Thứ bảy, 5/1/2019 | 07:48 GMT+7

Về bài “Bị đơn nộp giùm đơn ly hôn, Tòa nhận đúng hay sai?”

LSVNO - Sau khi đọc bài “Bị đơn nộp giùm đơn ly hôn, Tòa nhận đúng hay sai?” của tác giả Huỳnh Minh Khánh đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 10 năm 2018, trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật, tôi xin có một vài ý kiến trao đổi như sau:

Về đơn khởi kiện

Hình thức và nội dung đơn khởi kiện được quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo nội dung vụ việc thì nội dung và hình thức đơn khởi kiện của anh L.M.V là đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện C bắt buộc phải nhận đơn khởi kiện của anh V. Thẩm phán được chánh án phân công xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn 05 ngày làm việc và có một trong các quyết định sau đây: yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn; chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án khác; trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

lh-5c2ffe93dda27

Ảnh minh họa.

Về gửi đơn khởi kiện đến tòa án

Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc gửi đơn khởi kiện đến tòa án như sau: Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây: nộp trực tiếp tại tòa án; gửi đến tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; gửi trực tiếp bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của tòa án (nếu có).

Tuy nhiên, pháp luật cũng không có quy định nào cấm cá nhân nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại tòa án thay cho người khởi kiện. Thậm chí pháp luật cũng không cấm cá nhân nộp tiền tạm ứng án phí thay cho người khởi kiện. Xét về bản chất, chị L nộp đơn khởi kiện thay cho anh V với việc anh V nộp đơn khởi kiện qua đường bưu điện là giống nhau ở chỗ anh V không trực tiếp nộp đơn khởi kiện tại Tòa án huyện C. Việc chị L nộp đơn thay cho anh V có thể là vì anh V ở tỉnh khác hoặc vì lý do nào đó anh V không thể trực tiếp đến tòa án nộp đơn. Vấn đề cần quan tâm ở đây là đơn khởi kiện mà anh V nộp cho tòa án có phải là do anh V ký hay không thì trong đơn khởi kiện đã có xác nhận chữ ký anh V của chính quyền địa phương. Hơn nữa, nếu tòa án muốn kiểm tra chữ ký trong đơn khởi kiện có đúng là chữ ký của anh V hay không thì có thể hỏi trực tiếp anh V trong quá trình tòa án tiến hành tố tụng tiếp theo. Bởi nếu anh V nộp đơn khởi kiện qua đường bưu điện thì tòa án cũng không gặp trực tiếp anh V và cũng không thể xác định chữ ký trong đơn khởi kiện có phải là do anh V ký hay không. Giả sử trong trường hợp anh V trực tiếp xác nhận chữ ký không phải là do anh V ký hoặc chữ ký trong đơn là của anh V nhưng anh V không có ý định nộp đơn khởi kiện tại tòa án thì tòa án hoàn toàn có đầy đủ căn cứ để trả lại đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn cho chị L.

Về tống đạt văn bản tố tụng của tòa án cho người khởi kiện

Theo quy định, sau khi nhận đơn khởi kiện thì thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện có một trong các quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong thời hạn là 05 ngày làm việc. Thông thường đương sự trực tiếp nộp đơn khởi kiện tại tòa án thì tòa án có giấy hẹn đương sự đến nhận kết quả xử lý đơn. Nếu đến ngày tòa án hẹn mà đương sự không đến thì tòa án cũng không được lấy lý do này để trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện muốn: yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí; chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền; trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện thì đều phải thể hiện bằng văn bản với hình thức là thông báo của tòa án và phải tống đạt hợp lệ cho người khởi kiện. Việc tống đạt văn bản tố tụng của tòa án cho người khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Chương X Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Địa chỉ của người khởi kiện căn cứ vào địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện. Nếu tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí… cho người khởi kiện mà người khởi kiện không thực hiện thì tòa án có căn cứ để trả lại đơn khởi kiện cho họ. Do đó không thể cho rằng người khởi kiện không đến tòa án thì tòa án không thể ban hành thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, thông báo trả lại đơn khởi kiện… cho người khởi kiện.

Tóm lại, quan điểm của tôi cho rằng tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện nhưng do người khác nộp thay là không hoàn toàn trái pháp luật. Vấn đề quan trọng là sau khi nhận đơn khởi kiện, tòa án cần xử lý đơn khởi kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

Dương Tấn Thanh