểu quyết đều có thể định hình khuôn khổ pháp lý cho toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của quốc gia. Một đại biểu thiếu tri thức pháp luật căn bản sẽ khó có thể thẩm định đúng đắn chất lượng của một dự án luật, nhận diện những bất cập tiềm ẩn trong từng điều khoản, hay đưa ra kiến nghị xác đáng trong quá trình thảo luận và biểu quyết thông qua luật. Điều đó đồng nghĩa với việc mỗi đại biểu Quốc hội, dù đại diện cho lĩnh vực nào, thành phần nào, cũng phải sở hữu nền tảng am hiểu pháp luật như một điều kiện không thể thiếu để thực thi đúng đắn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.

Luật sư, theo quy định tại Điều 3 Luật Luật sư năm 2006[6] (sửa đổi, bổ sung năm 2012), với chức năng xã hội cốt lõi là “...góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được chức năng đó, người hành nghề luật sư phải trải qua quá trình đào tạo pháp luật có hệ thống tại các cơ sở đào tạo luật, tiếp tục được đào tạo nghề tại Học viện Tư pháp. Đặc biệt, luật sư phải tích lũy kiến thức qua hoạt động thực tiễn trong quá trình hành nghề tranh tụng (cả hình sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính…), tư vấn pháp lý (cả tư vấn trong tất cả các quan hệ xã hội như tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính, tư vấn thương mại, tư vấn hành chính, tư vấn hôn nhân gia đình,…). Sự am hiểu pháp luật của luật sư đạt được cả chiều sâu, chiều rộng, cả hạ tầng và thượng tầng của tháp kiến thức. Không dừng lại ở lý thuyết hàn lâm mà bao gồm cả khả năng áp dụng pháp luật vào các tình huống thực tiễn phức tạp nhất.

Vì vậy, khi một luật sư trở thành đại biểu Quốc hội, điều kiện tiên quyết - am hiểu pháp luật - đã được đáp ứng một cách tự nhiên, các giá trị thực chất được vận dụng ngay vào thực tiễn nghị trường để nâng cao chất lượng xây dựng luật, tăng cường tính giám sát tối cao, bảo vệ quyền lợi ích của nhân dân và tham gia vào cải cách tư pháp. Hơn thế nữa, kỹ năng nghiên cứu khoa học pháp lý của luật sư không chỉ dừng lại ở kiến thức pháp lý hàn lâm, mà còn được hun đúc và kiểm chứng qua thực tiễn hành nghề thường xuyên, liên tục trong các lĩnh vực đa dạng của đời sống pháp lý. Đây là giá trị đặc biệt quan trọng, Quốc Hội hiên nay thường tổ chức các khóa bồi dưỡng kiến thức pháp luật ngắn hạn cho các đại biểu không chuyên ngành luật. Các khoá bồi dưỡng pháp luật không thể đào tạo nên một bề dạy kinh nghiệm pháp lý. Đối với Luật sư, nền tảng tri thức pháp luật, không chỉ trên các văn bản, mà còn pháp luật trong cả quá trình hành nghề lâu dài đúc kết từ thực tiễn. Kinh nghiệm thực tiễn độc đáo đó, khi được đưa vào nghị trường Quốc hội, sẽ có lợi thế tạo ra chiều sâu và tính xác thực cho các lập luận pháp lý mà không có thành phần đại biểu nào khác có thể thay thế. Thực tiễn lịch sử Việt Nam cũng đã minh chứng điều này: ngay từ những ngày đầu của Nhà nước cách mạng, luật sư đã có mặt trong bộ máy lãnh đạo chủ chốt - điển hình là Luật sư Vũ Trọng Khánh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên trong Chính phủ Cách mạng lâm thời (1945), đặc biệt, chính ông là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao có công đầu trong việc chắp bút khởi thảo bản Hiến pháp năm 1946 - văn bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những tư tưởng vượt thời đại về quyền con người, quyền công dân[7].​

