Thứ tư, 8/8/2018 | 06:50 GMT+7

Điểm mới về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

LSVNO - Quyền bào chữa là quyền quan trọng khi người bị buộc tội. Để đảm bảo việc xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện. Vai trò của luật sư với tư cách là người bào chữa sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án, giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội

Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”.

ls-1-5b6a30052b52c

Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Người bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bị buộc tội được coi là không có tội khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Đây là điểm mới của BLTTHS 2015 của nước ta thể hiện sự thay đổi  quyền bào chữa. So sánh với BLTTHS 2003 tại Điều 11 Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”. BLTTHS 2015 đã có những điểm mới về quy định và bản chất so với BLTTHS 2003 về quyền bào chữa: Các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm thông báo, giải thích cho người bị buộc tội, bị hại, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền bào chữa, (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định). Ngoài người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa như quy định hiện hành, thì người bị bắt (bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã) cũng được bảo đảm quyền bào chữa.

Hiến pháp 1946 tại Điều 67, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định quyền bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư”. Các bản hiến pháp sau này cũng đề cập đến vấn đề này, và theo Hiến pháp 2013 tại khoản 4, Điều 31 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [1].

Bộ Luật tố Tụng hình sự 2015 đã quy định rõ về quyền bào chữa của người bị buộc tội. Trong những trường hợp luật định, nếu người buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì các cơ quan nói trên phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ. Theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong các trường hợp sau nếu người bị buộc tội hoặc người thân thích của họ không mời luật sư thì cơ quan có thẩm quyền phải chỉ định người bào chữa. Cụ thể, đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình. Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Quy định quyền bào chữa của luật nhằm đảm bảo tính công bằng cho cả bên buộc tội và bên gỡ tội, người bị buộc tội cũng có quyền trình bày ý kiến, tự bào chữa, nhờ người bào chữa. Mặt khác, vấn đề này cùng làm rõ ràng hơn về vụ việc, tránh “nghe một tai” dẫn đến việc xảy ra oan sai, giúp tòa đánh giá một cách khách quan. Việc bào chữa là cần thiết, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án. Luật sư tham gia bào chữa để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội thì việc bào chữa là cần thiết, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật khách quan của vụ án.

Vai trò của luật sư trong đảm bảo quyền bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tại Điều 72. Người bào chữa:

1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

Người bào chữa có thể là: luật sư; người đại diện của người bị buộc tội; bào chữa viên nhân dân; trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, về hoạt động nghề nghiệp luật sư vẫn là người bào chữa được người bị buộc tội nhờ bào chữa. Theo quy định của Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012, tại Điều 2. Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012 tại Điều 22. Phạm vi hành nghề luật sư:

1. Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

Như vậy, căn cứ theo quy định trên luật sư là người bào chữa được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Với nhiệm vụ và chức năng của mình, luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Những nội dung của hoạt động bào chữa của luật sư

Luật sư bào chữa được thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Cụ thể theo quy định tại Điều 73, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bào chữa có 14 quyền: Gặp, hỏi người bị buộc tội; có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can; có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra; tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.

Với kiến thức pháp lý, kỹ năng và kinh nghiệm luật sư sẽ giúp người bị buộc tội xem xét vận dụng các tình tiết giảm nhẹ, hoặc sử dụng các quyền luật định để làm sáng tỏ những tình tiết chứng minh cho sự vô tội cũng như những tình tiết khác có lợi cho người bị buộc tội. Đó có thể là hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng; hoặc nhằm đưa ra chứng cứ nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của người bị buộc tội; hoặc các hành vi tố tụng nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của người bị buộc tội kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm hình sự trong vụ án.

Vai trò của luật sư bào chữa đối trọng với chức năng buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ sở để thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được dân chủ, khách quan. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Mục đích của việc bào chữa là một trong căn cứ để giải quyết vụ án, từ đó tìm ra sự thật của vụ việc.

Quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi tố bị can. Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn. Với quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước tòa án. Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa. Bản án, quyết định của tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Với những quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã khẳng định bản án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và tranh tụng tại phiên tòa.

Để thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội, vai trò của luật sư là rất cần thiết

Ngay trong nguyên tắc của BLTTHS 2015 có đưa ra nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Theo Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 31: 1. Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Nguyên tắc ghi nhận bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội, loại trừ trường hợp chỉ chứng minh một chiều theo hướng suy đoán có tội và định kiến người bị buộc tội. BLTTHS năm 2015 quy định nguyên tắc suy đoán vô tội là điểm mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự 2003. Nguyên tắc suy đoán vô tội có mối quan hệ chặt chẽ với quyền bào chữa của người bị buộc tội. Không chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa mà người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt cũng có quyền bào chữa cho mình. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có những quy định về quyền của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong đó có quyền được tự bào chữa hoặc tìm người bào chữa (điểm g, khoản 1, Điều 58, Bộ luật TTHS 2015). Quy định nêu rõ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt đã có quyền bào chữa mà chưa bị buộc tội. Đây là điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, làm cho việc điều tra, xét xử vụ án chính xác hơn, đảm bảo mức hạn chế nhất án oan sai.

Điểm mới về thay thế thủ tục cấp Giấy chứng nhận bào chữa bằng thủ tục đăng ký bào chữa giúp việc bào chữa được kịp thời, trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi có đề nghị của người bào chữa và họ xuất trình đủ giấy tờ và đủ điều kiện để tham gia bào chữa thì điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán được phân công thụ lý chính đối với vụ án phải cấp Giấy đăng ký người bào chữa cho họ. Văn bản thông báo cho người đăng ký bào chữa (trường hợp chấp nhận đăng ký) có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng thay vì chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng.

Quyền bào chữa là nguyên tắc Hiến định và được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bảo đảm quan trọng cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng, đảm bảo sự công bằng, tránh oan sai trong xét xử.

 

Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

 

[1]: Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, ThS. Tôn Thiện Phương, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An.