Theo Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 (Luật Quản lý thuế 2025), Nhà nước bổ sung quy định yêu cầu hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh đối với một số đối tượng nhất định nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả trong thực thi pháp luật thuế.
Cụ thể, các đối tượng phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi xuất cảnh bao gồm: Cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh; cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; cá nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thuộc trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.
Bên cạnh đó, Luật cũng áp dụng quy định này đối với cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, chủ sở hữu hưởng lợi hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (điểm a, b khoản 5 Điều 17).
Quy định trên nhằm pháp điển hóa nội dung đã được quy định tại Nghị định số 49/2025/NĐ-CP ngày 28/02/2025 của Chính phủ, đồng thời xuất phát từ thực tế chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là cá nhân có quyền sở hữu hoặc quyền chi phối thực tế đối với doanh nghiệp, do đó cần chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Luật Quản lý thuế 2025 cũng bổ sung quy định hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng vốn. Quy định này nhằm giúp bên nhận chuyển nhượng nắm rõ nghĩa vụ thuế còn tồn đọng của dự án, có cơ sở pháp lý để yêu cầu bên chuyển nhượng đối soát, bàn giao nghĩa vụ thuế trước khi ký hợp đồng, qua đó giảm rủi ro pháp lý và nâng cao tính minh bạch của thị trường chuyển nhượng dự án, đặc biệt đối với các giao dịch có yếu tố nước ngoài.
Luật khẳng định nguyên tắc nghĩa vụ tài chính phải gắn liền với dự án, tài sản được chuyển giao, ngăn ngừa tình trạng bên chuyển nhượng bỏ nghĩa vụ, gây thất thu ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm thu đúng, thu đủ trong bối cảnh hoạt động mua bán, sáp nhập xuyên biên giới ngày càng gia tăng.
Theo đó, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam và cá nhân cư trú tại Việt Nam khi thực hiện chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng vốn có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về thuế.
Đối với trường hợp tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, cá nhân nước ngoài không cư trú tại Việt Nam chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng vốn trực tiếp hoặc gián tiếp cho tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc cá nhân cư trú tại Việt Nam, thì bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm xác định, kê khai, khấu trừ và nộp thay số thuế phải nộp của bên chuyển nhượng.
Trường hợp cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều là tổ chức nước ngoài hoặc cá nhân nước ngoài không cư trú tại Việt Nam, thì tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam nơi bên chuyển nhượng có vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp có trách nhiệm kê khai và nộp thay số thuế phải nộp theo quy định (khoản 6 Điều 17).
Một điểm mới khác của Luật là quy định việc phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế (Điều 3). Theo đó, cơ quan thuế thực hiện phân nhóm người nộp thuế nhằm xác định chế độ ưu tiên trong quản lý, phân bổ nguồn lực, áp dụng biện pháp quản lý, giám sát thực hiện nghĩa vụ thuế và quy trình nghiệp vụ phù hợp với từng nhóm.
Các tiêu chí phân nhóm bao gồm: ngành nghề, lĩnh vực và phương thức hoạt động; loại hình pháp lý và cơ cấu sở hữu; quy mô hoạt động, doanh thu và số nộp ngân sách; mức độ tuân thủ và lịch sử tuân thủ pháp luật về thuế; cùng các tiêu chí khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Theo Bộ Tài chính, việc phân nhóm người nộp thuế là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện đại hóa quản lý thuế, chuyển từ mô hình quản lý thủ công, dàn trải sang mô hình quản lý theo rủi ro và mức độ tuân thủ, phù hợp với định hướng cải cách hành chính, chuyển đổi số và khuyến nghị của OECD, qua đó thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế.
Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Riêng, quy định tại Điều 13 và việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tại Điều 26 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