2.2. Vai trò của luật sư - đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp

Lập pháp là chức năng trung tâm, là sứ mệnh hiến định của Quốc hội. Tuy nhiên, chất lượng lập pháp không chỉ phụ thuộc vào quy trình, thủ tục hay nguồn lực kỹ thuật, mà phụ thuộc sâu sắc vào năng lực của từng đại biểu trong việc đánh giá, phản biện và sáng kiến lập pháp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tại các nền dân chủ pháp quyền phát triển, việc soạn thảo luật đều được thực hiện rất chuyên nghiệp bởi các luật sư: tại Vương quốc Anh, “luật sư nghị viện” (parliamentary counsel) thuộc Văn phòng Cố vấn nghị viện - thành lập từ năm 1869 - là những người thực hiện công việc cốt lõi là chuyển đổi các định hướng chính sách thành quy phạm pháp lý cụ thể[8]; tại Canada, người soạn thảo luật tại Chi nhánh Dịch vụ Lập pháp thuộc Bộ Tư pháp Canada phải là luật sư, được đào tạo chuyên nghiệp về kỹ năng soạn thảo văn bản theo từng lĩnh vực[9]; tại Úc, toàn bộ 50 người soạn thảo luật tại Văn phòng Cố vấn Nghị viện (OPC) đều là luật sư[10]. Điều này minh chứng cho thực tiễn phổ quát rằng hoạt động lập pháp chuyên nghiệp không thể tách rời năng lực pháp lý của đội ngũ luật sư.​

Tại Việt Nam, mặc dù pháp luật đã có quy định về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong đó có sự tham gia của Liên đoàn Luật sư Việt Nam với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng thực tế hoạt động này đến nay vẫn còn khá hạn chế. Luật sư hiện nay ở Việt Nam không phải là công chức, viên chức, không chịu sự chi phối, tác động bởi các bộ ngành nhất định nên có thể bảo đảm tính khách quan về quan điểm cũng như tính toàn diện hơn trong quá trình soạn thảo, xây dựng, phản biện các văn bản pháp luật, tránh được “tư duy bộ ngành”. Ý kiến đóng góp của luật sư - đại biểu Quốc hội trong công tác xây dựng pháp luật không chỉ mang yếu tố lập pháp thuần túy mà còn là yếu tố phản chiếu thực tiễn áp dụng pháp luật vào ngay trong quá trình lập pháp. Luật sư, thông qua hoạt động tranh tụng và tư vấn hằng ngày, tiếp cận trực tiếp những bất cập, mâu thuẫn và lỗ hổng của pháp luật thực định - những điều mà cán bộ soạn thảo làm việc trong môi trường khác không dễ có điều kiện nhận thấy đầy đủ. Thực tiễn đã ghi nhận: khi Bộ luật Hình sự năm 2015 ban hành, chính luật sư là người đầu tiên phát hiện ra những điểm trùng lắp, sai sót và phản ánh với cơ quan có thẩm quyền để kịp thời chỉnh sửa. Đây là minh chứng sống động cho giá trị không thể thay thế của luật sư hành nghề thực tiễn trong việc bảo đảm chất lượng và tính khả thi của pháp luật[11]. Khi đại biểu Quốc hội mang trong mình chuyên môn của luật sư, điều đó không chỉ là lợi thế cho bản thân người đại biểu, mà là lợi thế cho toàn bộ quá trình xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia[12].​

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã xác định công tác xây dựng pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế, đồng thời chuyển tư duy lập pháp theo hướng “pháp luật không chỉ là phương tiện quản lý mà phải mang tính dẫn dắt để phục vụ sáng tạo và phát triển”, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Nghị quyết đặt người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, hướng đến huy động mọi nguồn lực và tạo môi trường pháp lý minh bạch, công bằng để người dân và doanh nghiệp tham gia vào phát triển kinh tế-xã hội. Trong tinh thần đó, luật sư hành nghề - với tư cách là người đại diện cho lợi ích dân sự, am hiểu pháp luật và có kỹ năng phản biện chuyên nghiệp - nếu đồng thời là đại biểu Quốc hội, sẽ không chỉ đưa tiếng nói của xã hội vào nghị trường mà còn bảo đảm tiếng nói đó được diễn đạt bằng ngôn ngữ pháp lý chính xác, có căn cứ và có trọng lượng thuyết phục cao trong quá trình thảo luận và biểu quyết thông qua luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đặt ra mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật “dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi”, đồng thời khẳng định nhiệm vụ “tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật, giỏi về kỹ năng hành nghề và ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế”. Với những phẩm chất và năng lực được Đảng xác định như vậy, theo quan điểm của tác giả, đội ngũ luật sư hoàn toàn đủ điều kiện và cần được tạo cơ chế phù hợp để tham gia tích cực hơn vào hoạt động lập pháp, góp phần bảo đảm chất lượng và tính khả thi của pháp luật.

