Theo nội dung vụ án, ông Phan Văn Tài (nguyên đơn) là chủ sử dụng diện tích 4.085m2 tại thửa số 19, tờ bản đồ số 03, địa chỉ làng Krêl, xã Ia Krêl, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (nay là xã Ia Krêl, Gia Lai), được UBND huyện Đức Cơ cấp GCNQSDĐ số BP 176907 ngày 27/6/2014 (Thửa 19). Thửa 19 liền kề với thửa đất số 18, tờ bản đồ số 03, diện tích 11.582m2 thuộc quyền sở hữu gia đình Nguyễn Hồng Tân (bị đơn), theo GCNQSDĐ số R935993 do UBND huyện Đức Cơ cấp ngày 23/10/2000 (Thửa 18).
Theo nội dung trình bày trong bản án của ông Tài, quá trình sử dụng, ông Tân đã dùng nhiều phương thức ép buộc gia đình ông Tài chặt bỏ cây cà phê, lấn chiếm con đường đi chung giữa 02 gia đình. UBND xã Ia Krêl đã tổ chức hòa giải nhiều lần, nhưng đến tháng 5/2023, khi gia đình ông Tài tiến hành trồng tái canh cây cà phê, ông Tân đã đào hố chôn trụ tre vào giữa đường đi, lấn chiếm đất của gia đình ông Tài cũng như đường đi chung giữa hai gia đình.
Ngày 21/7/2023, gia đình ông Tài đã đề nghị UBND xã Ia Krêl kiểm tra, giải quyết việc trên nhưng kết quả hòa giải không thành. Ngày 19/8/2023, gia đình ông Tài liên hệ với Công ty TNHH Trắc địa Bản đồ Nhật Tuấn Gia Lai tiến hành đo đạc hiện trạng sử dụng đất Thửa 19. Căn cứ số liệu đo đạc thấy rằng, ông Tân lấn chiếm 81,5m2 đất thuộc quyền sở hữu và đường đi chung. Sau đó, gia đình ông Tài đã yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Tân trả lại diện tích đất trên.
Theo nôi dung trình bày của ông Nguyễn Hồng Tân (bị đơn), năm 1995, gia đình ông nhận chuyển nhượng 01 thửa đất của ông Hoàng Văn Quyền. Khi đó giữa thửa đất ông Quyền - ông Nguyễn Văn Phước (người sau này chuyển nhượng Thửa 19 cho gia đình ông Tài) có con đường đi do ông Quyền tạo lập. Đến ngày 20/5/1996, gia đình ông Tân, ông Nguyễn Văn Phước tiến hành xác định ranh giới: giữa hai thửa đất có đường đi chung từ Công ty 75 đến giáp suối, dài khoảng 200m, rộng 6m. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông Tân đã trồng cà phê, xây nhà tạm. Năm 2000, ông Tân xây nhà mới, kê khai đăng ký, được UBND huyện Đức Cơ cấp GCNQSDĐ Thửa 18.

Theo trình bày, từ năm 2003 đến năm 2006, gia đình ông Tài đã trồng cây cà phê ra sát đường, lấn dần đường đi chung. Năm 2012, tiếp tục xảy ra tranh chấp, UBND xã Ia Krêl đã tổ chức hòa giải, thỏa thuận, thống nhất gia đình ông Tài chặt bỏ một số cây cà phê, cành điều… Theo đó, con đường đi chung có chiều rộng 2,5m. Ranh giới giữa hai thửa đất là đường đi chung (thẳng), kéo dài từ đất Công ty 75 đến suối.
Đến năm 2023, gia đình ông Tài tiếp tục trồng một số cây cà phê ra sát mép con đường, ông Tân nhiều lần nhắc nhở nhưng gia đình ông Tài không nhổ bỏ. Để bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp, ông Tân dùng 10 cọc tre đóng vào mép con đường.
Tại Bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND tỉnh Gia Lai và Bản án phúc thẩm số 152/2025/DS-PT ngày 16/4/2025 của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng, HĐXX đã nhận định:
Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ; trích lục bản đồ, Thửa 18 giáp Thửa 19, không thể hiện đường đi. Trong biên bản làm việc ngày 04/12/2012 của UBND xã Ia Krêl và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đức Cơ thể hiện, gia đình ông Tân và ông Tài đều thống nhất, con đường đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của hai gia đình. Diện tích, giới cận của con đường được xác định có chiều rộng lần lượt ở các đoạn là 3m; 3,5m; 2,5m và 3m giáp suối.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024 của TAND tỉnh Gia Lai xác định, trong tổng số diện tích đất sử dụng làm đường đi có 196,74m2 thuộc Thửa19 (ông Tài), diện tích đất còn lại không thuộc thửa đất nào. Trong 196,74m2 thuộc Thửa 19, phần diện tích hiện trạng đường đi là 147,9m2, diện tích đất tranh chấp 81,5m2 (hiện trạng đường đi 48,84m2; phần diện tích ông Tân đang sử dụng 32,66m2). Hiện trạng đường đi có 10 cọc tre do ông Tân đóng, trong đó có 04 cọc nằm phần diện tích đất tranh chấp.
HĐXX cho rằng, năm 2012, sau khi hòa giải, gia đình ông Tài đã chặt bỏ 06 cây cà phê, cành điều, nhường một phần diện tích đất của mình làm đường đi chung giữa hai gia đình. Căn cứ số liệu đo đạc thực tế, diện tích đất làm đường đi chung có một phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Tài, phần còn lại không thuộc thửa đất nào. Vì vậy, ông Tài cho rằng ông Tân đã đóng các cọc cây tre lấn chiếm 81,5m2 đất nằm trong Thửa 19 là có căn cứ pháp luật.
Ngoài việc lấn chiếm 81,5m2 đất của ông Tài, ông Tân còn đóng 10 cọc tre nằm giữa đường đi, kéo dài 124m. Trong đó, có 04 cọc nằm trên đất lấn chiếm, 06 cọc nằm trên đường đi chung. Hành vi của ông Tân là trái pháp luật, làm cản trở việc đi lại chung giữa hai gia đình, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tài. Theo đó, HĐXX đánh giá, việc ông Tài yêu cầu ông Tân phải nhổ bỏ 10 cọc tre và chấm dứt hành vi cản trở việc đi lại là có căn cứ, theo Điều 169 BLDS…
Với những nhận định trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND tỉnh Gia Lai, căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 37; Điều 147, 157, 165 của BLTTDS, khoản 4 Điều 32 Luật TTHC; Điều 169 BLDS; Điều 12, Điều 66 Luật Đất đai; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Tài. Buộc gia đình ông Tân phải trả lại cho ông Tài 81,5m2 đất (gồm 48,8 m2 hiện trạng một phần đường đi và 32,66m2 ông Tân đang sử dụng), có tứ cận: Phía Đông giáp đường đất hiện trạng và đất ông Tân dài 2,85m; Phía Tây giáp với đường đất hiện trạng dài 0m (đỉnh của tam giác); Phía Nam giáp đường đất hiện trạng và đất ông Tân dài 59,27m; Phía Bắc giáp đường đất hiện trạng dài 5,11m + 46, 65m + 9,24m tại Thửa 19 (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án này và là một phần không thể tách rời bản án).
Buộc ông Tân chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật, lấn chiếm đường đi chung, trong đó có phần diện tích 147,9m2 thuộc quyền sử dụng của ông Tài tại Thửa 19; di dời toàn bộ 10 cọc tre (04 cọc thuộc phần đất của ông Tài tại Thửa 19) trả lại nguyên hiện trạng đường đi chung.
Ngày 08/10/2024, ông Tân có đơn kháng bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án phúc thẩm số 152/2025/DS-PT ngày 16/4/2025, TAND Cấp cao tại Đà Nẵng căn cứ điểm c khoản 1, 3 Điều 289, Điều khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông Tân. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 TAND tỉnh Gia Lai.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Hồng Tân cho biết, ông không đồng tình với phán quyết của Tòa án vì chưa khách quan, không đúng bản chất sự việc. Theo đó, ngày 18/6/2025 ông Tân đã gửi đơn xem xét theo thủ tục xem xét Giám đốc thẩm đến Chánh án TAND Tối cao và Viện Trưởng VKSND Tối cao.
Liên quan đến vụ việc, ông Tân cho biết, năm 1997, UBND huyện Đức Cơ cấp GCNQSDĐ số K697653 cho ông Nguyễn Văn Phước nhưng không trừ diện tích con đường giữa 02 thửa đất. Năm 1997-1998, ông Tài nhận chuyển nhượng 01 thửa đất của ông Nguyễn Văn Phước (giáp đường đi chung), đến ngày 04/6/2014 mới lập hợp đồng chuyển nhượng. Từ khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông Tài và ông Tân sử dụng đất, con đường đi theo ranh giới mà ông Tân và ông Phước xác lập.
Ngày 23/10/2000, UBND huyện Đức Cơ cấp GCNQSDĐ Thửa 18 cho ông Tân (diện tích 11.582m2), khi đo đạc ông Tân đã trừ phần diện tích con đường, không đưa vào “Sổ đỏ”. Ngày 27/6/2014, UBND huyện Đức Cơ cấp GCNQSDĐ Thửa 19 (diện tích 4.085m2) cho ông Tài, đưa luôn con đường giữa 02 thửa đất vào “Sổ đỏ”. Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận có con đường giữa 02 thửa đất, sử dụng ổn định từ 1996 – 2012, đến 2022 mới “tái” phát sinh tranh chấp.

Trong hồ sơ vụ án, vào năm 2012 gia đình ông Tân và ông Tài xảy ra tranh chấp, ngày 28/4/2012, UBND xã Ia Krêl đã mời hai hộ lên giải quyết. Trong biên bản làm việc ngày 04/12/2012, tại UBND xã Ia Krêl đã giải quyết thành tranh chấp đất đai giữa 2 hộ, có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo (được ông Tân, ông Tài ký, Phòng TN & MT huyện Đức Cơ, đại diện UBND xã Ia Krêl ký đóng dấu). Kể từ đó 02 bên cùng chấp hành, không xảy ra tranh chấp.
“Khi xem xét thẩm định tại chỗ, tôi đã chỉ những vật chứng có sẵn như một số gốc cây cà phê được gia đình trồng từ năm 1996, cách đường đi chung gần 1,5m so với hàng cọc đóng; cây xoài trồng năm 1996 cùng một số cây khác (vẫn còn) nhưng Tòa án không xem xét, không ghi vào biên bản làm cơ sở giải quyết vụ án”, ông Tân chia sẻ.
Theo ông Tân, từ 2006 gia đình ông Tài trồng 02 cây sầu riêng lấn ra con đường, ông đã ngăn cản nhưng nghĩ không ảnh hưởng nên để nguyên. Đến 2012, gia đình ông Tài lại tiếp tục lấn dần đường đi chung bằng cách đào hố trồng cà phê, ông Tân đã yêu cầu dịch vào trong, cách đường 1,5m… Tuy nhiên, do gia đình ông Tài không thực hiện nên ông Tân đã đóng cọc làm ranh giới con đường theo biên bản hòa giải năm 2012. Tuy nhiên, nội dung này không được Tòa án ghi vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, mà kết luận ông lấn đất.
“Khi đo đạc tôi không biết, không được tham gia chỉ ranh giới đất, ranh giới mốc giới đường đi, phần đất tranh chấp theo hiện trạng sử dụng. Ông Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Sơn Thủy, Hoàng Văn Quyền là những người nắm rõ nguồn gốc, ranh giới con đường đi giữa 02 thửa đất nhưng không được tòa án triệu tập lấy lời khai dù tôi đã nhiều lần đề nghị. Quá trình xét xử, Tòa án không căn cứ vào giấy xác định ranh giới ngày 02/5/1995 do ông Phước và tôi xác lập; kết quả hòa giải thành ngày 04/12/2012 của UBND huyện Đức Cơ; dữ liệu bản đồ đo đạc năm 2012. Tòa án chỉ căn cứ vào Sổ đỏ của 2 gia đình để xác định diện tích con đường... Điều này chưa khách quan, không thể hiện đúng bản chất sự thật của vụ án”, ông Tân cho biết.
Liên quan đến vụ việc, ông Hoàng Văn Quyền, người trực tiếp tạo lập con đường và từng là chủ sở hữu thửa đất rộng khoảng 5ha (bao gồm toàn bộ khu đất sau này chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Phước và ông Nguyễn Hồng Tân) khẳng định: Con đường tranh chấp hiện nay do chính ông thuê máy xúc mở từ đầu những năm 1996 để đi lại, phục vụ sản xuất. Sau đó ông Quyền bán khoảng 1ha cho ông Tân, phần đất còn lại bán cho ông Phước. Con đường đã tồn tại từ trước khi gia đình ông Tài mua đất nhiều năm và là đường đi chung, toàn bộ người dân vùng này đều biết.
Ông Quyền cho biết thêm, những nội dung trên được thể hiện bằng văn bản xác nhận gửi đến Tòa án nhưng không được cấp sơ thẩm, phúc thẩm thu thập, đánh giá, đối chất công khai trong lúc xét xử.
Ông Quyền nhấn mạnh: “Nó là đường đi chung, không thuộc quyền sở hữu riêng của bất cứ ai. Việc cấp GCNQSDĐ sau này có thể do không xác minh kỹ, dẫn đến cấp trùm lên".
Ông Nguyễn Văn Phước (người nhận chuyển nhượng đất từ ông Quyền; bán cho ông Nguyễn Hồng Tân trước năm 1996 và bán phần đất còn lại cho gia đình ông Tài vào năm 2007) cho biết, trong giấy xác nhận gửi TAND Cấp cao tại Đà Nẵng có nội dung: Con đường giữa hai lô đất đã tồn tại từ năm 1996, rộng khoảng 5 - 6m. Đây là ranh giới tự nhiên khi ông Phước chuyển nhượng đất cho gia đình ông Tân, ông Tài, ông không bán con đường.
Đáng chú ý, ông Nguyễn Xuân Thủy, nguyên Chủ tịch UBND xã Ia Krêl cũng xác nhận: Hồ sơ địa chính qua nhiều thời kỳ không phản ánh đầy đủ thực tế sử dụng đất. Người bán – người mua đất vẫn còn sống và nắm rõ ranh giới ban đầu nên cơ quan chức năng cần phải lấy lời khai đầy đủ. Năm 2012, UBND xã đã hòa giải tranh chấp giữa gia đình ông Tân - ông Tài, hai bên đều thống nhất giữ nguyên đường đi chung.
Theo ông Thủy, con đường đi chung được xác định từ Công ty Cao su 75 xuống suối, biên bản hòa giải năm 2012 là tài liệu có giá trị pháp lý quan trọng, cần được Tòa án xem xét, đánh giá (nội dung này đã được thể hiện trong giấy xác nhận gửi TAND Cấp cao tại Đà Nẵng).
Liên quan đến vụ việc, Luật sư Lê Lan Hương, Cty luật TNHH MTV KPK, Đoàn Luật sư TP. Đà Nẵng đưa ra quan điểm, theo hồ sơ vụ án có những vấn đề pháp lý cần phải được làm rõ như sau:
Theo hồ sơ vụ án, Đơn khởi kiện ngày 20/10/2023 (bút lục 01–02) và Đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 30/5/2024 (bút lục 157–158) đều do ông Phan Văn Tình ký tên, trong khi người khởi kiện được xác định là ông Phan Văn Tài. Mặc dù có Hợp đồng ủy quyền (bút lục 03; 08–11) được Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai chứng nhận, song theo khoản 2 Điều 189 BLTTDS, cá nhân khởi kiện phải trực tiếp ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện; người đại diện chỉ được hỗ trợ việc làm đơn, không được thay thế chữ ký của người khởi kiện. Việc Tòa án căn cứ các đơn khởi kiện do ông Phan Văn Tình ký để thụ lý vụ án (Thông báo thụ lý số 66 ngày 07/11/2023 – bút lục 33; Thông báo thụ lý vụ án bổ sung số 07A ngày 20/6/2024 – bút lục 165) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trái Điều 85, Điều 189 BLTTDS và Điều 134 BLDS.
Tại Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 293 ngày 06/11/2023 (bút lục 29), Tòa án tạm tính giá trị 496,25m2 đất tranh chấp chỉ là 50 triệu đồng (tương đương 100.755 đồng/m2), trong khi Hội đồng định giá sau đó xác định giá đất là 3.260.000 đồng/m2 (bút lục 150–152). Tòa án không căn cứ Bảng giá đất huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai theo Quyết định số 09/2020/QĐ-UBND ngày 15/01/2020, cũng không tuân thủ trình tự ưu tiên xác định giá theo Điều 8 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, mà tùy tiện ấn định mức tạm ứng án phí, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ tài chính của đương sự.
Theo Đơn khởi kiện và Bản án sơ thẩm (bút lục 233 – trang 01; bút lục 231 – trang 05), Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trong hồ sơ không có Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai hợp lệ giữa ông Phan Văn Tài và ông Nguyễn Hồng Tân theo Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, mà chỉ có: Công văn số 474/CV-UBND ngày 24/7/2023 của UBND xã Ia Krêl (bút lục 17); Đơn yêu cầu hòa giải ngày 25/8/2023 do ông Phan Văn Tình ký (không ghi rõ họ tên); Biên bản hòa giải ngày 21/9/2023 giữa ông Phan Văn Tình và ông Nguyễn Hồng Tân (bút lục 12–16). Như vậy, theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, vụ án chưa đủ điều kiện khởi kiện, Tòa án phải trả lại đơn theo điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS, thay vì thụ lý giải quyết.
Trước khi nộp đơn khởi kiện, ông Phan Văn Tài và ông Phan Văn Tình không gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người bị kiện, vi phạm khoản 9 Điều 70 BLTTDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền chuẩn bị ý kiến bảo vệ của bị đơn.
Theo Thông báo số 115/TA ngày 20/3/2024 (bút lục 134), Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024. Tuy nhiên: Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ số 115 (bút lục 135); Quyết định định giá tài sản số 127 (bút lục 136); Trích đo hiện trạng sử dụng đất lập ngày 12/4/2024 (bút lục 146) đều không thể hiện rõ thời gian đo đạc, thành phần tham gia, người chứng kiến, không có biên bản đo đạc độc lập. Đặc biệt, Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng giữa TAND tỉnh Gia Lai và Công ty trắc địa bản đồ Nhật Tuấn không ghi ngày tháng năm.
Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 12/4/2024 (bút lục 147–149) không có chữ ký hoặc điểm chỉ của ông Hồ Văn Tâm và ông Trương Đức Thanh là những người được ghi nhận có mặt tại hiện trường. Điều này vi phạm nghiêm trọng Điều 101 BLTTDS, làm cho biên bản không bảo đảm giá trị chứng cứ.
Biên bản định giá tài sản lập ngày 12/4/2024 (bút lục 150–152) không xác định: Vị trí thửa đất; Loại đất, hệ số; Căn cứ pháp lý xác định giá thị trường. Hội đồng định giá chỉ đưa ra con số 3.260.000 đồng/m2 mà không có cơ sở pháp lý cụ thể, không đủ căn cứ để giải quyết vụ án. Ngoài ra, việc lập đồng thời Biên bản thẩm định và Biên bản định giá trong cùng thời điểm là không bảo đảm tính khách quan của tố tụng.
Bà Luyện Thị Nhiên (vợ ông Tân) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có tên trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST - DS ngày 20/8/2024 (bút lục 189), dù thực tế có tham gia phiên tòa và được ghi nhận trong Bản án sơ thẩm. Đây là vi phạm nghiêm trọng BLTTDS về xác định tư cách tham gia tố tụng.
Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ghi lập 14h00 ngày 24/7/2023, nhưng lại kết thúc 14h30 ngày 24/7/2024, thể hiện mâu thuẫn nghiêm trọng về mặt thời gian, ảnh hưởng đến tính hợp pháp của biên bản tố tụng.
Việc không triệu tập người chuyển nhượng đất, trong khi người này còn sống, nắm rõ ranh giới ban đầu và nguồn gốc con đường, là thiếu sót nghiêm trọng trong hoạt động thu thập chứng cứ, vi phạm các nguyên tắc tại Điều 93, Điều 97 và Điều 108 BLTTDS. Khiến bản án sơ thẩm và phúc thẩm chưa phản ánh đúng sự thật khách quan, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án theo Điều 6 BLTTDS, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Theo Luật sư Lê Lan Hương, một điểm gây nhiều tranh luận là Tòa án vừa công nhận con đường là đường đi chung, nhưng lại buộc bị đơn trả lại phần diện tích bao gồm cả 48,84m2 hiện trạng đường đi. Cách tuyên này dẫn đến mâu thuẫn nội tại, vì nếu xác định đây là đường đi chung, thì phần đất đó về bản chất là đất chịu quyền, không phải đối tượng để “trả” cho một bên sử dụng riêng. Việc buộc “trả đất” dễ làm biến dạng quan hệ pháp lý từ quyền về lối đi qua (Điều 254 BLDS 2015) thành tranh chấp chiếm hữu đất, trong khi hành vi của ông Tân chủ yếu nhằm bảo vệ lối đi chung trước nguy cơ bị thu hẹp. Hành vi của ông Tân chỉ dừng lại ở việc đóng cọc tre tạm thời, không xây dựng công trình kiên cố, không chuyển dịch mục đích sử dụng đất, và xuất phát từ bối cảnh ông Tài tiếp tục trồng cây sát mép đường, điều đã từng là nguyên nhân tranh chấp và phải hòa giải vào năm 2012.
Một điểm khác, Tòa án vẫn xác định con đường hình thành từ năm 1996 là lối đi chung giữa hai thửa đất của ông Tân và ông Tài nhưng lại tuyên buộc ông Tân trả lại 81,5m2 đất cho ông Tài trong khi 81,5m2 đất này liên cư liên địa với đất của ông Tân và được ông Tân quản lý sử dụng từ khi mua đất năm 1995, được UNDX xã Ia Krêl, Phòng TNMT huyện Đức Cơ giải quyết hòa giải thành tranh chấp lối đi và đất đai giữa ông Tân, ông Tài vào năm 2012.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ từ số liệu đo đạc hiện trạng do ông Tài dẫn đạc và GCNQSDĐ của ông Tài, không xác minh đánh giá tính pháp lý việc cấp GCN cho ông Tài bao gồm phần lối đi chung có đúng hay không là chưa thật sự thuyết phục nếu đặt trong tổng thể lịch sử hình thành, sử dụng ổn định của lối đi chung và nguyên tắc bảo đảm hài hòa quyền lợi giữa các chủ bất động sản liền kề về lối đi chung.
“Từ các lập luận trên, căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 326; các Điều 328, 331 BLTTDS, việc đề nghị ông Tân Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án sơ thẩm số 33/2024/DS-ST và Bản án phúc thẩm số 152/2025/DS-PT là có căn cứ pháp luật và cần thiết”, Luật sư Lê Lan Hương đưa ra quan điểm.
Được biết, trong quá trình tổ chức thi hành án, Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Gia Lai đã có văn bản gửi TAND tỉnh Gia Lai về việc giải thích những điểm chưa rõ đối với Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 02/9/2024 của TAND tỉnh Gia Lai; Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 16/4/2025 của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng (nay là Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng).
Căn cứ vào Điều 486 BLTTDS, TAND tỉnh Gia Lai giải thích như sau: Theo quyết định của bản án, ông Nguyễn Hồng Tân và bà Luyện Thị Nhiên phải trả cho ông Phan Văn Tài 81,5m2 đất (gồm 48,8m2 là hiện trạng một phần đường đi và 32,66m2 ông Tân đang sử dụng). Sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án ở phần “Ghi chú” thể hiện rõ: ký hiệu số (2) có diện tích 147,9m2, ký hiệu số (3) có diện tích 48,84m2, ký hiệu số (4) có diện tích 32,66m2. Tuy nhiên do nhầm lẫn trong việc đánh số ghi chú trên sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án, tại phần mũi tên chỉ dẫn đã ghi: (2) + (3) = 81,5m2. Nay giải thích rõ là: (3) + (4) = 81,5m2…
Sau đó, Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 – Gia Lai đã tiến hành tổ chức thi hành án (lần 2) nhưng đến nay vẫn chưa thành.
NGUYÊN TRUNG

