Thứ tư, 24/5/2017 | 20:35 GMT+7

"Tôi mong được lãnh đạo Quốc hội chấp thuận đề nghị này"

LSVNO - Đó là đề xuất "gan ruột" của Đại biểu Quốc hội, Luật sư Trương Trọng Nghĩa - Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam - trong phiên thảo luận tại Quốc hội ngày 24/5/2017 liên quan trực tiếp đến một số nội dung về trách nhiệm không tố giác thân chủ của luật sư trong dự thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự. Được sự chấp thuận của Luật sư Trương Trọng Nghĩa, Luật sư Việt Nam Online xin đăng toàn văn bài phát biểu của Luật sư Nghĩa tại phiên thảo luận này.

 

>> Tố giác thân chủ là trái với thiên chức luật sư

>> Nghị trường 'té khói' chuyện luật sư tố giác thân chủ

>> Quyền miễn trừ của người bào chữa trong Bộ luật Hình sự 2015

>> Cần loại trừ những quy định xung đột trong Luật Hình sự

 

Về công tác sửa chữa và cách tổ chức góp ý, thông qua

Tôi đánh giá cao và xin cám ơn Ủy ban Tư pháp (UBTP), nhất là các thành viên chuyên trách, với sự đóng góp trực tiếp và rất có hiệu quả của Chủ nhiệm Ủy ban, đã dành nhiều thời gian, công sức và trí tuệ để tham mưu cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) trong việc hoàn tất một khối lượng công việc đồ sộ và phức tạp, nhưng rất quan trọng đối với xã hội và nhân dân, đó là chỉnh sửa Bộ Luật này.

Tôi cũng được nghe là UBTVQH, trực tiếp là Phó Chủ tịch Uông Chu Lưu, cũng đã dành nhiều thời gian và tâm sức cho công việc sửa chữa, bổ sung dự thảo này. Cử tri sẽ rất cảm kích và trân trọng những nỗ lực đó.

ls-nghia-59258d675e7d9

Luật sư Trương Trọng Nghĩa. Ảnh: Internet

Điều tôi rất tiếc là, để Bộ Luật này thực sự trở thành công trình của đa số Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa 14 khi họ bấm nút thông qua, thời gian bố trí và cách bố trí thời gian lại không thích hợp.Một khối lượng tài liệu đồ sộ mới được gửi đại biểu vào cuối ngày thứ hai, thì sáng nay, ngày thứ tư của kỳ họp, đã phải đăng đàn góp ý.

Lẽ ra phải dành ít nhất một ngày thảo luận tổ để làm quen với dự thảo sửa đổi, sau đó có ít nhất vài ngày nghiên cứu thêm, rồi mới tổ chức thảo luận hội trường. Đó là cách làm thông thường với nhiều đạo luật nhỏ hơn và đơn giản hơn về nội dung và kỹ thuật, thì vì sao không áp dụng với Bộ Luật này?

Xét về thời gian góp ý, nếu như tôi muốn góp ý sâu và chi tiết cho vài điều quan trọng thì đã không đủ thời lượng, nói gì đến góp ý nhiều điều hơn. Thử hỏi, có bao nhiêu đại biểu trong hội trường này đã có thời gian nghiên cứu kỹ các tài liệu được gửi, và làm cách nào để trong vòng 7 phút có thể trình bày trọn vẹn những góp ý của mình đối với một đạo luật lớn, cơ bản như vậy của quốc gia, đặc biệt khi nó đã được sửa chữa, và cả bổ sung rất nhiều, so với dự thảo đã được thông qua bởi Quốc hội khóa 13.

Có những điểm bổ sung, sửa chữa, nói là để cập nhật với tình hình, lẽ ra phải được lấy ý kiến rộng rãi hơn, chí ít là trong các ĐBQH, chứ không chỉ trong ban soạn thảo hay các ngành hữu quan, thì đã không được làm như vậy.

Một số ĐBQH được đào tạo chuyên sâu về pháp luật, đã từng gắn bó với pháp luật hình sự cả trong thực tiễn lập pháp và thực tiễn hành nghề hàng chục năm, và từng tham gia sửa chữa, bổ sung Bộ Luật này từ khóa 13, trong đó có tôi, mà còn thấy chới với và thực sự không đủ thời gian khi nghiên cứu tài liệu và chuẩn bị ý kiến góp ý hôm nay, huống gì nhiều ĐBQH khóa 14 chỉ mới tiếp xúc với Dự thảo lần đầu tiên hoặc lần thứ hai.