2.3. Vai trò của luật sư - đại biểu Quốc hội trong hoạt động giám sát

Giám sát tối cao là một trong ba chức năng hiến định của Quốc hội, bên cạnh lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, chức năng giám sát chỉ thực sự phát huy tác dụng khi đại biểu không chỉ biết “nói” mà còn biết “hỏi đúng” - tức là có đủ năng lực chuyên môn để nhận diện những vi phạm pháp luật tiềm ẩn trong hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp, nhận ra những hành vi lạm quyền ẩn sau những văn bản có vẻ hợp thức, và đặt những câu hỏi chất vấn có chiều sâu pháp lý buộc phải được trả lời đến tận cùng. Đây chính là điểm mà đại biểu là luật sư sở hữu lợi thế vượt trội so với nhiều thành phần khác. Luật sư, bởi bản chất nghề nghiệp, không chỉ nắm vững các quy định pháp luật mà còn thường xuyên đối mặt với những trường hợp pháp luật bị áp dụng sai, quyền công dân bị xâm phạm, các cơ quan nhà nước vượt quá thẩm quyền được giao. Kinh nghiệm thực tiễn phong phú đó là nền tảng không thể thiếu để thực hiện hoạt động giám sát một cách thực chất và hiệu quả.

Theo quan điểm của tác giả, khi chuyên môn hành nghề luật sư được vận dụng vào chức năng giám sát của Quốc hội, đại biểu có thể phân tích các báo cáo công tác của cơ quan hành pháp và tư pháp từ góc độ tuân thủ pháp luật, nhận diện những sai phạm có hệ thống trong áp dụng pháp luật, và kiến nghị chấn chỉnh kịp thời. Không dừng lại ở giám sát pháp lý thuần túy, đại biểu là luật sư còn có thể phát huy vai trò giám sát từ góc độ bảo vệ quyền con người và quyền công dân - những giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đặt lên hàng đầu: “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân”. Trong quá trình hành nghề, luật sư thường xuyên tiếp xúc với các cá nhân, tổ chức trong thế yếu trước bộ máy công quyền, từ đó tích lũy nhận thức thực chứng về những khoảng cách giữa pháp luật thành văn và pháp luật được thực thi trên thực tế - những khoảng cách mà chỉ người đứng về phía người dân mới thực sự trải nghiệm và thấu hiểu.​

Đặc biệt, từ thực tiễn hành nghề tố tụng, luật sư - đại biểu Quốc hội có điều kiện nhận diện những biểu hiện vi phạm nguyên tắc độc lập tư pháp, những bất cập trong cơ chế kiểm soát quyền lực nội tại của hệ thống tư pháp - những vấn đề mà Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định mục tiêu “hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý mọi hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động tư pháp; bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Mục tiêu này chỉ có thể trở thành hiện thực nếu hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện bởi những đại biểu có đủ năng lực pháp lý để phát hiện và gọi tên đúng những sai phạm đó - và luật sư, với kinh nghiệm thực tiễn hành nghề tố tụng, chính là những người có vị thế đặc biệt để đảm nhận trọng trách đó. Sự nhận thức thực chứng của luật sư về khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn, khi được mang vào nghị trường, bảo đảm hoạt động giám sát của Quốc hội thực sự xuất phát từ lợi ích của nhân dân, phản ánh đúng tinh thần “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” mà các văn kiện của Đảng đã nhất quán khẳng định.​

2.4. Vai trò của luật sư - đại biểu Quốc hội trong cải cách tư pháp và phòng chống tham nhũng

Cải cách tư pháp và phòng chống tham nhũng là hai trụ cột không thể tách rời trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra mục tiêu “đẩy mạnh cải cách tư pháp, hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Đây là những mục tiêu đòi hỏi không chỉ quyết tâm chính trị, mà còn cần có những đại biểu trong Quốc hội thực sự hiểu cấu trúc và vận hành của hệ thống tư pháp từ bên trong - hiểu từ những phiên xét xử, từ những cuộc tranh tụng, từ những lần bào chữa trong hành lang của sự thật pháp lý. Và đó chính là những gì luật sư mang đến cho Quốc hội[13].

