(LSVN) - Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm chế định luật sư công do Bộ Tư pháp xây dựng đang được dư luận quan tâm, đặc biệt giới luật sư.
Các luật sư tham gia phiên tòa chờ kiểm tra an ninh trước khi vào phòng xử tại TP. HCM. Ảnh: HỮU HẠNH.
Dự thảo sẽ được trình Quốc hội khóa XVI xem xét tại Kỳ họp thứ nhất. Vậy chế định luật sư công cũng như nhu cầu luật sư công hiện nay ra sao?
Trao đổi với Tuổi Trẻ về xoay quanh vấn đề này, Tiến sĩ, Luật sư Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam nói: "Thực tế trong quá trình vận hành bộ máy nhà nước, chính quyền các cấp, các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước thường phải đối diện với các vấn đề pháp lý phức tạp cần giải quyết, các tranh chấp phát sinh mà lợi ích của Nhà nước có nguy cơ bị xâm phạm.
Bối cảnh, tình hình nêu trên đặt ra yêu cầu có đội ngũ luật sư công chuyên nghiệp để đại diện pháp lý cho Nhà nước trong các mối quan hệ pháp lý thương mại, đầu tư, hành chính, đất đai, tranh tụng quốc tế và công việc bảo vệ lợi ích công là rất cần thiết".
Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước
* Nhiều người tò mò luật sư công là ai và nguồn luật sư công nên lấy từ đâu?
- Luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, cán bộ thuộc doanh nghiệp nhà nước được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các hoạt động có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên nguồn trở thành luật sư công còn bao gồm các luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia có kinh nghiệm đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài khu vực công lập được tiếp nhận vào làm cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang theo chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc.
Về phạm vi công việc của luật sư công là về cơ bản không khác các phạm vi cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư hiện nay, nhưng chú trọng việc tư vấn, đại diện cho cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tại trung ương và địa phương; doanh nghiệp nhà nước trong tố tụng, giải quyết, thi hành án các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, xây dựng và triển khai các dự án kinh tế - xã hội; các vụ, việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài và các công việc có tính chất pháp lý khác.
Phạm vi hoạt động của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động của pháp chế cơ quan, đơn vị.
* Theo ông, nhu cầu đại diện pháp lý, bảo vệ lợi ích cho Nhà nước, lợi ích công trong quá trình vận hành và giải quyết tranh chấp hiện nay như thế nào?
Luật sư Phan Trung Hoài.
- Kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp cho thấy số lượng vụ kiện hành chính được thụ lý năm 2024 tăng 31,68% so với năm 2020.
Do tính chất phức tạp, khó khăn trong việc triệu tập người bị kiện là chính quyền tham gia tố tụng hành chính, khả năng bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước bị hạn chế. Hiện nay có 2.981 dự án tồn đọng, kéo dài nhiều năm với giá trị nguồn lực rất lớn của xã hội đang bị lãng phí do còn vướng mắc về pháp lý liên quan đến quản lý, sử dụng đất đai, quy hoạch.
Bên cạnh đó, việc đàm phán, ký kết và thực hiện các hợp đồng thương mại quốc tế, dự án đầu tư quốc tế do Chính phủ hoặc các tổ chức nhà nước tham gia ngày càng trở nên phức tạp, nguy cơ rủi ro pháp lý ngày càng gia tăng.
Tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế (trong khuôn khổ WTO hay các hiệp định thương mại tự do), tranh chấp về công pháp quốc tế (tranh chấp biên giới, lãnh thổ...) đang ngày càng trở nên phổ biến và phức tạp đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Thậm chí đã có nhiều vụ nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra trọng tài quốc tế liên quan đến các dự án đầu tư dưới hình thức PPP, BOT, BCC hay các hiệp định bảo hộ đầu tư do Việt Nam đã ký kết với các quốc gia khác (giai đoạn 2020 - 2025 đã ghi nhận 53 vụ tranh chấp quốc tế liên quan đến các hoạt động đầu tư và thương mại của Việt Nam).
Một số vụ kiện quốc tế không có sự tham gia của luật sư, hoặc luật sư chỉ được mời khi đã quá muộn, tiêu hao nguồn lực rất lớn cả về tài chính, nhân lực và thời gian, gây ra áp lực lớn về mặt uy tín, hình ảnh của môi trường đầu tư Việt Nam trên trường quốc tế.
Ngoài ra, thực tiễn cho thấy khiếu nại - tố cáo, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến đất đai, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, vẫn chiếm tỉ lệ lớn và phức tạp, trở thành "điểm nóng", gây áp lực lớn cho các cơ quan có thẩm quyền.
Tiêu chuẩn khắt khe hơn luật sư hiện hành
* Nghề nghiệp luật sư lâu nay được coi là ngành nghề tự do, với những quy định về luật sư công như ông nêu thì có bị bó buộc không?
