Mở rộng đối tượng NNT để tránh thất thu và đảm bảo cạnh tranh công bằng
Luật Quản lý thuế 2025 đã bổ sung một nhóm đối tượng thuộc diện người nộp thuế (NNT). Đó là các tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, có phát sinh thu nhập tại Việt Nam, hoặc kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số[1]. Các quy định này sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng hơn giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước vì doanh nghiệp Việt từ trước đến nay luôn chịu sự giám sát, phải đầu tư nguồn lực để kê khai và nộp thuế theo quy định. Việc mở rộng đối tượng NNT cũng giúp cơ quan thuế theo dõi và kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài không hiện diện thương mại tại Việt Nam, bảo đảm các đối tượng này thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ.
Ngoài ra, Luật đã bãi bỏ hình thức thuế khoán đối với hộ, cá nhân kinh doanh để thiết lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa đối tượng này với các doanh nghiệp đang hoạt động, xóa bỏ khoảng chênh ngày càng lớn giữa thực tế kinh doanh của hộ, cá nhân và phương thức thu thuế khoán. Từ ngày 01/01/2026, 100% hộ, cá nhân kinh doanh sẽ áp dụng phương pháp tự khai, tự nộp thuế theo doanh thu thực tế như quy định tại Điều 13 Luật Quản lý thuế 2025. Bên cạnh các nghĩa vụ luật định mới, việc hệ thống và minh bạch hóa trong hoạt động kế toán - thuế cũng giúp hộ, cá nhân kinh doanh dễ dàng hơn trong việc mở rộng quy mô, tiếp cận tín dụng, hay tham gia chuỗi cung ứng chuyên nghiệp.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Phân nhóm NNT để chấm điểm rủi ro và đánh giá mức độ tuân thủ
Quy định phân nhóm NNT là bước chuyển từ mô hình quản lý thủ công, dàn trải sang quản lý theo rủi ro và tuân thủ. Theo quy định mới, thay vì áp dụng một cơ chế quản lý chung như trước, doanh nghiệp sẽ được phân nhóm để áp dụng các biện pháp, quy trình quản lý và giám sát phù hợp.
Cơ quan thuế sẽ thực hiện việc phân nhóm dựa trên các tiêu chí như ngành nghề, lĩnh vực, đặc thù, phương thức hoạt động; loại hình pháp lý, cơ cấu sở hữu; quy mô hoạt động, quy mô doanh thu, số nộp ngân sách; mức độ và lịch sử tuân thủ pháp luật[2]. Mức độ rủi ro về thuế của một doanh nghiệp được xác định và đánh giá dựa trên mức độ tuân thủ của doanh nghiệp đó. Theo Điều 34 Luật Quản lý thuế 2025, các thông tin nền tảng mà cơ quan thuế ghi nhận để đánh giá và phân nhóm là thông tin về tần suất vi phạm, tính chất và mức độ của hành vi vi phạm, mức độ hợp tác với cơ quan quản lý thuế trong việc thực hiện thủ tục, kiểm tra, thanh tra và chấp hành quyết định xử lý thuế.
Với quy định này, doanh nghiệp tuân thủ tốt sẽ được hưởng các chế độ ưu tiên trong khi doanh nghiệp từng sai phạm, khai báo doanh thu thấp hơn thực tế, lập hóa đơn sai hoặc không đầy đủ... sẽ chịu sự giám sát nghiêm ngặt hơn. Đây là cơ sở để ngành thuế triển khai hiệu quả cơ chế hậu kiểm; cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra không trùng lặp, giảm áp lực cho doanh nghiệp và tạo động lực tuân thủ. Mặt khác, các trường hợp thiếu minh bạch sẽ đối diện với nguy cơ kiểm tra lại về thuế theo Điều 22 Luật Quản lý thuế 2025. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động trang bị nguồn lực trong hoạt động kế toán - thuế để hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình, tránh bị xếp vào nhóm rủi ro cao gây ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Ứng dụng công nghệ để xử lý bao quát và tự động các thủ tục hành chính
Từ năm 2026, việc quản lý thuế trong toàn bộ hoạt động của cơ quan quản lý và NNT sẽ được triển khai dựa trên nền tảng công nghệ số và dữ liệu lớn. Điều 32, 33, 35 Luật Quản lý thuế 2025 đã có quy định về hạ tầng, hệ thống và ứng dụng công nghệ trong công tác này. Văn bản, thông báo, quyết định của cơ quan quản lý thuế sẽ được ban hành tự động, hướng đến loại bỏ thủ tục cấp các loại giấy tờ và trả kết quả bằng bản giấy.