Tác giả cho rằng, từ vai trò giám sát của Quốc hội có thể phát sinh trực tiếp yêu cầu và cơ sở để thực hiện cải cách tư pháp một cách thực chất. Đại biểu là luật sư, với kinh nghiệm tranh tụng, biết rõ những “điểm nghẽn” của hệ thống tư pháp: từ sự không nhất quán trong áp dụng pháp luật giữa các cấp tòa đến những rào cản tiếp cận công lý của người dân; từ những bất cập trong tố tụng hình sự dẫn đến nguy cơ oan sai đến những lỗ hổng trong cơ chế kiểm soát quyền lực của cơ quan điều tra và truy tố. Khi tham gia vào Ủy ban Tư pháp hoặc Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, đại biểu là luật sư có thể đề xuất các kiến nghị cải cách tư pháp mang tính thực tiễn cao, được kiểm chứng từ kinh nghiệm hành nghề trực tiếp thay vì chỉ dựa trên lý thuyết hàn lâm hay số liệu báo cáo của chính các cơ quan tư pháp. Đây là loại kiến nghị có tính xây dựng thực chất, phản ánh đúng những gì cần được cải cách và có khả năng thuyết phục cao trên diễn đàn Quốc hội[14].

Trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, đóng góp của đại biểu là luật sư mang thêm một hướng tiếp cận đặc thù và không thể thay thế. Tham nhũng thường ẩn mình sau những cơ chế pháp lý có vẻ hợp thức - những “kẽ hở luật pháp” được cố ý tạo ra hoặc dung dưỡng để trục lợi, những quy định thiếu minh bạch tạo điều kiện cho sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật. Luật sư, với kỹ năng phân tích văn bản pháp luật và nhận diện những điểm thiếu sót, mâu thuẫn trong quy định pháp lý, có thể phát hiện và cảnh báo về những lỗ hổng tiềm ẩn rủi ro tham nhũng ngay từ giai đoạn xây dựng, thẩm tra dự án luật - ngăn chặn từ gốc những cơ chế có thể bị lợi dụng cho mục đích tư lợi hay nói cách khác là ngăn chặn tham nhũng chính sách. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động chất vấn trong kỳ họp Quốc hội, đại biểu là luật sư có thể đặt câu hỏi sắc sảo, có căn cứ pháp lý cụ thể về những vụ việc tham nhũng và những biểu hiện vi phạm nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước - tạo sức ép giải trình thực chất đối với cơ quan hành pháp và tư pháp trước cử tri và toàn thể xã hội. Nghị quyết số 66-NQ/TW đã khẳng định yêu cầu thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật do Tổng Bí thư Tô Lâm làm Trưởng ban, thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc kiểm soát quyền lực và chống lại những biểu hiện lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật - và luật sư - đại biểu Quốc hội là một trong những chủ thể quan trọng nhất để hiện thực hóa quyết tâm đó từ bên trong cơ quan lập pháp cao nhất[15].​

3. Thảo luận

Nhìn vào thực trạng cơ cấu đại biểu Quốc hội hiện nay, có thể thấy một số vấn đề cần được thẳng thắn nhìn nhận và thảo luận. Theo Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15[16] ngày 10/11/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XVI, tổng số đại biểu dự kiến là 500 người, trong đó tỷ lệ đại biểu là người ngoài Đảng đạt ít nhất 25 đại biểu (5%) và đại biểu chuyên trách ít nhất 40%. Mặc dù Nghị quyết này đã thể hiện sự quan tâm đến việc nâng cao chất lượng và tính đại diện của đội ngũ đại biểu, nhưng chưa có quy định cụ thể về cơ cấu dành riêng cho thành phần có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn - đặc biệt là luật sư. Đây là một khoảng trống cần được nghiên cứu, xem xét trong các nhiệm kỳ tiếp theo.​