- Trong quá trình xây dựng đề án trình các cơ quan có thẩm quyền, có ý kiến quan ngại việc thí điểm hình thành chế định luật sư công có ảnh hưởng đến thể chế thống nhất nghề luật sư ở Việt Nam, cũng như ảnh hưởng tính độc lập, chịu trách nhiệm về nghề nghiệp của luật sư công. Đề án và dự thảo nghị quyết đã làm rõ được những băn khoăn vnói trên.
Trước hết, mô hình tổ chức luật sư công thể hiện không hình thành cơ quan, tổ chức luật sư công độc lập, mà cơ quan, tổ chức nơi luật sư công làm việc trực tiếp quản lý luật sư công theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan công an, quân đội nhân dân và pháp luật về luật sư công.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về luật sư công với nhiệm vụ cụ thể của Bộ Tư pháp, UBND cấp tỉnh, Sở Tư pháp địa phương, các bộ, ngành liên quan.
Như vậy bên cạnh việc luật sư công ít nhất phải đảm bảo tiêu chuẩn của luật sư theo quy định của Luật Luật sư, có các quyền và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật, nguồn luật sư công thu hút từ các luật sư không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.
Đề án và dự thảo Nghị quyết đặt nặng vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của luật sư công khắt khe hơn so với tiêu chuẩn luật sư hiện hành, đồng thời quy định các giải pháp nhằm bảo đảm tính độc lập, tự chịu trách nhiệm về nghề nghiệp và theo pháp luật với tư cách là luật sư công.
* Vậy cùng với các tiêu chuẩn khắt khe như vậy, chính sách có gì vượt trội để quy tụ nhân lực luật sư công?
- Đề án và dự thảo nghị quyết của Quốc hội về thí điểm chế định luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải có cơ chế chính sách phù hợp, vượt trội đối với luật sư công; có cơ chế thu hút, sử dụng luật sư ở khu vực tư nhân giỏi về chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng tranh tụng, kỹ năng giải quyết tranh chấp quốc tế, có tâm huyết, trách nhiệm, vì lợi ích quốc gia, dân tộc tham gia cùng luật sư công để giải quyết các vấn đề pháp lý ở khu vực công.
Với việc xác định luật sư công phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức của luật sư; và Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Đoàn Luật sư các tỉnh, thành phố là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư công, có thể nói việc hình thành chế định luật sư công là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công, nằm trong thể chế thống nhất phát triển nghề luật sư ở Việt Nam.
Với chế định luật sư công, bộ máy nhà nước có được sự trợ giúp pháp lý để vận hành và quyết sách đúng đắn, tố tụng tư pháp có được sự đối trọng cần thiết tạo thành bản chất dân chủ và người dân sẽ là người thụ hưởng cuối cùng, bởi mục tiêu, lợi ích của Đảng, Nhà nước suy cho cùng cũng là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp và sự an bình của người dân.
Luật sư Phan Trung Hoài
Mô hình luật sư công ở các nước ra sao?
Các luật sư tham gia phiên tòa tại TP. HCM. Ảnh: HỮU HẠNH.
* Các mô hình luật sư công hiện nay ra sao, và theo ông, các mô hình này có thuận lợi và bất lợi gì?
- Các chuyên gia tham gia đề án đã cung cấp các dữ liệu tham khảo ở nhiều quốc gia có nghề luật phát triển có hình thành chế định luật sư công với hai mô hình phổ biến.
Mô hình luật sư công là luật sư tư nhân được Nhà nước thuê (điển hình là nước Pháp) không tuyển dụng luật sư làm công chức; khi cần bảo vệ lợi ích công hoặc đại diện cho Nhà nước trước tòa án, Nhà nước sẽ ký hợp đồng thuê các chuyên gia từ đoàn luật sư theo từng vụ việc cụ thể.
Mô hình kết hợp luật sư công chức và luật sư tư được Nhà nước thuê với cơ chế linh hoạt, tùy yêu cầu công việc để huy động nhân sự.
Tuy nhiên về tư cách thành viên của luật sư công trong tổ chức xã hội - nghề nghiệp có quy định rất khác nhau và tùy vào hệ thống pháp luật của mỗi nước. Ví dụ tại Anh, Mỹ và Canada, luật sư công bắt buộc (Anh, Canada) hoặc được khuyến khích (Mỹ) tham gia các hiệp hội nghề nghiệp, có tiếng nói và quyền lợi bình đẳng với luật sư tư.
Tại Trung Quốc, luật sư công tham gia hiệp hội nghề nghiệp (hiệp hội luật sư) nhưng sự quản lý, đánh giá trực tiếp vẫn thuộc về Bộ Tư pháp và cơ quan chủ quản.