Toàn bộ hoạt động thu thập, xử lý dữ liệu về thuế, phân loại NNT sẽ được ứng dụng khoa học công nghệ. Phương thức nộp thuế điện tử quy định tại Luật Quản lý thuế 2025 đã được triển khai thực hiện trên thực tế [3]. Theo đó, doanh nghiệp, tổ chức có thể khai và nộp thuế qua Trang thông tin điện tử của Cục Thuế; hộ, cá nhân kinh doanh thì lựa chọn 01 trong 03 nền tảng để thực hiện bao gồm: (i) Trang thông tin điện tử của Cục Thuế; (ii) Ứng dụng eTax Mobile; hoặc (iii) Cổng Dịch vụ công Quốc gia. Điều 14 Luật này cũng quy định cơ quan thuế và cơ quan hải quan phải cấp mã định danh đối với các khoản phải nộp để NNT tiện theo dõi và hoàn thành nghĩa vụ. Qua đó, NNT có thể dễ dàng tra cứu tình trạng hồ sơ, trao đổi với cơ quan có thẩm quyền, và đưa ra kiến nghị, yêu cầu của mình.
Ngoài ra, công tác hoàn thuế, miễn, giảm thuế sẽ dần được triển khai trên cơ sở dữ liệu, tiêu chí quản lý rủi ro, quy trình xử lý tự động, và bảo đảm an toàn thông tin [4]. Ở chiều ngược lại, NNT phải đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, bảo mật và truy xuất sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ điện tử để chia sẻ với cơ quan quản lý theo Luật Quản lý thuế 2025. Hộ, cá nhân kinh doanh thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền thì có thể kết nối dữ liệu với cơ quan thuế để được hệ thống gợi ý, hỗ trợ lập tờ khai thuế và tính thuế [5].
Và một số quy định mới đáng lưu ý khác
Thứ nhất, theo Điều 12 Luật Quản lý thuế 2025, thời hạn khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi có sai, sót đã được rút ngắn từ 10 năm xuống 05 năm. Với quy định này, doanh nghiệp sẽ đối diện với áp lực kê khai thuế chính xác và bổ sung hồ sơ đúng hạn, đặc biệt trong các dự án quy mô lớn hoặc “dài hơi” thường khó phát hiện sai, sót liên quan đến ưu đãi về thuế, chi phí được trừ khi tính thuế...
Thứ hai, doanh nghiệp khai bổ sung làm tăng số thuế phải nộp và/ hoặc giảm số thuế được khấu trừ, miễn, giảm, hoàn thì vẫn bị xử lý theo quy định như đối với trường hợp bị cơ quan thuế phát hiện.[6] Luật Quản lý thuế 2025 có quy định chuyển tiếp là các khoản tiền thuế nợ đến hết ngày 30/6/2026 thì sẽ được xử lý theo Luật này nên doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành rà soát để khắc phục vi phạm, tránh bị xử phạt theo quy định mới.
Ngoài ra, Luật Quản lý thuế 2025 đã phân định rõ trách nhiệm trong việc hoàn thành nghĩa vụ thuế của các bên tham gia giao dịch chuyển nhượng vốn, dự án đầu tư. Theo Điều 17 Luật này, tổ chức và cá nhân “mang quốc tịch” Việt Nam chịu trách nhiệm xác định, kê khai, khấu trừ, thậm chí nộp thay số thuế phải nộp của tổ chức, cá nhân nước ngoài. Quy định này tăng cường quản lý thuế và chống thất thu đối với hoạt động chuyển nhượng vốn, dự án đầu tư nhưng cũng vô hình trung đặt ra thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt. Đặc biệt trong trường hợp họ là bên nhận chuyển nhượng mà phải kiểm soát và thực hiện thay nghĩa vụ thuế của bên phát sinh thu nhập.
Để thích ứng với thời đại số, Luật Quản lý thuế 2025 đã đặt nền tảng cho cơ chế quản lý thuế điện tử, chuyển trọng tâm từ kiểm soát đồng bộ sang giám sát theo rủi ro và tuân thủ. Các quy định mới góp phần chống gian lận thuế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng hơn, nhưng cũng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về tính minh bạch và chủ động của NNT. Điều này đòi hỏi NNT có sự chuẩn bị để thích ứng với cơ chế mới, giảm thiểu rủi ro và phát triển theo hướng bền vững.
[1] Điểm b, c khoản 1 Điều 2 Luật Quản lý thuế 2025.
[2] Khoản 2 Điều 3 Luật Quản lý thuế 2025.
[3] Điểm a khoản 2 Điều 14 Luật Quản lý thuế 2025.
[4] Khoản 4 Điều 18, khoản 3 Điều 19 Luật Quản lý thuế 2025.
[5] Điểm b khoản 1 Điều 13 Luật Quản lý thuế 2025.
[6] Điểm đ khoản 5 Điều 12 Luật Quản lý thuế 2025.
Luật sư PHẠM THANH HUY
NGUYỄN TƯỜNG AN CHI