Tác giả chia sẻ rằng, một luận điểm thường được nêu ra là vấn đề về “xung đột lợi ích” khi luật sư hành nghề đồng thời là đại biểu Quốc hội. Luận điểm này không phải không có cơ sở, nhưng cần được nhìn nhận một cách toàn diện và khách quan. Thứ nhất, hầu hết các quốc gia có truyền thống pháp quyền đều có luật sư hành nghề trong nghị viện, và đều giải quyết vấn đề này bằng cơ chế quản lý xung đột lợi ích (conflict of interest) rõ ràng, chứ không phải bằng cách loại trừ luật sư khỏi cơ quan lập pháp. Thứ hai, bản thân Luật sư Việt Nam không phải là công chức, viên chức, không chịu sự chi phối, tác động bởi các bộ ngành nhất định, nên trên nhiều phương diện lại có vị thế trung lập hơn so với những đại biểu đang giữ chức vụ trong cơ quan hành pháp hay tư pháp. Thứ ba, lợi ích nghề nghiệp của luật sư gắn liền với môi trường pháp luật lành mạnh, minh bạch và thượng tôn pháp quyền - bởi đó chính là môi trường nuôi dưỡng sự phát triển của nghề luật. Đây tạo nên một “cơ chế kiểm soát tự nhiên”: phản biện pháp lý của đại biểu là luật sư không chỉ xuất phát từ chuyên môn mà còn từ lợi ích nghề nghiệp gắn liền với môi trường pháp lý công bằng và minh bạch.​

Thực tiễn lập pháp của Quốc hội Việt Nam từ khóa XI đến nay cũng cho thấy những kết quả đáng ghi nhận khi các luật sư và người có chuyên môn pháp lý hành nghề tham gia đóng góp ý kiến cho các dự án luật. Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến đóng góp xây dựng pháp luật, riêng năm 2023 đã đóng góp cho 25 văn bản pháp luật và các văn bản khác theo yêu cầu của các cơ quan. Những đóng góp đó đã được ghi nhận là có chất lượng cao về lý luận và thực tiễn, nhưng vẫn dừng lại ở mức độ “góp ý bên ngoài” - không phải là tiếng nói biểu quyết trực tiếp trên nghị trường. Khoảng cách giữa “góp ý từ bên ngoài” và “quyết định từ bên trong” chính là khoảng cách mà sự hiện diện của luật sư - đại biểu Quốc hội có thể lấp đầy.​

Ngoài ta, tác giả thiết nghĩ, Cũng cần thẳng thắn nhìn nhận một thách thức thực tiễn khác: áp lực về thời gian và sự phân tán giữa hoạt động hành nghề luật sư và nhiệm vụ đại biểu Quốc hội. Đây là thách thức có thật và cần được giải quyết bằng cơ chế tổ chức phù hợp, chứ không phải bằng cách lý luận rằng thách thức này không tồn tại. Tuy nhiên, thách thức này cũng không khác về bản chất so với thách thức mà các đại biểu kiêm nhiệm trong nhiều lĩnh vực khác đang phải đối mặt. Giải pháp nằm ở chỗ xây dựng cơ chế hỗ trợ đại biểu chuyên môn pháp lý thực hiện tốt cả hai vai trò, không phải ở chỗ từ bỏ một trong hai. Đây là bài toán tổ chức, không phải là rào cản lý luận đối với sự cần thiết của đại biểu là luật sư.

4. Giải pháp

Để phát huy hiệu quả vai trò của luật sư trong cơ quan lập pháp cao nhất, phù hợp với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tác giả mạnh dạn đề xuất cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách về cơ cấu đại biểu Quốc hội có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn. 

Trong quá trình xây dựng Nghị quyết về số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội cho các nhiệm kỳ tiếp theo, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần nghiên cứu bổ sung cơ cấu định hướng dành riêng cho đại biểu có chuyên môn pháp lý hành nghề thực tiễn, bao gồm luật sư. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW khi yêu cầu “tăng hợp lý tỉ lệ đại biểu chuyên trách, có trình độ, hiểu biết về pháp luật” và định hướng của Nghị quyết số 66-NQ/TW về nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật thông qua việc huy động rộng rãi các chủ thể chuyên môn vào quá trình lập pháp. Thực chất, đây không phải là yêu cầu ưu đãi riêng cho giới luật sư, mà là yêu cầu xuất phát từ đòi hỏi khách quan của chất lượng lập pháp và hiệu quả giám sát.

Thứ hai, sửa đổi Luật Luật sư và Luật Tổ chức Quốc hội để tạo cơ sở pháp lý đồng bộ. 

Nhiều đại biểu Quốc hội đang thúc đẩy việc sửa đổi căn bản Luật Luật sư, trong đó có yêu cầu thể chế hóa kịp thời Nghị quyết số 27-NQ/TW về tăng cường xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Trong lần sửa đổi này, cần xem xét bổ sung quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ và cơ chế quản lý xung đột lợi ích đối với luật sư đang đảm nhiệm vị trí đại biểu Quốc hội, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong cả hai vai trò. Đồng thời, Luật Tổ chức Quốc hội cũng cần xem xét bổ sung các quy định tạo điều kiện để luật sư duy trì chứng chỉ hành nghề trong thời gian đảm nhận nhiệm vụ đại biểu, tránh tình trạng luật sư phải từ bỏ hoàn toàn chuyên môn - vốn là nền tảng cho những đóng góp thiết thực nhất của họ tại nghị trường[17].​

Thứ ba, thiết lập cơ chế huy động luật sư vào hoạt động tư vấn chuyên môn cho Quốc hội. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nghị viện hiện đại đều có đội ngũ luật sư chuyên nghiệp tham mưu cho đại biểu trong quá trình thẩm tra dự án luật. Việt Nam cần tăng cường vai trò của Viện Nghiên cứu lập pháp và thiết lập cơ chế huy động luật sư có kinh nghiệm tham gia tư vấn chuyên sâu trong quá trình thẩm tra các dự án luật quan trọng, đặc biệt ở các lĩnh vực tư pháp, hình sự và dân sự. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu để sớm hình thành đội ngũ luật sư công (public lawyers) làm việc trong hệ thống các cơ quan lập pháp với chức năng chính là tư vấn, rà soát, tham mưu và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật - giải pháp đã được đề xuất trong nhiều nghiên cứu chuyên sâu về lập pháp và được Tạp chí Nhân Dân đề cập trong bài viết về “Mô hình luật sư công trên thế giới và định hướng cho Việt Nam” vào tháng 11/2025[18].

Thứ tư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư chủ động giới thiệu, bồi dưỡng và hỗ trợ luật sư tiêu biểu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội. 

Liên đoàn Luật sư Việt Nam, với tư cách là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có đầy đủ cơ sở pháp lý và vị thế tổ chức để chủ động đề xuất và giới thiệu những luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, có chuyên môn sâu tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội trong các kỳ bầu cử. Quá trình này không phải là đặc cách hay ưu đãi, mà là việc phát huy đúng vai trò của tổ chức nghề nghiệp trong cơ chế hiệp thương đề cử đại biểu - một cơ chế vốn đã được thiết kế để bảo đảm tính đại diện rộng rãi và chất lượng của đội ngũ đại biểu Quốc hội.

Thứ năm, xây dựng và hoàn thiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp về quản lý xung đột lợi ích đối với luật sư kiêm nhiệm chức vụ đại biểu Quốc hội. 

Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần nghiên cứu ban hành hoặc bổ sung vào Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam những quy định cụ thể về những trường hợp luật sư - đại biểu Quốc hội phải từ chối tham gia biểu quyết hoặc phải công khai khai báo lợi ích khi thảo luận các vấn đề liên quan đến lĩnh vực hành nghề hoặc khách hàng của mình. Điều này không chỉ bảo vệ uy tín cá nhân của đại biểu mà còn góp phần xây dựng hình ảnh Quốc hội minh bạch, liêm chính - yêu cầu không thể thiếu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đang nỗ lực xây dựng.

Thứ sáu, tăng cường bồi dưỡng kiến thức về hoạt động nghị trường cho luật sư. 

Đi đôi với việc đại biểu Quốc hội cần am hiểu pháp luật, luật sư muốn phát huy hiệu quả vai trò đại biểu cũng cần được trang bị kiến thức về quy trình nghị viện, kỹ năng thảo luận và tranh luận tại Quốc hội, và phương pháp tiếp cận các vấn đề kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô. Liên đoàn Luật sư Việt Nam phối hợp với Viện Nghiên cứu lập pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Huế..., tổ chức các chương trình bồi dưỡng chuyên biệt cho luật sư tham gia ứng cử và đang đảm nhiệm vai trò đại biểu Quốc hội trên phạm vi cả nước, bảo đảm sự phát triển toàn diện về năng lực của người đại biểu nhân dân có chuyên môn pháp lý.

5. Kết luận

Như vậy, sự cần thiết của đại biểu Quốc hội là luật sư trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phải là một mệnh đề lý luận trừu tượng, mà là yêu cầu thực tiễn xuất phát từ chính bản chất và chức năng của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan thực hiện quyền lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Điều kiện tiên quyết của bất kỳ đại biểu Quốc hội nào là sự am hiểu pháp luật - và luật sư hành nghề đã sở hữu lợi thế đó ngay từ đầu, như một điều kiện vốn có không cần phải xây dựng thêm. Qua ba vai trò cốt lõi trong lập pháp, giám sát, và cải cách tư pháp - phòng chống tham nhũng, đại biểu Quốc hội là luật sư mang đến cho nghị trường không chỉ kiến thức pháp lý, mà còn là kinh nghiệm thực tiễn sống động từ phía người dân và doanh nghiệp - những chủ thể mà pháp luật được tạo ra để phục vụ và bảo vệ.

[1] Liêu Chí Trung. (2025). Luật sư tham gia “làm luật”: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Luật sư Việt Nam Online https://lsvn.vn/luat-su-tham-gia-lam-luat-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-a151318.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

[2] Bùi Thu Hằng. (2019). Chuyên nghiệp hóa trong soạn thảo văn bản pháp luật – từ kinh nghiệm quốc tế. Bộ Tư pháp https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2499, cập nhật ngày 05/03/2026.

[3] Bộ Chính trị. (2005). Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Hà Nội.

[4] Bộ Chính trị. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Hà Nội.

[5] Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Hà Nội.

[6] Quốc hội. (2006). Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 20/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012). Hà Nội.

[7] Liêu Chí Trung. (2025). Luật sư tham gia “làm luật”: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Luật sư Việt Nam Online https://lsvn.vn/luat-su-tham-gia-lam-luat-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-a151318.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

[8] The Constitution Society. (2024). Office of the Parliamentary Counsel. https://consoc.org.uk/office-of-the-parliamentary-counsel/, cập nhật ngày 05/03/2026.

[9] Department of Justice Canada. (2021). Legal roles: Legislative drafting. https://justice.gc.ca/eng/abt-apd/recru/lr-ra.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

[10] Parliament of Australia. (1970). Parliamentary Counsel Act 1970 (Cth). https://www.austlii.edu.au/cgi-bin/viewdb/au/legis/cth/consol_act/pca1970243/, cập nhật ngày 05/03/2026.

[11] Võ Văn Thành. (2016). 90 lỗi của Bộ luật Hình sự có thể “kéo” 3 luật bị đình trệ. VnExpress. https://vnexpress.net/90-loi-cua-bo-luat-hinh-su-co-the-keo-3-luat-bi-dinh-tre-3427595.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

[12] Liêu Chí Trung. (2025). Luật sư tham gia “làm luật”: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Luật sư Việt Nam Online https://lsvn.vn/luat-su-tham-gia-lam-luat-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-a151318.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

[13] Nguyễn Huy Phượng. (2025). Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tạp Chí Khoa học Kiểm sát, 11(95). https://doi.org/10.59554/tckhks.v11i95.654.

[14] Nguyễn Thị Huyền Trang. (2025). Hoạt động bào chữa của luật sư trong vụ án tham nhũng tại Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

[15] Lưu Tiến Dũng, Nguyễn Linh. (2025). Nghị quyết 66-NQ/TW và trách nhiệm của luật sư trong xây dựng nhà nước pháp quyền số hóa. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/nghi-quyet-66-nq-tw-va-trach-nhiem-cua-luat-su-trong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-so-hoa-a159491.html, cập nhật ngày 06/03/2026.

[16] Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hà Nội.

[17] Lê Anh. (2024). Cần thiết sửa đổi căn bản, toàn diện Luật Luật sư. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. https://quochoi.vn/tintuc/pages/goc-nhin.aspx?ItemID=91442, cập nhật ngày 06/03/2026.

[18] Thiên Vương. (2025). Mô hình luật sư công trên thế giới và định hướng cho Việt Nam. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/mo-hinh-luat-su-cong-tren-the-gioi-va-dinh-huong-cho-viet-nam-post926757.html, cập nhật ngày 06/03/2026.

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1.                 Bộ Chính trị. (2005). Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Hà Nội.

2.                 Bộ Chính trị. (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Hà Nội.

3.                 Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Hà Nội.

4.                 Bùi Thu Hằng. (2019). Chuyên nghiệp hóa trong soạn thảo văn bản pháp luật – từ kinh nghiệm quốc tế. Bộ Tư pháp https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2499, cập nhật ngày 05/03/2026.

5.                 Department of Justice Canada. (2021). Legal roles: Legislative drafting. https://justice.gc.ca/eng/abt-apd/recru/lr-ra.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

6.                 Lê Anh. (2024). Cần thiết sửa đổi căn bản, toàn diện Luật Luật sư. Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. https://quochoi.vn/tintuc/pages/goc-nhin.aspx?ItemID=91442, cập nhật ngày 06/03/2026.

7.                 Liêu Chí Trung. (2025). Luật sư tham gia “làm luật”: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Luật sư Việt Nam Online https://lsvn.vn/luat-su-tham-gia-lam-luat-mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien-a151318.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

8.                 Lưu Tiến Dũng, Nguyễn Linh. (2025). Nghị quyết 66-NQ/TW và trách nhiệm của luật sư trong xây dựng nhà nước pháp quyền số hóa. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. https://lsvn.vn/nghi-quyet-66-nq-tw-va-trach-nhiem-cua-luat-su-trong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-so-hoa-a159491.html, cập nhật ngày 06/03/2026.

9.                 Nguyễn Huy Phượng. (2025). Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tạp Chí Khoa học Kiểm sát, 11(95). https://doi.org/10.59554/tckhks.v11i95.654

10.             Nguyễn Thị Huyền Trang. (2025). Hoạt động bào chữa của luật sư trong vụ án tham nhũng tại Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

11.             Parliament of Australia. (1970). Parliamentary Counsel Act 1970 (Cth). https://www.austlii.edu.au/cgi-bin/viewdb/au/legis/cth/consol_act/pca1970243/, cập nhật ngày 05/03/2026.

12.             Quốc hội. (2006). Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội (được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 20/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012). Hà Nội.

13.             The Constitution Society. (2024). Office of the Parliamentary Counsel. https://consoc.org.uk/office-of-the-parliamentary-counsel/, cập nhật ngày 05/03/2026.

14.             Thiên Vương. (2025). Mô hình luật sư công trên thế giới và định hướng cho Việt Nam. Báo Nhân Dân. https://nhandan.vn/mo-hinh-luat-su-cong-tren-the-gioi-va-dinh-huong-cho-viet-nam-post926757.html, cập nhật ngày 06/03/2026.

15.             Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 1891/NQ-UBTVQH15 ngày 10/11/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hà Nội.

16.             Văn Đức. (2026). Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết công tác, hoạt động năm 2025 và phương hướng công tác, hoạt động năm 2026. Liên đoàn Luật sư Việt Nam. https://liendoanluatsu.org.vn/lien-doan-luat-su-viet-nam-to-chuc-hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-hoat-dong-nam-2025-va-phuong-huong-cong-tac-hoat-dong-nam-2026/, cập nhật ngày 05/03/2026.

17.             Võ Văn Thành. (2016). 90 lỗi của Bộ luật Hình sự có thể “kéo” 3 luật bị đình trệ. VnExpress. https://vnexpress.net/90-loi-cua-bo-luat-hinh-su-co-the-keo-3-luat-bi-dinh-tre-3427595.html, cập nhật ngày 05/03/2026.

TS.LS. NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Trường Đại học Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.