/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Bàn về thẩm quyền của toà án đối với yêu cầu “công nhận quyền sử dụng đất” của người khởi kiện

Bàn về thẩm quyền của toà án đối với yêu cầu “công nhận quyền sử dụng đất” của người khởi kiện

07/03/2026 07:14 |

(LSVN) - Cùng một yêu cầu khởi kiện, cùng một vấn đề yêu cầu Toà án “công nhận quyền sử dụng đất” nhưng lại được Toà án áp dụng pháp luật, xử lý đơn khởi kiện theo hai hướng khác nhau, hoặc theo hướng thụ lý yêu cầu khởi kiện “công nhận quyền sử dụng đất” căn cứ theo khoản 1, khoản 7 Bộ Luật Dân sự 2015 hoặc theo hướng Toà án từ chối thụ lý, trả lại đơn khởi kiện do “công nhận quyền sử dụng đất” không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án sẽ dẫn đến việc không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cũng như sự bình đẳng giữa những người khởi kiện.

1. Đặt vấn đề

Trong các vụ việc tranh chấp đất đai hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn xem xét, thụ lý đối với đơn khởi kiện khi người khởi kiện đưa ra yêu cầu về nội dung yêu cầu toà án có thẩm quyền “công nhận quyền sử dụng đất” đang tranh chấp cho người khởi kiện. Việc có sự khác nhau trong vấn đề giải quyết đơn khởi kiện với yêu cầu khởi kiện này có thể dẫn đến nguy cơ vi phạm một trong những nguyên tắc quan trọng của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015) là nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự[1]. Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. Vì vậy, cùng một yêu cầu khởi kiện, cùng một vấn đề yêu cầu Toà án “công nhận quyền sử dụng đất” nhưng lại được Toà án áp dụng pháp luật, xử lý đơn khởi kiện theo hai hướng khác nhau, hoặc theo hướng thụ lý yêu cầu khởi kiện “công nhận quyền sử dụng đất” căn cứ theo khoản 1, khoản 7 Bộ Luật Dân sự 2015 hoặc theo hướng Toà án từ chối thụ lý, trả lại đơn khởi kiện do “công nhận quyền sử dụng đất” không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án sẽ dẫn đến việc không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cũng như sự bình đẳng giữa những người khởi kiện.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2. Quy định về công nhận quyền sử dụng đất

2.1. Công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024

Công nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) là một hình thức xác lập QSDĐ (cách thức để trở thành người sử dụng đất) bên cạnh các hình thức khác như giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển QSDĐ,... Sau khi được công nhận, QSDĐ trở thành quyền tài sản được pháp luật bảo vệ, người đang sử dụng đất có “địa vị pháp lý rõ ràng”, trở thành người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai[2].

*Khái niệm Nhà nước công nhận QSDĐ: Theo khoản 33 Điều 3 Luật Đất đai 2024: “Nhà nước công nhận QSDĐ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu cho người đang sử dụng đất ổn định đối với thửa đất xác định theo quy định của Luật này”. Đối với trường hợp này, việc sử dụng đất đang tồn tại trên thực tế và đất có nguồn gốc không phải do Nhà nước giao, cho thuê. Nếu Nhà nước xét thấy việc sử dụng đất này phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, không có tranh chấp,... thì sẽ công nhận bằng việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (GCN) lần đầu mà không ban hành quyết định hành chính như trường hợp Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Thời điểm cấp GCN đồng thời là thời điểm công nhận QSDĐ. Như vậy, Nhà nước công nhận QSDĐ là việc Nhà nước thông qua việc cấp GCN lần đầu, chính thức thừa nhận và hợp thức hóa quyền sử dụng đối với một thửa đất mà người dân đã sử dụng ổn định, qua đó biến quan hệ sử dụng đất thực tế thành quyền tài sản hợp pháp, công khai, được bảo vệ và có thể tham gia giao dịch trong khuôn khổ pháp luật.

*Đối tượng được công nhận QSDĐ: Các đối tượng đang sử dụng đất được cấp GCN trên thực tế có thể bao gồm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc nhưng phổ biến nhất vẫn là các hộ gia đình, cá nhân. Theo đó, Luật Đất đai 2024 đã quy định cụ thể việc cấp GCN lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại các Điều 137, 138, 139 và 140. Các đối tượng đang sử dụng đất được xem xét công nhận QSDĐ trong trường hợp này bao gồm:

(1) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, có giấy tờ về QSDĐ (các loại giấy tờ được lập trước ngày 15/10/1993, giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh, giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho, giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất,...).

(2) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về QSDĐ mà không vi phạm pháp luật về đất đai, không thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền.

(3) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014 nhưng đáp ứng các điều kiện tại Điều 139 Luật Đất đai 2024.

(4) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng đáp ứng các điều kiện tại Điều 140 Luật Đất đai 2024.

*Điều kiện công nhận QSDĐ: Việc công nhận QSDĐ cho người đang sử dụng đất là trường hợp xảy ra khá phổ biến trên thực tế ở Việt Nam và cần được xem xét cẩn thận về nguồn gốc đất, tình trạng pháp lý để tránh phát sinh tranh chấp. Nguyên tắc chung để được Nhà nước công nhận QSDĐ theo Luật Đất đai 2024 và các nghị định hướng dẫn là người sử dụng đất phải đáp ứng một số điều kiện cơ bản. Trước hết, dù là có giấy tờ về QSDĐ hay không, người đề nghị công nhận phải đang sử dụng đất ổn định, tức là sử dụng thửa đất đó vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan Nhà nước kiểm tra, xem xét[3]. Thời điểm bắt đầu sử dụng phải trước các mốc thời gian mà luật đặt ra (ví dụ: trước ngày 18/12/1980, ngày 15/10/1993, ngày 01/7/2004, ngày 01/7/2014,...) tùy từng trường hợp. Thửa đất đồng thời phải không có tranh chấp, được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận, vì bản chất của việc Nhà nước công nhận QSDĐ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi nhận chính thức ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với một thửa đất cụ thể. Bên cạnh đó, đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại thời điểm xem xét hoặc thuộc trường hợp quy hoạch thay đổi dẫn đến không còn thuộc diện phải thu hồi, bởi quy hoạch là căn cứ quan trọng để Nhà nước quyết định mục đích sử dụng đất. Ngoài ra, người sử dụng đất phải không vi phạm pháp luật đất đai, hoặc nếu có vi phạm thì phải thuộc trường hợp được xem xét công nhận (ví dụ: vi phạm phát sinh trước ngày 01/7/2014, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính,...). Cùng với các điều kiện chung này, người đang sử dụng đất còn phải chứng minh nguồn gốc sử dụng đất hợp pháp, thông qua việc có giấy tờ theo Điều 137 hoặc sử dụng đất ổn định từ trước các mốc thời gian theo Điều 138 đối với trường hợp không có giấy tờ,... đáp ứng các điều kiện cụ thể tương ứng với từng trường hợp có giấy tờ hoặc không có giấy tờ về QSDĐ theo quy định của Luật Đất đai và nghị định hướng dẫn. Khi đáp ứng đồng thời các tiêu chí nêu trên, QSDĐ được Nhà nước công nhận, từ đó xác lập tư cách pháp lý chính thức và bảo đảm quyền tài sản cho người sử dụng đất.

*Về quyền và nghĩa vụ khi được công nhận QSDĐ: Sau khi được công nhận QSDĐ và cấp GCN, hộ gia đình và cá nhân được hưởng đầy đủ các quyền của người sử dụng đất theo quy định pháp luật. Theo đó, người sử dụng đất có thể thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp hoặc góp vốn bằng QSDĐ khi đáp ứng đủ điều kiện (đã có Giấy Chứng nhận, đất không tranh chấp, không bị kê biên, còn thời hạn sử dụng, không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời)[4]. Bên cạnh đó, người sử dụng đất cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước khi được công nhận. Đối với trường hợp có giấy tờ về QSDĐ (Điều 137) thì thường được công nhận mà không phải nộp tiền sử dụng đất; đối với trường hợp không có giấy tờ về QSDĐ, có vi phạm pháp luật đất đai, hoặc được giao đất không đúng thẩm quyền (Điều 138, 139, 140) thì có thể phải thực hiện nghĩa vụ tài chính, trừ một số trường hợp được miễn tiền sử dụng đất[5].

2.2 Chủ thể có thẩm quyền công nhận QSDĐ theo quy định của Luật Đất đai 2024

Theo khoản 9 Điều 13 Luật Đất đai 2024, với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, chỉ Nhà nước có quyền “công nhận quyền sử dụng đất”. Đồng thời, tại Điều 14 Luật này cũng quy định Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định của Luật Đất đai và luật khác có liên quan thông qua các cơ quan như Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.

Như đã phân tích, Nhà nước công nhận QSDĐ được thể hiện thông qua việc cấp GCN lần đầu, do đó, chủ thể có thẩm quyền công nhận QSDĐ cũng chính là chủ thể có thẩm quyền cấp GCN lần đầu. Về vấn đề này, Điều 136 Luật Đất đai 2024 đã quy định thẩm quyền cấp GCN theo hướng phân định rõ quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của cơ quan nhà nước thông qua việc cấp GCN lần đầu (việc công nhận QSDĐ) với việc cung cấp dịch vụ công của cơ quan đăng ký đất đai (việc cấp Giấy chứng nhận khi đăng ký biến động). Theo đó, đối với các trường hợp đăng ký lần đầu mà có nhu cầu cấp GCN, UBND cấp tỉnh sẽ công nhận QSDĐ của tổ chức trong nước và tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. UBND cấp huyện công nhận QSDĐ đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, sau ngày 01/7/2025, các thẩm quyền trong quản lý đất đai đã được phân cấp, phân quyền cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, thực hiện theo Nghị định 151/2025/NĐ-CP ngày 12/06/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai. Theo đó, thẩm quyền của UBND cấp huyện theo quy định của Luật Đất đai chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện, bao gồm cấp GCN lần đầu (Điểm h Khoản 1 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP). Việc chuyển giao thẩm quyền cấp GCN lần đầu cho UBND cấp xã góp phần tăng minh bạch, tiếp cận dịch vụ nhanh hơn, tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân, đồng thời giúp khẳng định quyền sử dụng đất – tạo động lực phát triển kinh tế địa phương.

Nhưng dù phân cấp thế nào, chủ thể có thẩm quyền công nhận QSDĐ vẫn luôn là cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai. Điều 12 Luật Đất đai 2024 khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Việc cấp GCN lần đầu là hành vi pháp lý xác nhận và công nhận QSDĐ của tổ chức, cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Do đó, chỉ cơ quan hành chính nhân danh Nhà nước mới có quyền công nhận QSDĐ. Việc tập trung thẩm quyền ở UBND các cấp và cơ quan chuyên môn thuộc UBND giúp duy trì cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, dễ thanh tra, kiểm tra, xử lý sai phạm. Điều này đảm bảo sự xuyên suốt, thống nhất trong quá trình quản lý đất đai, từ khâu quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cho đến cấp GCN.

Bên cạnh đó, việc cấp GCN lần đầu đòi hỏi một quá trình thẩm tra rất chặt chẽ, bao gồm xác minh nguồn gốc hình thành thửa đất (được giao, chuyển nhượng, khai hoang, thừa kế, lấn chiếm hay cấp sai thẩm quyền), xác định thời điểm và mức độ ổn định của việc sử dụng, kiểm tra tình trạng tranh chấp, đồng thời đối chiếu với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hồ sơ địa chính qua từng thời kỳ và hiện trạng sử dụng trên thực tế. Những công việc này chỉ các cơ quan quản lý đất đai và UBND các cấp mới có đủ dữ liệu lưu trữ, thẩm quyền tổ chức họp dân, lấy ý kiến khu dân cư, xác nhận nguồn gốc sử dụng đất trong trường hợp người dân không có giấy tờ, cũng như quyền tiến hành kiểm tra, đo đạc và xác minh thực địa. Do đó, có thể khẳng định rằng việc cấp GCN lần đầu đòi hỏi phải nắm rõ lịch sử, nguồn gốc, quá trình và hiện trạng sử dụng đất, nên giao thẩm quyền này cho cơ quan quản lý đất đai và cơ quan hành chính là hoàn toàn hợp lý.

Từ việc phân tích khái niệm, điều kiện và thẩm quyền hành chính trong việc công nhận QSDĐ theo Luật Đất đai 2024, có thể khẳng định rằng “công nhận quyền sử dụng đất” về bản chất là một thủ tục hành chính đặc thù, gắn với việc Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua việc cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng dân sự, không ít trường hợp người khởi kiện lại sử dụng thuật ngữ “yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất” khi phát sinh tranh chấp, dẫn đến sự nhầm lẫn về giới hạn thẩm quyền giữa cơ quan hành chính và Tòa án. Chính sự khác biệt này là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến các quan điểm không thống nhất trong việc thụ lý đơn khởi kiện của Tòa án. Trên cơ sở đó, việc làm rõ thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp và xác định chủ thể có quyền sử dụng đất, với tư cách là một quyền tài sản – quyền dân sự, là yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn cấp thiết.

3. Tòa án với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất trong tố tụng dân sự

3.1. Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất

Căn cứ Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Đồng thời, căn cứ quy định tại Điều 2, Điều 3 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2024 thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử, giải quyết các vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật, thực hiện quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử, quyết định về các tranh chấp, vi phạm pháp luật, về những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của luật; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

Bên cạnh đó, căn cứ Luật Tổ chức Toà án nhân dân 2024, Toà án thực hiện chức năng xét xử, giải quyết các vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật. Nếu hiểu “công nhận QSDĐ” là việc cấp GCN lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024 thì Toà án không có thẩm quyền “công nhận QSDĐ”. Toà án chỉ có thẩm quyền xét xử vụ việc, căn cứ trên việc đánh giá tổng thể, khách quan, toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc về tranh chấp đất đai để phán quyết, xác định chủ thể nào là chủ thể có quyền đối với quyền sử dụng đất đang tranh chấp. Dựa trên kết quả xét xử, phán quyết của Toà án mà đương sự sẽ liên hệ cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để thực hiện thủ tục cập nhật biến động về quyền sử dụng đất.

Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam là một hệ thống thống nhất. Vì vậy, những thuật ngữ pháp lý của luật chuyên ngành, cụ thể trong trường hợp này là Luật Đất đai, trong đó có nội dung “công nhận QSDĐ” cần được sử dụng thống nhất, nguyên nghĩa trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có cơ quan có thẩm quyền xét xử là Toà án.

Như nhóm tác giả đã phân tích ở trên, chủ thể có thẩm quyền “công nhận QSDĐ” vẫn luôn là cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai, chỉ cơ quan hành chính nhân danh Nhà nước mới có quyền công nhận QSDĐ. Căn cứ theo quy định của Luật Đất đai, Toà án không phải là chủ thể có thẩm quyền “công nhận quyền sử dụng đất” theo thủ tục hành chính. Vì vậy, đối với yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Toà án “công nhận QSDĐ” cho người khởi kiện thì Toà án có căn cứ để trả lại đơn khởi kiện theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.

Đồng thời, tại Điểm b Khoản 1 Điều 266 BLTTDS 2015 quy định: Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật…để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Vì vậy, trong trường hợp Toà án thụ lý yêu cầu khởi kiện “công nhận quyền sử dụng đất” cho đương sự trong khi theo quy định của Luật Đất đai 2024 Toà án không có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục hành chính thì bản án khó có căn cứ pháp lý thuyết phục.

3.2. Tòa án và việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất trong tranh chấp

BLDS 2015 đã dành một điều luật riêng biệt để ghi nhận nội dung về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự. Cụ thể, các quyền dân sự như quyền nhân thân, quyền tài sản, các quyền khác được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Theo quy định của BLDS 2015, QSDĐ là một quyền tài sản - quyền dân sự. Căn cứ để xác lập quyền tài sản đối với QSDĐ tuân thủ theo quy định tại Điều 8 BLDS 2015 qua hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, hành vi pháp lý đơn phương như tặng cho QSDĐ, quyết định của Toà án, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu.

Bên cạnh đó, theo khoản 6 Điều 137 Luật Đất đai 2024 thì hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành thì được cấp GCN. Về bản chất, thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp này xuất phát từ việc thực hiện chức năng tư pháp. Khi phát sinh tranh chấp về đất đai (như xác định người có quyền sử dụng đất, phân chia di sản thừa kế, giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn…), Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định toàn diện các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp cũng như chứng cứ do Tòa án thu thập, trên cơ sở đó đánh giá nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất để đưa ra phán quyết về chủ thể có quyền sử dụng đất. Phán quyết của Tòa án có giá trị xác lập quyền, là căn cứ pháp lý bắt buộc để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tôn trọng và thực thi. Trường hợp bản án tuyên một chủ thể cụ thể có quyền sử dụng đối với thửa đất xác định thì nội dung này trở thành căn cứ pháp lý trực tiếp cho việc công nhận quyền sử dụng đất và thực hiện các thủ tục hành chính đất đai tiếp theo theo quy định của pháp luật.

Như vậy, thông qua hoạt động xét xử, Tòa án có thẩm quyền công nhận chủ thể khởi kiện có quyền sử dụng đất – với tư cách là một quyền tài sản – trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan các tình tiết của vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các căn cứ pháp luật có liên quan, từ đó quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của đương sự và giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến quyền sử dụng đất.

Việc Toà án công nhận, xác định chủ thể có quyền đối với QSDĐ khác biệt hoàn toàn đối với thủ tục hành chính “công nhận QSDĐ” của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai. Bởi Toà án công nhận, xác định chủ thể có quyền đối với QSDĐ thông qua quá trình xem xét, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc để xác định, công nhận chủ thể có quyền đối với QSDĐ trong khi cơ quan quản lý hành chính nhà nước về đất đai thực hiện thủ tục “công nhận QSDĐ” khi thửa đất phải “không có tranh chấp” và rà soát hàng loạt tiêu chí khác về quá trình sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất… phù hợp mới tiến hành công nhận đối với người sử dụng đất. “Công nhận” của Toà án không phải là “công nhận QSDĐ” theo thủ tục hành chính bởi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai.

QSDĐ được công nhận, xác định thuộc quyền sử dụng của người khởi kiện thông qua bản án, phán quyết của Toà án khác biệt về bản chất với QSDĐ được xác lập cho người sử dụng đất thông qua thủ tục công nhận QSDĐ của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai khi tiếp sau đó người được Toà án xác định, công nhận là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp sẽ tiến hành nộp hồ sơ tại cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để được cấp GCN, được đăng ký biến động và được xác định là người sử dụng đất hợp pháp.

Trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều vụ việc Tòa án chấp nhận và công nhận cho người khởi kiện là chủ thể có QSDĐ thông qua bản án, phán quyết của mình:

Vụ việc thứ nhất: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Bích N1 nhận chuyển nhượng đất từ ông Lương Văn S tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nguồn gốc đất được chuyển nhượng qua nhiều người trước đó. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H, bà N1 được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa số 17, tờ bản đồ số 01, diện tích 11.726 m². Tuy nhiên, việc chuyển nhượng thực tế chỉ theo ranh mốc trên thực địa, không trùng toàn bộ thửa 17 trên giấy, mà gồm toàn bộ thửa 21 và một phần thửa 24 (tờ bản đồ số 01), với diện tích thực tế 8.354,2 m²; phần còn lại do các con của bà Nguyễn Thị Tố N quản lý, sử dụng. Năm 2018, người đại diện của ông H, bà N1 chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất theo hiện trạng cho bà Vũ Thị Hồng U và đã xác định ranh giới, mốc giới ổn định từ trước. Trong quá trình bà U làm thủ tục sang tên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai lại cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Nguyễn Thị Tố N, trong đó bao gồm cả diện tích 2.036,9 m² thuộc một phần thửa 24 mà ông H, bà N1 đã nhận chuyển nhượng và đang quản lý, sử dụng. Cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận cho bà N là trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của mình, ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Bích N1 khởi kiện yêu cầu: (i) hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho bà Nguyễn Thị Tố N; (ii) buộc bà N trả lại diện tích 2.036,9 m² thuộc thửa 24; và (iii) công nhận ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Bích N1 có quyền sử dụng diện tích đất 8.354,2 m² (gồm thửa 21 và một phần thửa 24) theo ranh giới, mốc giới thực tế[6]. Trong vụ việc trên, bản chất yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án xác định và công nhận ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Bích N1 là chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất 8.354,2 m² theo hiện trạng sử dụng thực tế, đồng thời hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp chồng lấn cho bà Nguyễn Thị Tố N. Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên công nhận ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Bích N1 có quyền sử dụng tổng diện tích 8.354,2m2 đất gồm: thửa số 21, tờ bản đồ số 01 (có diện tích 6.317,3m2) và một phần thửa 24, tờ bản đồ số 01 (có diện tích 2.036,9m2), xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, đất được giới hạn bởi các mốc (12,13,4,5,6,9,10,3,2,14– 12) và buộc bà Nguyễn Thị Tố N tháo dỡ hàng rào đã tạo lập.

Vụ việc thứ hai: Bố mẹ ông Đàm Văn Đ là cụ Đàm Văn M1 (mất năm 1972) và cụ Phan Thị T3 (mất năm 1990), có 4 người con. Khi còn sống, hai cụ tạo lập được khối tài sản chung gồm ba thửa đất tại thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Trong đó, thửa đất số 187, tờ bản đồ số 04, diện tích 331 m² có nhà cấp 4 trên đất được bố mẹ cho ông Đ, và ông đã được ghi nhận là người sử dụng đất trên bản đồ năm 1993. Năm 1997, ông Đ cho ông Đàm Văn D ở nhờ trên thửa đất số 187 trong thời gian ngắn, sau đó ông D trả lại đất; việc ở nhờ không làm phát sinh đóng góp hay đầu tư xây dựng. Năm 2010, ông Đ phá nhà cũ và xây nhà hai tầng trên thửa đất này bằng nguồn tiền của mình. Tuy nhiên, các năm 1994 và 2016, cơ quan nhà nước lần lượt cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất số 187 mang tên ông Đàm Văn D. Mặc dù UBND xã thông báo đã thu hồi giấy chứng nhận cấp năm 1994 và giao cho ông Đ giữ giấy chứng nhận cấp năm 2016 để làm tài liệu liên quan, ông Đàm Văn D không hợp tác thực hiện thủ tục sang tên, trả lại đất. Cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Đàm Văn D là trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của mình, ông Đ khởi kiện yêu cầu: (i) hủy hai Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông Đàm Văn D đối với thửa đất số 187; và (ii) Công nhận cho ông được QSDĐ thửa đất số 187, tờ bản đồ số 04, diện tích 331 m² tại thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên[7]. Tương tự như vụ việc thứ nhất, bản chất yêu cầu khởi kiện trong vụ việc này là đề nghị Tòa án xác định và công nhận người khởi kiện mới là chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 187 đang tranh chấp, đồng thời hủy các Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp không đúng cho ông Đàm Văn D. Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã tuyên công nhận cho nguyên đơn được quyền sử dụng đất thửa thửa đất số 187, tờ bản đồ số 04, diện tích 331m2, vị trí thửa đất tại thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Có thể kết luận rằng, trong cả hai vụ việc nêu trên, việc Tòa án thụ lý và giải quyết yêu cầu công nhận người khởi kiện là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Nhóm tác giả cho rằng yêu cầu này của người khởi kiện phù hợp với các phương thức bảo vệ quyền dân sự được ghi nhận tại khoản 1 và khoản 7 Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình. Trong các vụ việc này, người khởi kiện đều là chủ thể trực tiếp quản lý, sử dụng đất trên thực tế và xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ xác lập QSDĐ của mình và yêu cầu khác theo quy định của luật. Do đó, việc Tòa án xem xét, xác định và công nhận họ là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp, qua đó bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền dân sự bằng con đường tư pháp một cách hiệu quả và đúng bản chất pháp lý của quan hệ tranh chấp.

3.3. Sự nhầm lẫn trong cách thức thể hiện yêu cầu khởi kiện về quyền sử dụng đất và hệ quả pháp lý

Do trình độ hiểu biết pháp lý của người khởi kiện còn hạn chế trong việc sử dụng các thuật ngữ pháp lý chính xác nên họ khó có thể diễn đạt chính xác nội dung yêu cầu khởi kiện khớp với mong muốn thực tế của họ và chưa phù hợp với quy định của BLDS 2015, Luật Đất đai. Chẳng hạn như thay vì thể hiện yêu cầu Toà án xác định, công nhận cho người khởi kiện được quyền sử dụng, là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp thì họ lại thường diễn đạt là yêu cầu “Toà án công nhận QSDĐ”. Cụ thể có thể xem xét trong các tình huống như sau:

Trường hợp thứ nhất[8]: Phần đất tranh chấp 10.000 m2 có nguồn gốc do A nhận chuyển nhượng của B, sau khi nhận chuyển nhượng thì A nhờ C đứng ra kê khai đăng ký xin cấp GCQSDĐ và đứng tên dùm, sau đó C kê khai và được cấp GCNQSDĐ đối với phần đất tranh chấp. Thực tế, A trực tiếp quản lý và sử dụng phần đất từ thời điểm nhận chuyển nhượng cho đến nay. Hiện nay, A có yêu cầu C thực hiện thủ tục chuyển tên QSDĐ lại cho A, nhưng C không đồng ý và còn có ý định yêu cầu A giao đất, nên phát sinh tranh chấp. A xác định không khởi kiện theo trình tự của Luật Tố tụng hành chính (LTTHC), mà khởi kiện theo trình tự quy định tại BLTTDS, yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp 10.000 m2 là thuộc QSDĐ hợp pháp của A. Mục đích, nội dung khởi kiện của A có thể được hiểu là A khởi kiện yêu cầu Toà án xác định A là chủ thể có quyền đối với QSDĐ 10.000m2 đang tranh chấp.

Trường hợp thứ hai[9]: Nguồn gốc đất tranh chấp A và B được cha mẹ tặng cho mỗi người 01 phần đất nằm liền kề nhau, sau khi được tặng cho thì A và B đã quản lý và sử dụng đất ổn định trên 30 năm. Quá trình quản lý và sử dụng đất thì A và B đã được cấp GCNQSDĐ (thời điểm được cấp GCNQSDĐ thì A không biết phần đất mặt tiền 5.000 m2 của A được cấp cho B). Thời gian sau có chủ trương kê khai cấp đổi lại GCNQSDĐ thì A mới phát hiện phần đất mặt tiền của A cấp cho B đứng tên. A yêu cầu B phối hợp thực hiện việc kê khai để xin cấp lại GCNQSDĐ cho đúng với hiện trạng thực tế sử dụng đất, nhưng B không đồng ý, nên phát sinh tranh chấp. A khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp 5.000 m2 là thuộc QSDĐ hợp pháp của A (A cũng xác định không khởi kiện theo trình tự LTTHC để yêu cầu huỷ GCNQSDĐ cấp cho B). Tương tự như trên, mục đích, nội dung khởi kiện của A được hiểu là A yêu cầu Toà án xác định A mới là chủ thể có quyền đối với phần đất 5000m2 đang tranh chấp.