Ở Nhật Bản, luật sư công thuộc ngạch công chức tư pháp do Bộ Tư pháp quản lý, trong khi hiệp hội nghề nghiệp (Liên đoàn Luật sư) chỉ quản lý luật sư tư.
Như vậy, tại Nhật Bản và Trung Quốc có sự tách biệt rõ ràng hơn. Theo đó, luật sư công chịu sự quản lý hành chính chặt chẽ từ Bộ Tư pháp hoặc cơ quan chủ quản, ít phụ thuộc vào hiệp hội nghề nghiệp.
Riêng tại Úc, việc tham gia hiệp hội nghề nghiệp là hoàn toàn tự nguyện đối với cả luật sư công và luật sư tư. Luật sư công bảo vệ lợi ích công cộng/nhà nước; luật sư tư bảo vệ lợi ích khách hàng đa dạng hơn, bao gồm khu vực tư nhân và khu vực công.
Đại biểu Quốc hội khóa XV NGUYỄN HỮU THÔNG (Lâm Đồng):
Chế định luật sư công là yêu cầu cấp bách
Thời gian qua cũng đã có nhiều văn bản của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành tạo cơ sở pháp lý khác cho việc hình thành chế định luật sư công. Tuy định hướng đã rõ nhưng nhìn vào hệ thống pháp luật hiện hành có thể thấy chế định luật sư công chưa được quy định trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào.
Trên thực tiễn, trong khu vực công đã có nhiều chuyên gia, nhà khoa học pháp lý thực hiện những công việc giống như luật sư thời gian qua cùng với Chính phủ, cơ quan nhà nước tháo gỡ những vấn đề vướng mắc. Thế giới cũng có nhiều nước thực thi chế định luật sư công có hiệu quả.
Do vậy, xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho chế định luật sư công là yêu cầu cấp bách để mô hình này có thể ra đời và hoạt động hiệu quả, minh bạch, đúng pháp luật trong giai đoạn phát triển mới hiện nay.
Để chế định luật sư công có thể hình thành và hoạt động hiệu quả, bên cạnh khung pháp lý, một yếu tố mang tính quyết định chính là cơ chế chính sách và các điều kiện bảo đảm. Nói cách khác, cần tiếp tục rà soát để tạo ra môi trường thuận lợi về tổ chức, nhân sự, tài chính và cơ sở vật chất để các luật sư công yên tâm cống hiến, phát huy tối đa vai trò của mình.
Về lâu dài, cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản liên quan nhằm "luật hóa" vị trí nghề nghiệp của luật sư công.
Thí điểm tại 8 bộ, 10 tỉnh thành
Dự thảo quy định đối tượng được công nhận luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, cán bộ doanh nghiệp nhà nước, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, liêm chính.
Tờ trình của Bộ Tư pháp về việc thực hiện thí điểm chế định luật sư công và được áp dụng đối với 8 bộ gồm Công an, Quốc phòng, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Công thương, Ngoại giao, Nông nghiệp và Môi trường; và UBND 10 tỉnh, thành gồm Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bắc Ninh.
Theo Bộ Tư pháp, việc lựa chọn các bộ, ngành và địa phương để thực hiện thí điểm được căn cứ trên cơ sở kết quả khảo sát trong quá trình xây dựng đề án. Theo đó, các bộ được đưa vào để thực hiện thí điểm là các bộ quản lý nhiều lĩnh vực phức tạp, thường phát sinh khiếu nại, tranh chấp quốc tế hoặc phải tham gia ý kiến pháp lý cho cơ quan nhà nước.
UBND tại các tỉnh thành được lựa chọn là địa phương có điều kiện kinh tế phát triển, phát sinh hoặc tiềm ẩn nguy cơ phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện hành chính, tranh chấp đầu tư và thời gian qua đã ban hành chính sách để thu hút luật sư tham gia vào việc công.
Thống nhất tiêu chuẩn luật sư công
Luật sư trình bày quan điểm bào chữa trong một vụ án xét xử ở Hà Nội. Ảnh: GIANG LONG.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh đã làm việc với Cục Bổ trợ tư pháp về dự thảo nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công. Ông thống nhất tiêu chuẩn của luật sư công; nguồn để hình thành đội ngũ luật sư công; chế độ, chính sách của luật sư công...
Theo đó, những người muốn trở thành luật sư công cần có trình độ cử nhân luật trở lên; có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp; đã qua khóa đào tạo nghề theo quy định. Người đủ tiêu chuẩn nêu trên và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư thì được thực hiện các công việc thuộc phạm vi hoạt động của luật sư công.
Dự thảo nghị quyết quy định luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng bằng 100% theo hệ số lương hiện hưởng. Ngoài ra, luật sư công được hưởng thù lao, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác; được hưởng tiền làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức, viên chức.
Đặc biệt, thu nhập từ công việc của luật sư công theo quy định tại nghị quyết này được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước...