Mở đầu
Kỷ nguyên phát triển mới mà Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập không chỉ là dấu mốc có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình hiện đại hóa đất nước, mà còn mở ra một không gian tư duy mới về phát triển con người toàn diện - trong đó sức khỏe nhân dân được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao không thể đạt được nếu thiếu một nền y tế vững mạnh, công bằng, hiệu quả và nhân văn. Trong bối cảnh đó, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân không chỉ là một nhiệm vụ kinh tế - xã hội đơn thuần, mà còn là một trụ cột quan trọng cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng.
Quan điểm nhất quán của Đảng về y tế được hình thành và phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: “Sức khỏe là vốn quý nhất của con người” [1]. Quan điểm này không chỉ mang giá trị nhân văn phổ quát mà còn trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cho đường lối, chính sách y tế của Đảng và Nhà nước ta. Trên cơ sở đó, Đảng ta luôn xác định phát triển y tế là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển con người, gắn liền với mục tiêu công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo đảm quyền con người trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) đến các văn kiện của Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng và đặc biệt là Đại hội XIV, Đảng ta liên tục khẳng định và phát triển quan điểm: “Y tế là sự nghiệp của toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, phát triển theo hướng công bằng, hiệu quả và hội nhập quốc tế” [2]. Quan điểm này thể hiện rõ tính ưu việt của mô hình y tế XHCN ở Việt Nam - một mô hình đặt con người làm trung tâm, không thương mại hóa quyền được chăm sóc sức khỏe, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây chính là sự khác biệt căn bản về bản chất so với mô hình y tế thuần túy thị trường, nơi sức khỏe có nguy cơ bị biến thành hàng hóa và phụ thuộc vào khả năng chi trả.
Bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số, Cách mạng 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng, lĩnh vực y tế Việt Nam đang chứng kiến những biến đổi nhanh chóng cả về phương thức quản lý, tổ chức cung ứng dịch vụ và tiếp cận công nghệ. Các thành tựu về y tế số, hồ sơ sức khỏe điện tử, trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán và điều trị, cùng với việc mở rộng bao phủ BHYT toàn dân đã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, chính trong môi trường số hóa và toàn cầu hóa đó, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị lại triệt để lợi dụng những khó khăn, hạn chế, thậm chí cả những vụ việc cá biệt trong ngành y tế để xuyên tạc, bóp méo bản chất của hệ thống y tế Việt Nam.
Trên các nền tảng mạng xã hội và không gian truyền thông xuyên biên giới, không khó để bắt gặp những luận điệu sai trái như: “hệ thống y tế công lập đang khủng hoảng toàn diện”, “BHYT chỉ là công cụ tận thu của Nhà nước”, “Việt Nam không bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe”, hay “chỉ có tư nhân hóa y tế theo mô hình phương Tây mới là lối thoát”... Những quan điểm này, dưới vỏ bọc “phản biện xã hội”, thực chất mang động cơ chính trị nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nguy hiểm hơn, chúng đánh trực diện vào lĩnh vực y tế - lĩnh vực gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày của người dân, từ đó tạo ra tâm lý hoài nghi, bất an và chia rẽ xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc triển khai Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái trên lĩnh vực y tế trở nên đặc biệt cấp thiết. Đây không chỉ là yêu cầu tư tưởng - lý luận mà còn là nhiệm vụ chính trị gắn với bảo vệ quyền lợi nhân dân và thành quả chăm sóc sức khỏe. Đồng thời, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”: vừa củng cố niềm tin, lan tỏa giá trị đúng đắn của hệ thống y tế XHCN, vừa chủ động nhận diện, phản bác luận điệu sai trái một cách khoa học.
Từ yêu cầu đó, bài viết tập trung vào bốn nội dung: (1) cơ sở lý luận của Đảng về y tế và chăm sóc sức khỏe; (2) thành tựu ngành y tế Việt Nam, nhất là trong chuyển đổi số và hậu đại dịch; (3) nhận diện bản chất, thủ đoạn của các quan điểm sai trái; (4) đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, nhấn mạnh vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong củng cố “thế trận lòng dân”. Bài viết góp phần làm rõ giá trị khoa học, cách mạng của nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực y tế, đồng thời tăng cường “sức đề kháng” xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo nền tảng thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
1. Nền tảng tư tưởng của Đảng về y tế - cơ sở lý luận khoa học và cách mạng
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam về lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh được hình thành, phát triển trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời được bổ sung, hoàn thiện không ngừng qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng và yêu cầu của từng giai đoạn phát triển đất nước. Đây không chỉ là hệ thống quan điểm lý luận thuần túy mà còn là nền tảng chính trị - tư tưởng định hướng toàn bộ đường lối, chính sách y tế của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tính nhất quán giữa mục tiêu phát triển con người và định hướng XHCN.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải một cách khoa học rằng, trong mọi hình thái kinh tế - xã hội, con người vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Trong xã hội XHCN, sức khỏe của nhân dân không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn là yếu tố cấu thành trực tiếp của lực lượng sản xuất xã hội, quyết định năng suất lao động và sự phát triển bền vững. Trên tinh thần đó, Vladimir Ilyich Lenin đã nhấn mạnh: “Chăm lo sức khỏe cho nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước vô sản” [4]. Quan điểm này khẳng định vai trò trung tâm của nhà nước XHCN trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của nhân dân, đồng thời bác bỏ những cách tiếp cận coi y tế chỉ là lĩnh vực dịch vụ đơn thuần vận hành theo quy luật thị trường.
Tiếp thu và phát triển sáng tạo những luận điểm đó, Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống tư tưởng toàn diện, sâu sắc về y tế, đặt nền móng cho đường lối y tế cách mạng Việt Nam. Người không chỉ khẳng định “Sức khỏe tốt thì làm được nhiều việc, sức khỏe kém thì làm được ít việc” [5], mà còn đặc biệt nhấn mạnh đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ y tế với yêu cầu nổi tiếng: “Lương y phải như từ mẫu” [6]. Đây không chỉ là chuẩn mực đạo đức cá nhân mà còn là chuẩn mực chính trị - xã hội, phản ánh bản chất nhân văn của nền y tế XHCN: phục vụ con người một cách vô điều kiện, lấy người bệnh làm trung tâm. Tư tưởng đó đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt cho quá trình xây dựng và phát triển ngành y tế Việt Nam hơn 90 năm qua.
Trên nền tảng lý luận đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước cụ thể hóa thành hệ thống quan điểm, chủ trương nhất quán qua các kỳ Đại hội, từ Đại hội XII, Đại hội XIII đến Đại hội lần thứ XIV. Đặc biệt, trong bối cảnh mới của kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đại hội XIV tiếp tục phát triển tư duy lý luận về y tế theo hướng hiện đại, toàn diện và bền vững, khẳng định: “Xây dựng hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, chất lượng cao, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân” [7]. Đây không chỉ là một mục tiêu chính sách mà còn là biểu hiện tập trung của định hướng phát triển con người toàn diện trong mô hình CNXH Việt Nam.
Quan điểm này thể hiện rõ ba giá trị cốt lõi mang tính nền tảng. Thứ nhất, tính khoa học: y tế được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Thứ hai, tính cách mạng: khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong bảo đảm công bằng y tế, không để cơ chế thị trường chi phối toàn diện lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Thứ ba, tính nhân văn sâu sắc: đặt con người vào vị trí trung tâm, coi quyền được chăm sóc sức khỏe là quyền cơ bản của công dân, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, trong đó quy định: “Công dân có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe” [8].
Một biểu hiện tiêu biểu của việc cụ thể hóa nền tảng tư tưởng này là hệ thống chính sách, pháp luật y tế ngày càng hoàn thiện, nổi bật là Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nghị quyết khẳng định: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội; đầu tư cho sức khỏe là đầu tư cho phát triển” [9], đồng thời đánh dấu bước chuyển từ “y tế chữa bệnh” sang “y tế dự phòng và chăm sóc toàn diện”, phù hợp xu thế tiến bộ. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 72-NQ/TW tiếp tục bổ sung, phát triển tư duy này theo hướng hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hệ thống y tế, qua đó củng cố vững chắc nền tảng bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong bối cảnh mới.
Bước vào giai đoạn 2025 - 2026, trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu chiến lược của Đại hội XIV, Đảng tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống y tế theo hướng hiện đại, tinh gọn, hiệu quả, gắn với chuyển đổi số quốc gia. Các chủ trương về phát triển y tế số, hồ sơ sức khỏe điện tử, khám chữa bệnh từ xa, trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán và điều trị không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là biểu hiện của tư duy phát triển mới - tư duy lấy người dân làm trung tâm, lấy chất lượng dịch vụ làm thước đo và lấy sự hài lòng của nhân dân làm tiêu chí đánh giá.
Đặc biệt, đường lối của Đảng về y tế luôn thể hiện rõ sự kết hợp biện chứng giữa “xây” và “chống” - một nguyên tắc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng. “Xây” ở đây là xây dựng hệ thống y tế XHCN vững mạnh, công bằng, hiệu quả; nâng cao chất lượng dịch vụ; phát triển nguồn nhân lực y tế; củng cố niềm tin của nhân dân. “Chống” là kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc như thương mại hóa y tế cực đoan, chạy theo lợi nhuận, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, cũng như các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực y tế. Chính sự kết hợp này tạo nên bản sắc riêng của nền y tế Việt Nam - một nền y tế vì con người, do con người và phục vụ con người.
Trong so sánh đối chiếu, có thể thấy rõ sự khác biệt căn bản giữa mô hình y tế XHCN ở Việt Nam với một số mô hình y tế thị trường thuần túy. Nếu trong cơ chế thị trường cực đoan, dịch vụ y tế có nguy cơ bị thương mại hóa, phụ thuộc vào khả năng chi trả, thì ở Việt Nam, với chính sách BHYT toàn dân và vai trò điều tiết của Nhà nước, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Đây không chỉ là thành tựu về chính sách xã hội mà còn là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn, ưu việt của nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực y tế.
2. Những thành tựu to lớn của ngành y tế dưới sự lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới
Dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp và nhất quán của Đảng, ngành y tế nước ta trong những năm gần đây, đặc biệt bước vào kỷ nguyên phát triển mới sau Đại hội XIII và Đại hội XIV của Đảng, đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, toàn diện trên nhiều phương diện. Những kết quả này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân mà còn là minh chứng sinh động, có sức thuyết phục cao đối với tính đúng đắn, khoa học và nhân văn của nền tảng tư tưởng của Đảng trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh.
Trước hết, một trong những thành tựu nổi bật và mang tính nền tảng là việc mở rộng bao phủ BHYT toàn dân. Đây là một chính sách xã hội mang đậm bản chất ưu việt của chế độ ta, thể hiện rõ vai trò điều tiết của Nhà nước trong bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế. Tính đến đầu năm 2026, tỷ lệ bao phủ BHYT đã đạt trên 95% dân số, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có độ bao phủ cao trong khu vực Đông Nam Á. Hàng năm, quỹ BHYT chi trả cho hàng chục triệu lượt khám chữa bệnh, góp phần quan trọng trong việc giảm chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của người dân - một chỉ số quan trọng phản ánh mức độ công bằng y tế. Văn kiện Đại hội XIII đã nhấn mạnh: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao phủ toàn dân, trong đó BHYT giữ vai trò trụ cột” [10]. Đây không chỉ là định hướng chính sách mà còn là cam kết chính trị mạnh mẽ của Đảng trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế như người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng.