Trường hợp thứ ba[10]: Khu đất rừng diện tích 0,5 ha tại thửa M1 có nguồn gốc do ông cha anh Vàng Mí G để lại và được chia cho các hộ trong dòng họ, trong đó bố anh G là ông Vàng Pà C được giao quản lý, sử dụng và đã được cấp GCNQSDĐ năm 1998. Sau khi ông C chết, anh G tiếp tục quản lý, sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Năm 2023, phát sinh mâu thuẫn khi anh G cắt tỉa cây rừng giáp ranh, ông Vàng Xúa C cho rằng anh G phá rừng và khởi kiện tranh chấp đất đai. Quá trình giải quyết, anh G phát hiện ông C đã được cấp GCNQSDĐ năm 2009 đối với toàn bộ diện tích đất rừng đã được chia trước đó, bao gồm cả phần đất gia đình anh G đang sử dụng. Do đó, anh G khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 6.327,1 m² và hủy một phần GCNQSDĐ đã cấp cho ông C; tuy nhiên, tại phiên tòa, anh G tự nguyện rút yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và Tòa án đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu này.

Qua phân tích các vụ việc thực tiễn nêu trên, có thể nhận thấy rằng, mặc dù người khởi kiện thường sử dụng cụm từ “yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất”, nhưng mục đích thực chất của họ không phải là yêu cầu Tòa án thực hiện thủ tục hành chính công nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai. Trái lại, nội dung cốt lõi của yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án, thông qua hoạt động xét xử, xác định và công nhận ai là chủ thể có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất đang tranh chấp, trên cơ sở xem xét nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng và các căn cứ xác lập quyền.

Sự khác biệt này cho thấy ranh giới mỏng manh nhưng mang ý nghĩa quyết định giữa: (i) “Công nhận quyền sử dụng đất” – một thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền riêng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; và (ii) “Xác định (công nhận) chủ thể có quyền sử dụng đất trong tranh chấp” – một hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhằm bảo vệ quyền dân sự.

Như nhóm tác giả đã phân tích, theo quy định của Luật Đất đai 2024, Toà án không có thẩm quyền “công nhận QSDĐ”. Toà án có thẩm quyền thụ lý đối với yêu cầu Toà án xác định, công nhận người khởi kiện là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp. Khi giải quyết vụ án tranh chấp QSDĐ giữa các bên thì Hội đồng xét xử sẽ căn cứ trên toàn bộ các tài liệu, chứng cứ được đương sự cung cấp và Toà án thu thập được để ra phán quyết xác định ai là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp. Cụ thể, những khía cạnh Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong vụ án tranh chấp QSDĐ thường liên quan đến: nguồn gốc đất, quá trình khai thác, sử dụng đất và chủ thể thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến QSDĐ, hiện trạng phần đất tranh chấp, thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ… để có căn cứ xác định ai là người có QSDĐ. Đồng thời, khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án tranh chấp QSDĐ mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết, không phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện của đương sự. Phán quyết của Toà án xác định chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp là cơ sở, căn cứ để cơ quan quản lý về đất đai thực hiện các thủ tục hành chính tiếp theo đối với chủ thể được xác định là chủ thể có quyền đối với QSDĐ đang tranh chấp.

Ngoài ra, hiện nay còn có quan điểm cho rằng các trường hợp nêu trên đương sự phải khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu huỷ giấy chứng nhận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với thửa đất trong khi người khởi kiện đã lựa chọn khởi kiện vụ án theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự là đang vi phạm nguyên tắc về quyền quyết định, định đoạt của đương sự[11]. Bởi giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự thì vụ việc sẽ được xem xét triệt để hơn trong khi vụ án hành chính chỉ xem xét tính hợp pháp, có căn cứ của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ thể, theo quy định của Điều 191 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì trong vụ án hành chính HĐXX sẽ xem xét những vấn đề sau:

- Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;

Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;

- Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

- Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;

- Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có);

- Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có).

Trong khi đó, khi giải quyết vụ án dân sự giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các bên thì Hội đồng xét xử sẽ xem xét các vấn đề liên quan đến: nguồn gốc đất, quá trình khai thác, sử dụng đất và chủ thể thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất, hiện trạng phần đất tranh chấp, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… để có căn cứ xác định ai là người có quyền sử dụng đất. Đồng thời, khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết, không phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện của đương sự.