Cách làm này vẫn có thể điều chỉnh: tôi đề nghị dành thêm ít nhất một ngày thảo luận tổ, và dành thêm một ngày vào tuần thứ ba của kỳ họp, nếu cần thì lấy một ngày thứ bảy, để góp ý tại hội trường đối với dự thảo này, trước khi bấm nút thông qua.

Xét thấy tầm quan trọng của Bộ luật Hình sự, là một trong 4,5 đạo luật quan trọng nhất đối với mọi quốc gia, sau Hiến pháp, tôi mong được lãnh đạo Quốc hội chấp thuận đề nghị này.

Góp ý một số điểm cụ thể: thời gian không có nhiều, tôi xin góp ý vài điểm và xin được gửi lại bản góp ý cho UBTVQH, mong được xem xét.

Điều 19 – Không tố giác tội phạm

Pháp luật Việt Nam cho phép diện người bào chữa quá rộng. Luật sư phải học đại học luật 4 năm, học nghề 12 tháng, tập sự 12 tháng, phải tốt nghiệp kỳ thi hết tập sự, chịu sự điều chỉnh của Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp và nhiều quy định nội bộ khác, trong khi người bào chữa khác không bị điều chỉnh bởi các quy định này, mà được quyền bào chữa ngang với luật sư.

Tôi có những băn khoăn sau đây:

Luật sư đi tố giác thân chủ có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội”: theo nguyên tắc này, một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án có hiệu lực của tòa án, và việc chứng minh tội phạm là của cơ quan điều tra và công tố, không phải của luật sư; tuy tố giác thì phải có bằng chứng, khi đó luật sư đã tham gia chứng minh tội phạm; còn tố giác không có bằng chứng, hay chỉ dựa vào lời khai của họ, thì luật sư vi phạm nhiều nghĩa vụ của công dân và của nghề nghiệp.

Luật sư đi tố giác thân chủ có thể dẫn đến vi phạm quyền con người của bị can, bị cáo: vì theo Hiến pháp và Bộ Luật TTHS, bị can, bị cáo không bị buộc phải khai báo những điều bất lợi và không bị buộc phải nhận tội, trong khi luật sư lại đi tố giác họ.

Luật sư đi tố giác thân chủ là trái với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp, vì phản bội lại niềm tin của bị can, bị cáo, trái với thiên chức của luật sư là gỡ tội.

Quy định này có thể ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam trong quá trình hội nhập, bởi các doanh nhân hay công dân nước ngoài có thể nói với nhau: hãy cảnh giác khi sử dụng luật sư VN, vì họ có nghĩa vụ tố giác thân chủ, nếu không họ sẽ bị khởi tố hình sự. Ở các nước, quan hệ giữa luật sư và thân chủ là quan hệ được đặc quyền bảo mật.

Quy định này, nếu mở rộng như thế, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc phát triển nghề luật sư trong thời gian tới. Nhiều sinh viên luật và luật sư trẻ rất hoang mang về quy định này, và có ý định bỏ nghề vì thấy rủi ro quá.

Quy định này mâu thuẫn với Điều 73, Khoản 2, g, theo đó, người bào chữa có nghĩa vụ: “Không được tiết lộ thông tin về người bị buộc tội mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản”.

Tôi đồng ý ý kiến của Luật sư Đỗ Ngọc Thịnh, đề nghị sửa lại theo hướng thu hẹp phạm vi các trường hợp mà luật sư có nghĩa vụ phải tố giác thân chủ.

Ngoài ra, tôi đề nghị sửa Khoản 3, Điều 19 lại như sau:

“Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này "nếu người bào chữa biết rõ và có đủ chứng cứ, và nếu việc không tố giác sẽ gây nguy hiểm cho xã hội.”

Xin lưu ý là theo điều 19, người bào chữa hay người thân vẫn phải tố giác tội phạm đang được chuẩn bị hay đang thực hiện. Ngoài ra, quyền không tố giác này chỉ áp dụng cho quan hệ giữa luật sư và thân chủ của mình. Ngoài phạm vi này, luật sư vẫn có nghĩa vụ tố giác tội phạm như mọi công dân.

Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân

Theo Hiến pháp, Nhà nước có nghĩa vụ “công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm” các quyền con người, quyền công dân trong Chương II, Hiến pháp. Tuy nhiên, cách xây dựng các quy định tương ứng trong Dự thảo này, theo tôi, có nguy cơ không đáp ứng được yêu cầu này.

Điều 158: Tội xâm phạm chỗ ở của người khác

Đề nghị sửa lại cho đúng với tinh thần của Điều 22, Hiến pháp 2013:

Khoản 1.c: bỏ tình tiết “dùng thủ đoạn trái pháp luật”, bởi vì “chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái pháp luật người đang ở hoặc người đang quản lý hợp pháp vào chỗ ở của họ” đã phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dù với thủ đoạn gì.

Khoản 1.d: Bỏ chữ “cố ý”, vì “xâm nhập trái pháp luật” thì đã phải bị truy cứu, ngoài ra xâm nhập thì không thể vô ý; thêm từ “cố ý” là vô tình tạo tình tiết miễn tội cho người xâm nhập trái phép chỗ ở của người khác rồi cho rằng mình vô ý.

Nếu người xâm nhập là người điên thì đã được miễn trách nhiệm hình sự. Những trường hợp xâm nhập hợp pháp thì đã được pháp luật bảo vệ, vì chỉ xâm nhập trái pháp luật mới bị truy cứu.

Điều 159: Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác

Theo tôi, dự thảo chưa thể hiện đúng tinh thần của Điều 21, Hiến pháp 2013.

Quy định như thế này là để lọt tội, do đó có nguy cơ phản tác dụng là khuyến khích phạm tội: bởi vì

người phạm tội đã thực hiện rất nhiều hành vi phạm tội (cố ý và trái pháp luật) của Điều này, mà khi bị phát hiện thì chỉ bị xử lý kỷ luật, hoặc xử phạt hành chính; rồi khi tiếp tục vi phạm, nếu bị phát hiện lần nữa thì cũng chỉ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, nếu không rơi vào khoản 2!

Ngoài ra, nếu dân thường vi phạm thì đâu bị kỷ luật hay xử phạt hành chính, do đó họ cứ vi phạm thoải mái!

Điều 161: Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân

Chỉ truy cứu vi phạm của người có trách nhiệm, còn người không có trách nhiệm vi phạm Điều này thì xử theo luật nào?

Điều 162: Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

Điều này có nguy cơ can thiệp vào quan hệ lao động là quan hệ dân sự. Khi ký hợp đồng lao động, nhiều quy định trong Bộ Luật Lao động và trong Nội quy lao động đã được hai bên thỏa thuận tuân thủ.

Người sử dụng lao động khi áp dụng biện pháp sa thải là khi người lao động đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng hay nội quy lao động, thậm chí nhiều lần tái phạm.

Khi áp dụng biện pháp sa thải, người sử dụng lao động không thể biết được hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn của người bị sa thải và người đó có thực sự có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn hoặc việc sa thải sẽ dẫn đến đình công.

Ngược lại, nếu người lao động vi phạm hợp đồng hay nội quy nghiêm trọng, không khắc phục hay sửa chữa, và đến mức phải bị sa thải, nhưng cứ viện dẫn “hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn” hoặc đe dọa sẽ tổ chức “đình công” thì khi đó người sử dụng lao động sẽ không dám sa thải, khiến cho chính họ lại trở thành nạn nhân.

Quy định này có thể ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài của Việt Nam, vì nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ rất e ngại khi làm ăn sử dụng lao động ở Việt Nam.

Xin lưu ý là người bị sa thải có quyền khiếu nại lên tổ chức công đoàn và khởi kiện ra tòa lao động để yêu cầu hủy quyết định sa thải trái pháp luật. Như vậy, việc bị sa thải trái pháp luật đã được bảo vệ bởi pháp luật lao động.

Các Điều 163, 164, 167: Như góp ý ở Điều 158: các quyền hiến định là đối tượng bảo vệ của các Điều này đều có nguy cơ bị xâm hại dễ dàng, nhất là bởi dân thường, vô hình trung khuyến khích vi phạm, bởi việc truy cứu trách nhiệm hình sự được che chắn bằng điều kiện “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính”.

Ta đều biết dân thường thì không thể bị kỷ luật, còn xử phạt hành chính họ thì rất nhiêu khê, chưa kể họ có quyền kiện ra tòa để hủy quyết định xử phạt ấy.

Quy định như vậy trái với tinh thần và lời văn của Chương II của Hiến pháp, đi ngược lại những thành quả của cải cách tư pháp.

Với lá chắn “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính” mà vẫn tái phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể dự báo, trong thời gian tới, các hành vi vi phạm các quyền con người, quyền công dân theo các Điều 158, 159, 163, 164, 167 sẽ gia tăng đáng kể.

 Xin cám ơn Quốc hội!

 

ĐBQH, Ls Trương Trọng Nghĩa