Thứ hai, hệ thống y tế cơ sở và y tế dự phòng - “tuyến đầu” của chăm sóc sức khỏe nhân dân - đã được củng cố và phát triển mạnh mẽ theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 20-NQ/TW. Nghị quyết đã xác định rõ: “Y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng” [11]. Trên cơ sở đó, mạng lưới trạm y tế xã, phường, thị trấn được đầu tư nâng cấp cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực; tỷ lệ xã có bác sĩ đạt gần 100%; mô hình bác sĩ gia đình từng bước được triển khai hiệu quả tại nhiều địa phương. Đặc biệt, trong bối cảnh các dịch bệnh mới nổi, tái nổi và nguy cơ dịch bệnh toàn cầu ngày càng phức tạp, Việt Nam đã chứng tỏ năng lực kiểm soát dịch bệnh hiệu quả thông qua sự kết hợp linh hoạt giữa các biện pháp y tế công cộng, tiêm chủng mở rộng và ứng dụng công nghệ. Những kinh nghiệm từ đại dịch Covid-19 tiếp tục được kế thừa và phát huy, góp phần xây dựng một hệ thống y tế dự phòng chủ động, thích ứng và có khả năng ứng phó nhanh với các tình huống khẩn cấp về y tế.
Thứ ba, lĩnh vực khám chữa bệnh đã có những bước tiến vượt bậc cả về chất lượng chuyên môn và khả năng tiếp cận dịch vụ. Nhiều cơ sở y tế tuyến trung ương như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Huế đã làm chủ nhiều kỹ thuật y học hiện đại ngang tầm khu vực và thế giới, như ghép tạng, can thiệp tim mạch, phẫu thuật nội soi tiên tiến, điều trị ung thư bằng xạ trị và liệu pháp trúng đích. Những thành tựu này không chỉ nâng cao chất lượng điều trị mà còn góp phần giảm tình trạng người dân phải ra nước ngoài chữa bệnh, tiết kiệm chi phí xã hội và nâng cao uy tín của y tế Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng 4.0, ngành y tế đã có những bước chuyển mạnh mẽ trong ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Việc triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân, hệ thống khám chữa bệnh từ xa (telemedicine), trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ chẩn đoán và điều trị đã giúp rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền, tạo điều kiện để người dân ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo có thể tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao. Đây là minh chứng rõ nét cho việc hiện thực hóa chủ trương chuyển đổi số quốc gia trong lĩnh vực y tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch hóa hoạt động khám chữa bệnh và hướng tới xây dựng nền y tế thông minh.
Thứ tư, các chỉ số sức khỏe cơ bản của người dân Việt Nam tiếp tục được cải thiện rõ rệt, phản ánh hiệu quả tổng thể của hệ thống y tế. Tuổi thọ trung bình của người dân đạt khoảng 74,5 tuổi - cao hơn mức trung bình của nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập; tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em giảm mạnh qua các năm; nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm được khống chế hoặc loại trừ. Báo cáo của WHO đã ghi nhận: “Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong cải thiện các chỉ số sức khỏe cơ bản với chi phí hợp lý” [12]. Đây là sự ghi nhận khách quan từ cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng một hệ thống y tế công bằng, hiệu quả và bền vững.
Nhìn tổng thể, những thành tựu của ngành y tế Việt Nam trong kỷ nguyên mới không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là sản phẩm tất yếu của đường lối lãnh đạo đúng đắn, tầm nhìn chiến lược và sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng; là kết tinh của sự nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ, y bác sĩ; và là thành quả của sự đồng thuận, tham gia tích cực của toàn xã hội. Những thành tựu đó chính là “bằng chứng thực tiễn sống động” góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, đồng thời tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc về hệ thống y tế Việt Nam.
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 35-NQ/TW, việc nhận diện, khẳng định và lan tỏa những thành tựu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là phản bác cái sai, mà còn là làm sáng rõ cái đúng, cái tiến bộ; không chỉ là “chống” mà còn phải “xây”. Những thành tựu của ngành y tế chính là cơ sở thực tiễn vững chắc để khẳng định tính ưu việt của chế độ, đồng thời là “lá chắn tư tưởng” hữu hiệu trước các luận điệu xuyên tạc, sai trái trong lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm và thiết thân này.
3. Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực y tế hiện nay
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, chuyển đổi số mạnh mẽ và sự bùng nổ của không gian mạng, lĩnh vực y tế - chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh đang trở thành một trong những “điểm nóng” mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đây là lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, gắn trực tiếp với đời sống hằng ngày của nhân dân, nên mọi thông tin sai lệch, xuyên tạc nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời sẽ dễ gây tâm lý hoang mang, dao động, từ đó tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội và “thế trận lòng dân”.
Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, việc nhận diện đúng bản chất, phương thức và thủ đoạn của các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực y tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là cơ sở để đấu tranh phản bác hiệu quả, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Trước hết, một trong những thủ đoạn phổ biến là xuyên tạc chính sách BHYT - trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội. Các đối tượng thù địch thường đưa ra những luận điệu như “BHYT là hình thức thu thuế trá hình”, “quỹ BHYT bị thất thoát nghiêm trọng”, hay “người dân đóng tiền nhưng không được hưởng dịch vụ tương xứng”. Những luận điệu này cố tình bóp méo bản chất của chính sách BHYT, phủ nhận vai trò điều tiết của Nhà nước trong bảo đảm công bằng y tế. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống BHYT ở Việt Nam được tổ chức và vận hành theo khuôn khổ pháp lý chặt chẽ của Luật BHYT năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2024), với nguyên tắc công khai, minh bạch, chia sẻ rủi ro và vì lợi ích cộng đồng. Luật đã khẳng định rõ: “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận” [13]. Do đó, việc xuyên tạc chính sách BHYT thực chất là nhằm phá hoại một trong những thành tựu nổi bật nhất của hệ thống y tế Việt Nam.
Thứ hai, các thế lực thù địch thường lợi dụng những vụ việc tiêu cực cá biệt trong ngành y tế để thổi phồng, quy chụp, từ đó phủ nhận toàn bộ thành tựu của hệ thống. Đây là thủ đoạn “lấy hiện tượng thay cho bản chất”, “lấy điểm đen che lấp bức tranh tổng thể”. Một số sai phạm về đấu thầu thuốc, trang thiết bị y tế, hay vi phạm đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận nhỏ cán bộ y tế đã bị khai thác triệt để, thậm chí bị bóp méo, cắt ghép thông tin nhằm tạo dựng hình ảnh sai lệch rằng “hệ thống y tế công lập đang khủng hoảng toàn diện”, “tham nhũng tràn lan”, “mất kiểm soát”. Trong khi đó, đường lối của Đảng luôn nhất quán trong việc vừa xây dựng, phát triển hệ thống y tế, vừa kiên quyết đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng trong ngành. Văn kiện Đại hội XIII đã nhấn mạnh yêu cầu: “Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực y tế” [14].
Thứ ba, một luận điệu nguy hiểm khác là kích động tư tưởng “tư nhân hóa triệt để” lĩnh vực y tế, phủ nhận vai trò chủ đạo của y tế công lập. Các đối tượng thù địch rêu rao rằng “y tế công đã thất bại”, “chỉ có y tế tư nhân mới cung cấp dịch vụ chất lượng”, từ đó cổ súy cho việc thu hẹp vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Thực chất, đây là sự áp đặt mô hình y tế thị trường cực đoan, không phù hợp với điều kiện chính trị - xã hội của Việt Nam. Đảng ta chủ trương xã hội hóa y tế, huy động nguồn lực xã hội để phát triển y tế, nhưng luôn nhấn mạnh vai trò chủ đạo của hệ thống y tế công lập nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ. Nghị quyết số 20-NQ/TW đã khẳng định rõ: “Phát triển hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, trong đó y tế công lập giữ vai trò chủ đạo” [15]. Vì vậy, việc tuyệt đối hóa vai trò của y tế tư nhân không chỉ sai về lý luận mà còn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng bất bình đẳng xã hội trong chăm sóc sức khỏe.
Thứ tư, các thế lực thù địch còn lợi dụng những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong thực tiễn như tình trạng quá tải bệnh viện, giá thuốc, chi phí dịch vụ y tế, thời gian chờ đợi khám chữa bệnh... để kích động tâm lý bất mãn, thậm chí hướng tới thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ngành y tế. Chúng sử dụng mạng xã hội để lan truyền thông tin một chiều, thiếu kiểm chứng, tạo ra áp lực dư luận tiêu cực đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế. Trong khi đó, cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, những hạn chế này là hệ quả của quá trình phát triển chưa đồng đều, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng cao, và đang từng bước được khắc phục thông qua các chính sách cải cách toàn diện của Đảng và Nhà nước.
Thứ năm, nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch còn sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “tự do” để xuyên tạc chính sách y tế của Việt Nam, cho rằng Việt Nam “vi phạm quyền được chăm sóc sức khỏe”, “hạn chế tự do lựa chọn dịch vụ y tế”. Những luận điệu này cố tình bỏ qua thực tế rằng quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe đã được hiến định rõ ràng trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, đồng thời được cụ thể hóa bằng hệ thống pháp luật và chính sách toàn diện. Hiến pháp quy định: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân” [16]. Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong bảo đảm quyền này, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Nhìn tổng thể, các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực y tế hiện nay tuy đa dạng về hình thức, tinh vi về thủ đoạn, nhưng đều có chung một mục tiêu: làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN; phủ nhận những thành tựu của nền y tế Việt Nam; từ đó từng bước gây mất ổn định chính trị - xã hội. Điều đáng chú ý là các luận điệu này thường được ngụy trang dưới vỏ bọc “phản biện xã hội”, “bảo vệ quyền lợi người dân”, khiến việc nhận diện trở nên khó khăn hơn.
Trong bối cảnh đó, việc nâng cao nhận thức, tăng cường “sức đề kháng tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời; đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái là yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực y tế - một lĩnh vực vừa mang tính chuyên môn sâu, vừa có ý nghĩa chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên mới.
4. Đấu tranh phản bác hiệu quả và vai trò của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội
Trong bối cảnh các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực y tế ngày càng tinh vi, đa dạng và lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng, việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đấu tranh phản bác theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW trở thành yêu cầu cấp thiết, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách mà là trách nhiệm chung của toàn hệ thống chính trị, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt, còn MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là lực lượng quan trọng trong việc huy động sức mạnh của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên mặt trận tư tưởng.
Trước hết, cần đặc biệt chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng trực tiếp công tác trong ngành y tế. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, mỗi cán bộ, nhân viên y tế không chỉ là người thực hiện chuyên môn mà còn là “người truyền tải niềm tin”, là chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII đã nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; nâng cao sức đề kháng trước các quan điểm sai trái, thù địch” [17]. Do đó, việc trang bị “kháng thể tư tưởng” cho đội ngũ cán bộ y tế thông qua đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, kỹ năng nhận diện và xử lý thông tin xấu độc là giải pháp có tính nền tảng, lâu dài.
Thứ hai, cần phát huy mạnh mẽ vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân... trong giám sát và phản biện xã hội đối với lĩnh vực y tế. Đây là cơ chế quan trọng để bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý y tế, đồng thời kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý các sai phạm nếu có. Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 đã quy định rõ: “MTTQ Việt Nam thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước” [18]. Thông qua hoạt động này, không chỉ góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo “lá chắn mềm” chống lại các luận điệu xuyên tạc, khi người dân được tiếp cận thông tin đầy đủ, khách quan và có cơ chế tham gia vào quá trình hoạch định chính sách.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về y tế trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là trên không gian mạng. Trong thời đại số, thông tin chính thống cần được truyền tải nhanh hơn, hấp dẫn hơn và phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần chủ động “đi trước một bước”, không chỉ phản ánh thành tựu mà còn kịp thời giải thích, làm rõ những vấn đề dư luận quan tâm, tránh để khoảng trống thông tin bị các thế lực thù địch lợi dụng. Văn kiện của Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, hiện đại, giữ vai trò định hướng dư luận xã hội [19].
Thứ tư, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của chuyển đổi số trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực y tế. Việc xây dựng “thế trận thông tin liên hoàn” - trong đó thông tin chính thống đóng vai trò chủ đạo, có khả năng lan tỏa nhanh, rộng và chính xác - là yêu cầu tất yếu. Các nền tảng số, hệ thống dữ liệu y tế, cổng thông tin điện tử của ngành cần được khai thác hiệu quả để cung cấp thông tin minh bạch, kịp thời, qua đó “phủ xanh” không gian mạng bằng thông tin tích cực. Đây cũng là nội dung quan trọng trong Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định y tế là một trong những lĩnh vực ưu tiên chuyển đổi số [20].
Thứ năm, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố có ý nghĩa quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực y tế không thể chỉ là nhiệm vụ của một bộ phận, mà phải trở thành ý thức tự giác của mỗi người dân. Khi người dân hiểu đúng, tin tưởng và đồng hành cùng Đảng, Nhà nước, thì mọi luận điệu xuyên tạc sẽ không còn đất sống. Đại hội XII đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam” [21]. Trong lĩnh vực y tế, điều này càng có ý nghĩa sâu sắc, bởi sức khỏe là lợi ích thiết thân, trực tiếp của mỗi người dân.
Trong tổng thể các giải pháp đó, vai trò của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là đặc biệt quan trọng. Đây chính là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là lực lượng trực tiếp tập hợp, vận động, định hướng dư luận xã hội; đồng thời là chủ thể góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” - yếu tố quyết định thành công trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Khi “thế trận lòng dân” được củng cố vững chắc, thì mọi âm mưu chống phá, xuyên tạc đều sẽ bị vô hiệu hóa từ gốc.
Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực y tế là nhiệm vụ chính trị cấp thiết, thường xuyên của toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội trong kỷ nguyên mới. Thực tiễn phát triển y tế đã khẳng định tính đúng đắn, ưu việt của đường lối Đảng, song cũng đặt ra yêu cầu phải chủ động đấu tranh trước các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ y tế và mỗi người dân cần phát huy vai trò chủ thể, vừa thụ hưởng vừa tham gia bảo vệ thành quả, góp phần củng cố “thế trận lòng dân”. Với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự nghiệp này nhất định đạt thắng lợi, hướng tới xây dựng nền y tế hiện đại, công bằng, nhân văn và bền vững.
Tài liệu tham khảo
[1], [5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb CTQGST, Hà Nội.
[2], [10], [14], [17] Đảng CSVN (2021), Văn kiện Đại hội XIII, Nxb CTQGST, Hà Nội.
[3] Bộ Chính trị (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
[4] V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Moskva.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb CTQGST, Hà Nội.
[7], [19] Đảng CSVN (2026), Văn kiện Đại hội XIV, Nxb CTQGST, Hà Nội.
[8], [16] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
[9], [11], [15] Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
[12] WHO (2020), Vietnam Health System Review, Geneva.
[13] Quốc hội (2008), Luật BHYT (sửa đổi, bổ sung 2014, 2024).
[18] Quốc hội (2015), Luật MTTQ Việt Nam.
[20] Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[21] Đảng CSVN (2016), Văn kiện Đại hội XII, Nxb CTQGST, Hà Nội.
PHẠM HỒNG HẢI
Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương.