3. Khuyến nghị

Thứ nhất, như nhóm tác giả đã phân tích xuyên suốt bài viết về nội dung “công nhận quyền sử dụng đất”, khi pháp luật là một hệ thống thống nhất thì đòi hỏi vấn đề áp dụng pháp luật phải thống nhất, đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành. Đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng. Cùng một nội dung về tranh chấp quyền sử dụng đất là yêu cầu Toà án xác định, công nhận người khởi kiện là chủ thể có quyền đối với quyền sử dụng đất nhưng với tư duy áp dụng pháp luật khác nhau từ Toà án với một bộ phận áp dụng cho rằng đó là thủ tục hành chính “công nhận quyền sử dụng đất” dẫn đến từ chối thụ lý đơn khởi kiện và một bộ phận vận dụng theo căn cứ tại khoản 1 và khoản 7 Điều 11 BLDS 2015, linh hoạt hơn trong việc thụ lý đơn khởi kiện dẫn đến việc không đảm bảo được quyền bình đẳng giữa những người cùng khởi kiện.

Thứ hai, không thể phủ nhận thực trạng người khởi kiện còn có sự hạn chế trong việc hiểu và vận dụng pháp luật nội dung khi soạn đơn khởi kiện đối với yêu cầu “công nhận quyền sử dụng đất” dù cho mục đích ban đầu của họ là yêu cầu Toà án xác định, công nhận người khởi kiện là chủ thể có quyền đối với quyền sử dụng đất đang tranh chấp. Trong khi đó, tuân thủ quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

Như vậy, trong trường hợp này, Toà án có thể phát hành Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đề nghị người khởi kiện làm rõ nội dung, yêu cầu khởi kiện và giải thích cho người khởi kiện hiểu và phân biệt được chủ thể có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai 2024 (Căn cứ điểm g Khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định đơn khởi kiện phải thể hiện rõ nội dung quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

- Nếu như người khởi kiện sau khi nhận được Thông báo sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện vẫn khẳng định yêu cầu khởi kiện là yêu cầu Toà án “công nhận quyền sử dụng đất” tranh chấp theo thủ tục hành chính cho họ thì vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Toà án không có thẩm quyền “công nhận quyền sử dụng đất” theo quy định của Luật Đất đai 2024 (công nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục hành chính). Hệ quả là Toà án sẽ căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 để trả lại đơn khởi kiện.

- Nếu như người khởi kiện sau khi nhận được Thông báo và sửa đổi, bổ sung, làm rõ yêu cầu Toà án “công nhận quyền sử dụng đất” có nghĩa là yêu cầu Toà án xác định, công nhận người khởi kiện là chủ thể có quyền đối với quyền sử dụng đất tranh chấp thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Tòa án sẽ căn cứ tài liệu, chứng cứ đương sự cung cấp, tài liệu, chứng cứ mà toà án thu thập được để xác định ai là chủ thể có quyền đối với quyền sử dụng đất đang tranh chấp.

Vì vậy, từ những phân tích và đề xuất trên, nhóm tác giả cho rằng Toà án nhân dân tối cao cần có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất đối với phương hướng xử lý đơn khởi kiện cho yêu cầu khởi kiện có nội dung yêu cầu toà án “công nhận quyền sử dụng đất” cho người khởi kiện.

[1] Xem thêm Điều 8 BLTTDS 2015.

[2] Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; đang sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và QSDĐ ở, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; nhận QSDĐ; thuê lại đất theo quy định của Luật này…”.

[3] Khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai 2024.

[4] Điều 45 Luật Đất đai 2024.

[5] Việc tính tiền sử dụng đất đối với các trường hợp được công nhận QSDĐ được hướng dẫn tại các Điều 9, 10, 11 và 12 Nghị định 103/2024/NĐ-CP quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

[6] Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[7] Bản án số 263/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[8] Trương Huỳnh Hải, Dương Thị Thêu, (2025), Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án,  https://tapchitoaan.vn/yeu-cau-cong-nhan-quyen-su-dung-dat-co-thuoc-tham-quyen-giai-quyet-cua-toa-an-thuc-tien-va-kien-nghi14347.html, truy cập ngày 14/12/2025.

[9] Trương Huỳnh Hải, Dương Thị Thêu, (2025), Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án - Thực tiễn và kiến nghị,  https://tapchitoaan.vn/yeu-cau-cong-nhan-quyen-su-dung-dat-co-thuoc-tham-quyen-giai-quyet-cua-toa-an-thuc-tien-va-kien-nghi14347.html, truy cập ngày 14/12/2025.

[10] Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[11] Xem thêm Điều 5 BLTTDS 2015. 

Thạc sĩ DƯƠNG THỊ CHIẾN

Công ty Luật TNHH Pros Legal

Thạc sĩ NGÔ GIA HOÀNG

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh