/ Trao đổi - Ý kiến
/ Các trường hợp hạn chế phân chia di sản theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam

Các trường hợp hạn chế phân chia di sản theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam

27/02/2026 15:09 |

(LSVN) - Chế định thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam không chỉ điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản sau khi cá nhân qua đời mà còn gắn với sự ổn định của gia đình và trật tự xã hội. Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận cơ chế hạn chế phân chia di sản tại Điều 661, cho phép trong những trường hợp nhất định việc chia di sản được tạm hoãn. Quy định này thể hiện sự dung hòa giữa quyền tự do định đoạt và yêu cầu bảo vệ lợi ích chính đáng của người còn sống. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục phân tích và hoàn thiện. Bài viết tập trung làm rõ các trường hợp hạn chế phân chia di sản, đánh giá quy định hiện hành và đề xuất kiến nghị hoàn thiện.

1. Các trường hợp hạn chế phân chia di sản theo pháp luật dân sự Việt Nam

1.1. Theo ý chí của người để lại di sản

Khoản 1 Điều 661 BLDS 2015 quy định: "Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc... di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó mới được chia di sản". Đây là quy định thể hiện nguyên tắc tối thượng trong pháp luật thừa kế: Nguyên tắc tự do ý chí và quyền định đoạt của chủ sở hữu. Người để lại di sản, với tư cách là chủ sở hữu tài sản, có quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản đó ngay cả khi họ đã qua đời. Việc họ yêu cầu hoãn phân chia di sản được xem là một "điều kiện" gắn liền với việc chuyển giao quyền sở hữu mà người thừa kế buộc phải chấp nhận nếu muốn nhận di sản[1]. Quy định này đã thể hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Quyền tài sản là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp, trong các BLDS của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó có quyền được chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc lập di chúc để xác định người được hưởng di sản cũng là một hình thức tự định đoạt tài sản của người chết. Quyền này được thể hiện rất rõ trong Điều 626, 640 BLDS. Các điều luật trên thể hiện người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế mà không cần phải có lý do, quyền định phần di sản cho từng người thừa kế, quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng, quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, phân chia di sản, và người lập di chúc cũng đồng thời có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hủy bỏ di chúc. Đây là biểu hiện rõ nhất nguyên tắc tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Nguyên tắc này còn để khuyến khích mọi người tạo ra nhiều của cải vật chất không những cho bản thân mà còn phần trách nhiệm cho thế hệ kế tiếp.

Sự hạn chế này phải được thể hiện rõ ràng trong di chúc hợp pháp. Người lập di chúc có thể xác định thời hạn hạn chế theo hai phương thức: Xác định bằng thời gian cụ thể và xác định bằng một sự kiện pháp lý. Phương thức này nhằm đảm bảo khả năng quản lý tài sản của người thừa kế hoặc bảo vệ người thân trong những giai đoạn nhạy cảm [2]. Trong di chúc, người lập sẽ giới hạn, quyết định rõ ràng khoảng thời gian diễn ra việc phân chia di sản. Lý do của việc hạn chế phân chia di sản có thể là để đảm bảo rằng tài sản được quản lý một cách hợp lý hoặc tài chính khác được giải quyết hết khi tiến hành phân chia. Tùy thuộc vào ý chí của người lập di chúc pháp luật cho phép quá trình hạn chế phân chia di sản có thể là 3 năm, 4 năm, 5 năm,... kể từ ngày họ chết.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Điều 626 BLDS 2015 khẳng định: “Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người thừa kế, dành một phần tài sản để thờ cúng, hoặc để lại di sản cho người khác”. Trên nền tảng đó, khoản 1 Điều 661 BLDS cho phép người lập di chúc được quyền ấn định thời điểm hoặc điều kiện phân chia di sản, nhằm bảo vệ người thân còn sống hoặc phục vụ mục đích đạo hiếu, tôn giáo, tín ngưỡng. Đây là biểu hiện rõ nét của quyền tự do định đoạt - quyền mà cá nhân được sử dụng tài sản của mình để thiết lập các quan hệ pháp lý ngay cả sau khi chết. Tuy nhiên, ý chí của người lập di chúc không phải là “quyền tuyệt đối”. Pháp luật đặt ra giới hạn về thời gian và mục đích, nhằm tránh việc lạm dụng quyền này để xâm phạm quyền tài sản của người khác. Tuy nhiên, không phải quyền định đoạt này là vô biên mà còn bị hạn chế trong một số trường hợp đặc biệt như: hạn chế về mặt chủ thể: đối với người chưa đủ tuổi thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự; hạn chế về mặt phạm vi như đối với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 664); thứ tự ưu tiên thanh toán (Điều 658); hạn chế phân chia di sản (Điều 661). Việc hạn chế này cũng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho chính người để lại di chúc và cho người có liên quan đến di sản và để đảm bảo trật tự chung trong mối quan hệ pháp luật thừa kế.

 “Ý chí của người lập di chúc là pháp luật riêng của họ; song quyền này phải vận hành trong khuôn khổ bảo đảm công bằng và hợp lý đối với các thừa kế khác”. Điều đó có nghĩa là, mặc dù người để lại di sản có thể yêu cầu “chưa chia di sản”, nhưng Tòa án có quyền rút ngắn hoặc điều chỉnh thời gian hoãn chia nếu thấy vượt quá giới hạn hợp lý. Trường hợp người lập di chúc không ghi rõ thời hạn hoãn chia, Tòa án áp dụng mặc định thời gian không quá 3 năm theo quy định của Điều 661 BLDS. Nếu người lập di chúc ghi thời gian quá dài hoặc vô thời hạn, Tòa án có thể căn cứ vào nguyên tắc “bảo đảm sự ổn định xã hội và quyền thừa kế hợp pháp” để xác định giới hạn thực tế. Nếu di chúc chỉ định thời hạn phân chia di sản sau khi mở thừa kế (ví dụ, sau 05 năm), thì di sản sẽ được phân chia khi hết thời hạn đó. Tuy nhiên, di chúc không thể chỉ định sau 30 năm mới chia di sản là bất động sản. Trường hợp di chúc không xác định thời hạn chia di sản mà những người thừa kế thỏa thuận sau một thời hạn phân chia thì hết thời hạn đó di sản sẽ được phân chia, việc thỏa thuận này cũng bị hạn chế về thời hạn của thời hiệu thừa kế.

Hạn chế phân chia di sản có một ngoại lệ do pháp luật quy định, đó là trường hợp xác lập quyền hưởng dụng đối với bất động sản. Theo quy định tại Điều 260 BLDS, thời hạn hưởng dụng tối đa là hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân. Cho nên người có tài sản có thể lập di chúc cho người khác hưởng dụng đến khi người hưởng dụng chết. Trong thời gian hưởng dụng, di sản không được chia thừa kế, sau khi người hưởng dụng chết thì những người thừa kế của người để lại di sản là tài sản hưởng dụng mới có quyền chia di sản.

“Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia.” Đây là sự thừa nhận quyền tự định đoạt của người để lại di sản. Người lập di chúc có thể yêu cầu không phân chia di sản trong một thời gian cụ thể vì lý do kinh tế, xã hội hoặc gia đình. Tuy nhiên, để tôn trọng ý chí của người lập di chúc cũng như sự thỏa thuận của những người thừa kế Điều 661 BLDS 2015 quy định về việc hạn chế phân chia di sản, sự hạn chế này là hạn chế về mặt thời gian. Di sản chỉ được đem ra phân chia khi đã hết thời hạn theo ý nguyện của người lập di chúc hoặc theo sự thỏa thuận của tất cả những người thừa kế đó. Thời hạn này không được pháp luật quy định tối đa là bao nhiêu năm, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào người lập di chúc cũng như sự thỏa thuận thống nhất giữa những người thừa kế.

1.2. Theo thỏa thuận của những người thừa kế

Cũng tại khoản 1 Điều 661, pháp luật cho phép hạn chế phân chia “theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế”. Trường hợp này có thể được hiểu là khi chết người để lại di sản không lập di chúc hay có di chúc nhưng không đề cập đến việc hạn chế phân chia di sản, theo đó tất cả những người thừa kế sẽ tiến hành họp bàn và thống nhất đưa ra khoảng thời gian nhất định để phân chia di sản của người chết. Nếu như trường hợp thứ nhất xuất phát từ ý chí đơn phương của người chết, thì trường hợp này xuất phát từ sự đồng thuận (hợp đồng) của những người sống. Đây là biểu hiện của nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận trong luật dân sự. Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của người thừa kế.

Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên là một trong những nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt của pháp luật dân sự Việt Nam, được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 với nội dung: “Cá nhân, pháp nhân bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự; mọi cam kết, thỏa thuận hợp pháp đều có hiệu lực đối với các bên.” Sự thừa nhận nguyên tắc này phản ánh bản chất của quan hệ dân sự là quan hệ giữa các chủ thể độc lập, bình đẳng, tự do định đoạt tài sản và quyền lợi của mình trên cơ sở ý chí cá nhân. Trong lĩnh vực thừa kế, nguyên tắc này tiếp tục được áp dụng đầy đủ bởi sự kiện chết của một cá nhân không làm thay đổi tính chất tư của các quan hệ tài sản giữa những người thừa kế với nhau.

Ở góc độ lý luận, nguyên tắc tự do thỏa thuận chính là cơ sở để pháp luật cho phép những người thừa kế không chỉ tự do phân chia di sản mà còn có quyền thống nhất chưa chia di sản trong một khoảng thời gian nhất định. Việc chấp nhận quyền thỏa thuận “không chia di sản trước thời hạn” hoàn toàn phù hợp với bản chất của thỏa thuận dân sự: các bên có quyền lựa chọn cách thức mang lại lợi ích kinh tế, gia đình hoặc tín ngưỡng phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình. Chính vì thế, khoản 1 Điều 661 BLDS 2015 coi sự đồng thuận của tất cả những người thừa kế là một trong ba căn cứ hợp pháp của hạn chế phân chia di sản. Điều này cho thấy pháp luật không áp đặt một mô hình cứng nhắc về thời điểm chia di sản, mà mở ra một cơ chế linh hoạt- nơi ý chí của các chủ thể đóng vai trò quyết định.

Sự tôn trọng thỏa thuận của các thừa kế không chỉ bảo đảm tính tự chủ của các chủ thể mà còn tạo ra sự ổn định trong quản lý di sản. Khi di sản thuộc sở hữu chung theo Điều 612 và Điều 213 BLDS, quyền định đoạt đối với tài sản đó không thể được thực hiện đơn phương bởi bất kỳ thừa kế nào. Thỏa thuận hoãn chia di sản vì vậy trở thành công cụ pháp lý để các bên duy trì khối tài sản thống nhất, tránh bị chia nhỏ hoặc bị định đoạt theo hướng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều chủ thể. Trong những trường hợp như tài sản là bất động sản lớn, doanh nghiệp gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc nhà thờ họ…, sự đồng thuận không chia ngay thể hiện cách thức tối ưu để bảo tồn giá trị tài sản chung. Thỏa thuận này phải đáp ứng các yêu cầu về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định của BLDS.

Từ góc nhìn thực tiễn, nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận của các thừa kế giúp giảm tải đáng kể cho hệ thống tư pháp. Khi các thừa kế tự nguyện đồng ý hoãn việc chia di sản, tranh chấp về chia thừa kế không phát sinh và Tòa án chỉ can thiệp khi thỏa thuận bị vi phạm hoặc khi có thay đổi về hoàn cảnh pháp lý. Như vậy, nguyên tắc này không chỉ phù hợp với lý luận về quyền tự do định đoạt mà còn mang lại hiệu quả vận hành trong đời sống pháp lý.

Tại thời điểm mở thừa kế, di sản thuộc sở hữu chung của các thừa kế; do đó, họ có toàn quyền thống nhất phương án quản lý, sử dụng, bao gồm cả việc cam kết không chia tài sản đó trong một thời gian [3]. Có thể sự thỏa thuận của người thừa kế không đúng với nội dung di chúc nhưng đúng pháp luật và đạo đức xã hội thì vẫn được công nhận, Tòa án chỉ giải quyết khi các bên không thỏa thuận được và phát sinh tranh chấp. Trong thời gian hạn chế theo thỏa thuận, các quy định về sở hữu chung sẽ được áp dụng triệt để. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản vẫn thuộc về các đồng thừa kế theo tỷ lệ phần quyền của họ [4].

Để thỏa thuận hạn chế phân chia di sản có giá trị pháp lý ràng buộc, cần thỏa mãn các điều kiện sau: Sự đồng thuận tuyệt đối: Quy định nêu rõ là “thỏa thuận của tất cả những người thừa kế”. Chỉ cần một người trong hàng thừa kế không đồng ý và yêu cầu chia, thì thỏa thuận này không thể xác lập (trừ khi phần di sản của người phản đối có thể tách bạch hoàn toàn để chia riêng, còn phần còn lại vẫn giữ chung). Hình thức văn bản: Mặc dù luật không quy định cứng nhắc, nhưng để đảm bảo tính chứng cứ và ngăn chặn tranh chấp, thỏa thuận này thường phải được lập thành văn bản (văn bản thỏa thuận phân chia di sản hoặc văn bản cam kết), có công chứng, chứng thực.

1.3. Theo quyết định của Tòa án trên cơ sở yêu cầu của người thừa kế khi họ chứng minh được việc phân chia có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của họ

Khoản 2 Điều 661 BLDS 2015 quy định: "Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định". Đây là quy định mang tính nhân văn sâu sắc, đặc thù của pháp luật Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền cư trú và sự ổn định cuộc sống của người thân người quá cố trước nguy cơ bị các đồng thừa kế khác ép buộc bán nhà chia tiền. Sau khi mở thừa kế, nếu người thừa kế khởi kiện yêu cầu chia di sản ngay thì Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp về di sản theo thủ tục xét xử chung. Tuy nhiên, nếu việc chia di sản mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người thừa kế khác là vợ hoặc chồng, con chưa thành niên… thì Tòa án xác định phần di sản của mỗi người thừa kế nhưng không chia ngay cho những người thừa kế mà sau thời hạn không quá 03 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, thì những người thừa kế mới có quyền yêu cầu chia di sản hoặc yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Nội dung về hạn chế phân chia di sản cũng được ghi nhận tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể, khoản 3 Điều 66 Luật này quy định:

“3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của BLDS.”.

Trường hợp hết thời hạn 03 năm hạn chế phân chia di sản mà người thừa kế là vợ hoặc chồng chứng minh được nếu chia di sản thì gia đình sẽ gặp khó khăn nghiêm trọng thì quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm. Để Tòa án chấp nhận yêu cầu hạn chế phân chia, người yêu cầu phải chứng minh được yếu tố "ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống".

Nội dung về việc xác định thế nào là trường hợp “ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống và gia đình” được hướng dẫn cụ thể tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, “ảnh hưởng nghiêm trọng” thường được hiểu là những tình huống mà nếu việc phân chia di sản được thực hiện ngay sẽ đặt người vợ hoặc chồng còn sống vào tình trạng đặc biệt khó khăn về vật chất hoặc tinh thần, như: không còn chỗ ở nào khác ngoài di sản là nhà ở; già yếu, bệnh tật, không có khả năng lao động hoặc không có nguồn thu nhập để tạo lập nơi ở mới trong thời gian ngắn; hoặc việc chia di sản gây ra sự xáo trộn nghiêm trọng, vượt quá khả năng thích ứng thông thường của gia đình người để lại di sản. Ngược lại, trong trường hợp bên yêu cầu chia di sản chứng minh được rằng việc chia không làm cho bên còn sống lâm vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng (chẳng hạn như họ có nhiều nhà ở khác hoặc phần giá trị di sản được chia đủ để tạo lập chỗ ở mới), thì Tòa án sẽ không áp dụng cơ chế hạn chế phân chia di sản.

So với BLDS 2005, điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vấn đề này chính là việc quy định khoảng thời gian tối đa 3 năm và được gia hạn một lần nữa (không quá 3 năm nữa) sẽ là khoảng thời gian để bên còn sống có thể khai thác, sử dụng di sản thừa kế bảo đảm cho cuộc sống của họ và gia đình[6]. Khoảng thời gian này được thiết kế như một “khoảng đệm pháp lý”, tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng còn sống có thể tiếp tục khai thác, sử dụng di sản để bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, đồng thời từng bước ổn định đời sống sau biến cố mất người thân. Việc hạn chế phân chia sẽ chấm dứt khi hết thời hạn do Tòa án ấn định và việc chia di sản không còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên còn sống.

Về phạm vi chủ thể được bảo vệ, có thể thấy rằng theo quy định tại Điều 661 BLDS 2015, quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản trong trường hợp này chỉ thuộc về vợ hoặc chồng còn sống, chứ không áp dụng cho mọi người thừa kế. Cách tiếp cận này thể hiện rõ định hướng bảo vệ có chọn lọc của nhà làm luật, tập trung vào chủ thể có mối quan hệ nhân thân – tài sản đặc biệt gắn bó với người để lại di sản, đồng thời thường là người chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất nếu di sản bị phân chia ngay lập tức.

Sự bảo vệ này còn thể hiện tính thống nhất của hệ thống pháp luật khi được đặt trong mối liên hệ với Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Khoản 3 Điều 66 của Luật này quy định vợ hoặc chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế việc phân chia di sản nếu việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ và gia đình. Quy định này mang tính nguyên tắc bảo vệ, trong khi Điều 661 BLDS 2015 và Điều 5 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP đóng vai trò cụ thể hóa điều kiện áp dụng và cách thức đánh giá mức độ “ảnh hưởng nghiêm trọng” trong thực tiễn xét xử.

Như vậy, có thể khẳng định rằng cơ chế hạn chế phân chia di sản trong trường hợp việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống được xây dựng trên nền tảng thống nhất giữa pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình. Cơ chế này vừa bảo đảm quyền lợi chính đáng của bên còn sống trong giai đoạn đặc biệt khó khăn sau khi người để lại di sản qua đời, vừa tránh việc lạm dụng quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản, qua đó góp phần bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa các người thừa kế và tính ổn định của quan hệ thừa kế. Nó thể hiện rõ tinh thần mà BLDS 2015 hướng tới: “Pháp luật dân sự không chỉ bảo vệ quyền, mà còn hướng dẫn con người sử dụng quyền của mình một cách hợp lý, có trách nhiệm xã hội”[5].

2. Đánh giá quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về hạn chế phân chia di sản

2.1. Những ưu điểm

Quy định về hạn chế phân chia di sản tại Điều 661 BLDS năm 2015 là một trong những điểm mới đáng chú ý trong chế định thừa kế của pháp luật dân sự Việt Nam. So với các BLDS trước đây, lần đầu tiên nhà làm luật đã ghi nhận một cơ chế pháp lý mang tính đặc thù, cho phép tạm hoãn việc thực hiện quyền yêu cầu chia di sản trong những trường hợp nhất định. Việc đánh giá toàn diện quy định này là cần thiết nhằm xác định mức độ hợp lý, hiệu quả và khả thi trong thực tiễn áp dụng, đồng thời làm rõ những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tới.

Trước hết, phải khẳng định rằng sự xuất hiện của chế định hạn chế phân chia di sản phản ánh sự điều chỉnh quan trọng trong tư duy lập pháp dân sự Việt Nam. Nếu như các quy định của BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 chủ yếu tập trung vào việc xác định quyền hưởng và phần thừa kế, thì BLDS năm 2015 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh bằng việc dự liệu các trường hợp mà việc chia di sản ngay sau khi mở thừa kế có thể gây tác động bất lợi đến người còn sống hoặc làm phương hại đến lợi ích chung của gia đình. Cách tiếp cận này thể hiện xu hướng dung hòa giữa quyền tài sản của người thừa kế với nhu cầu bảo đảm ổn định đời sống của gia đình – một giá trị có ý nghĩa đặc biệt trong hoàn cảnh kinh tế – xã hội của Việt Nam.

Từ góc độ lý luận, chế định hạn chế phân chia di sản chịu sự chi phối đồng thời của ba nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự: nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt của cá nhân; nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận; và nguyên tắc bảo vệ người yếu thế trong quan hệ dân sự. Điều này cho thấy cấu trúc của Điều 661 không chỉ phản ánh ý chí của nhà lập pháp mà còn gắn với những giá trị nền tảng của hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam. Trong bối cảnh đời sống gia đình đang biến đổi mạnh mẽ, quy định này góp phần tạo ra một “vùng đệm pháp lý” cần thiết để hạn chế các tác động tiêu cực phát sinh từ việc chia di sản quá sớm.

Quy định tại Điều 661 BLDS năm 2015 được đánh giá là tương đối hợp lý ở việc thiết kế cơ chế hạn chế phân chia di sản dựa trên ba căn cứ hình thành: (i) ý chí của người lập di chúc; (ii) sự thỏa thuận của tất cả người thừa kế; và (iii) quyết định của Tòa án trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ/chồng còn sống và gia đình. Ba căn cứ này bao quát được các tình huống phổ biến trong thực tiễn, đồng thời thể hiện sự phối hợp hài hòa giữa ý chí cá nhân, sự tự chủ của các chủ thể dân sự và vai trò bảo vệ của Nhà nước.

Một ưu điểm khác đáng ghi nhận là việc đặt ra giới hạn tối đa đối với thời hạn hạn chế do Tòa án quyết định, nhằm ngăn ngừa tình trạng kéo dài vô thời hạn việc tạm hoãn quyền yêu cầu chia di sản. Giới hạn này góp phần bảo đảm tính minh bạch và dự đoán được của pháp luật, đồng thời giúp xác định ranh giới hợp lý giữa lợi ích của người được bảo vệ và quyền tài sản của những người thừa kế khác.

Bên cạnh đó, Điều 661 còn thể hiện bước tiến trong việc nâng cao vai trò của gia đình như một chủ thể tự quản lý tài sản chung. Quy định về thỏa thuận của tất cả người thừa kế không chỉ là sự thừa nhận nguyên tắc tự do cam kết, mà còn tạo điều kiện để các gia đình lựa chọn phương thức quản lý di sản phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của họ.

2.2. Những hạn chế, vướng mắc

Thứ nhất, pháp luật hiện hành không quy định giới hạn thời gian hạn chế phân chia sản thừa kế theo ý chí của người lập di chúc và theo thỏa thuận.

Đoạn 1 Điều 661 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia”. Đây là quy định chỉ dẫn áp dụng cho việc hạn chế phân chia di sản thừa kế. Các căn cứ được chỉ ra là: Ý chí của người lập di chúc và sự thỏa thuận của những người thừa kế. Tuy nhiên, điều bất cập trong quy định này chính là thuật ngữ “thời hạn nhất định”. Theo quy định trên, thời hạn nhất định được hiểu là một khoảng thời gian có định lượng nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc hoặc của những người thừa kế định ra, khoảng thời gian này là bao lâu hoặc giới hạn trong bao lâu thì pháp luật lại không chỉ định rõ. Thực tế cho thấy, việc người lập di chúc định ra một khoảng thời gian “ngẫu hứng” hoặc kéo dài thời gian để hạn chế con, cháu thực hiện phân chia di sản với mong muốn con, cháu chủ động trong cuộc sống không phụ thuộc vào di sản cha, ông để lại sẽ rất nhiều. Thậm chí, khoảng thời gian này phụ thuộc vào sự kiện gắn với ai đó là trường hợp hoàn toàn có thể xảy ra. Thực tế, sau khi hết khoảng thời gian bị giới hạn này, vấn đề tranh chấp thừa kế hoàn toàn có thể xảy ra. Người lập di chúc ấn định khoảng thời gian quá dài dẫn tới quyền, lợi ích của người thừa kế khác vô tình bị ảnh hưởng. Do đó, quy định này cần thiết phải được sửa đổi để đảm bảo tính tương thích với các quy phạm khác.

BLDS năm 2005 và 2015 đã xác định thời gian giới hạn phân chia di sản thừa kế ở đoạn kế tiếp của điều luật “... không quá 03 năm ...” và “... Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm ... thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quả 03 năm”. Như vậy, thời gian giới hạn tối đa khi phân chia di sản thừa kế theo quy định của BLDS năm 2015 là 06 năm từ thời điểm mở thừa kế. Tuy vậy, nếu hiểu khoảng thời gian bị ấn định để phân chia di sản sau khi người để lại di sản chết là thời hạn nêu trên sẽ không hợp lý. Vì rõ ràng, đoạn 2 của điều luật hạn chế phân chia di sản được thiết kế chỉ dành riêng cho trường hợp việc phân chia di sản gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người còn lại và khi người này có yêu cầu, Tòa án sẽ áp dụng mốc thời hạn nêu trên để kéo dài quá trình phân chia di sản. Mục đích của quy định này nhằm để người sống cùng có thời gian để ổn định cuộc sống riêng, không phụ thuộc vào di sản thừa kế để lại chứ hoàn toàn không phải là quy định khoảng thời gian giới hạn cho người lập di chúc hay những người thừa kế có thể áp dụng trong việc phân chia di sản thừa kế sau thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, có thể kết luận, pháp luật hiện hành đang không quy định giới hạn khoảng thời gian trong việc thực hiện hạn chế phân chia di sản. Điều này có thể dẫn tới bất cập, vì thực tế, chế định thừa kế luôn đặt ra thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khoảng thời hạn pháp luật ấn định này tạo ra quyền yêu cầu Nhà nước bảo vệ lợi ích chính đáng của người thừa kế. Nếu hết thời hạn này, người thừa kế không thực hiện quyền của mình sẽ làm phát sinh nhiều hậu quả pháp lý bất lợi. Ví dụ: BLDS năm 2015 quy định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế nhưng trong di chúc, người để lại di sản chỉ định sau 30 năm mới được phân chia di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận định ra là sau 30 năm mới phân chia di sản. Rõ ràng, ý chí của người lập di chúc hay thỏa thuận của các đồng thừa kế về thời gian giới hạn việc phân chia di sản nêu trên là không phù hợp. Tác giả cho rằng, chúng ta sẽ không cấm việc định ra khoảng thời hạn hạn chế việc phân chia di sản nhưng phải đặt ra giới hạn để đảm bảo sự tương thích với các quy định khác.

Thứ hai, pháp luật không xác định rõ phạm vi người có quyền lợi liên quan được thỏa thuận định ra thời hạn và được yêu cầu Tòa án xem xét kéo dài khoảng thời gian phân chia di sản thừa kế.

Điều 661 BLDS năm 2015 xác định hai cơ chế hạn chế phân chia di sản, gồm: (i) hạn chế theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế; và (ii) hạn chế theo quyết định của Tòa án khi việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống và gia đình. Cách tiếp cận này thể hiện sự ghi nhận đúng đắn các chủ thể có quyền lợi liên quan đến di sản thừa kế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chưa thực sự rõ ràng về phạm vi chủ thể, dễ dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.

Đối với trường hợp hạn chế phân chia di sản theo thỏa thuận, điều luật yêu cầu sự thống nhất của “tất cả những người thừa kế” nhưng không làm rõ phạm vi những người này, trong khi khái niệm người thừa kế theo BLDS năm 2015 rất rộng, bao gồm cả cá nhân, pháp nhân, người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Việc đòi hỏi sự tham gia và thống nhất của toàn bộ các chủ thể này trên thực tế là khó khả thi. Do đó, cần sửa đổi theo hướng thừa nhận giá trị của thỏa thuận giữa những người thừa kế có liên quan trực tiếp đến di sản và quá trình phân chia di sản, như người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa kế thuộc hàng ưu tiên chia.

Đối với trường hợp hạn chế phân chia theo yêu cầu của bên vợ hoặc chồng còn sống, điều luật cho phép yêu cầu Tòa án chưa chia di sản khi việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ và gia đình. Mặc dù việc mở rộng phạm vi bảo vệ là cần thiết, nhưng khái niệm “gia đình” lại chưa được xác định rõ, trong khi phạm vi gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là rất rộng. Sự thiếu rõ ràng này có thể dẫn đến nhầm lẫn trong việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu và ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế. Vì vậy, Điều 661 BLDS năm 2015 cần được sửa đổi theo hướng xác định cụ thể hơn phạm vi chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án quyết định thời hạn hạn chế phân chia di sản.

Thứ ba, quy định yêu cầu đồng thuận tuyệt đối trong thỏa thuận hạn chế

Điểm bất cập thứ hai xuất phát từ yêu cầu “thỏa thuận của tất cả những người thừa kế” đối với trường hợp hạn chế phân chia di sản theo thỏa thuận. Về nguyên tắc, quy định này nhằm bảo đảm rằng không một cá nhân nào bị áp đặt phải từ bỏ hoặc trì hoãn quyền yêu cầu chia di sản khi họ không đồng ý. Đây là một cách tiếp cận thể hiện sự tôn trọng tối đa đối với quyền tự quyết của mỗi người thừa kế, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng và tự do cam kết.

Tuy nhiên, trong môi trường gia đình thì việc đòi hỏi sự đồng thuận tuyệt đối lại vô hình trung làm giảm mạnh tính khả thi của quy định. Chỉ cần một người thừa kế không đồng ý (thậm chí vì lý do rất cá nhân, không chính đáng) thì toàn bộ cơ chế hạn chế theo thỏa thuận sẽ không thể hình thành. Trong thực tiễn, không ít trường hợp đa số các thừa kế mong muốn giữ nguyên tài sản chung để tiếp tục sản xuất, kinh doanh hoặc chờ thời điểm thuận lợi hơn để chia, nhưng chỉ vì một người đòi chia sớm, thỏa thuận hạn chế không thể xác lập.

Mặt khác, pháp luật hiện hành chưa có cơ chế xử lý trường hợp người thừa kế cố tình lợi dụng quyền phủ quyết của mình để gây sức ép, buộc các thừa kế khác phải nhượng bộ về phần tài sản hoặc về lợi ích khác. Trong khi đó, một số hệ thống pháp luật nước ngoài cho phép áp dụng cơ chế “đa số đặc biệt” trong những trường hợp tương tự để cân bằng giữa quyền cá nhân và lợi ích chính đáng của đa số. Việc BLDS 2015 giữ nguyên yêu cầu tất cả mà không có ngoại lệ hay cơ chế thay thế làm cho căn cứ hạn chế theo thỏa thuận khó phát huy vai trò trong những trường hợp mà về bản chất, việc trì hoãn chia di sản rõ ràng là hợp lý và có lợi cho cả khối tài sản.

Thứ tư, tính định tính cao của tiêu chí “ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống” trong hạn chế theo quyết định của Tòa án

Trong căn cứ hạn chế phân chia di sản theo quyết định của Tòa án, tiêu chí “việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ/chồng còn sống và gia đình” đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, đây lại là tiêu chí mang tính định tính rất cao, chưa có tiêu chí pháp lý cụ thể. Câu hỏi đặt ra là: ảnh hưởng như thế nào thì được coi là “nghiêm trọng”? chỉ tính đến yếu tố vật chất (thu nhập, chỗ ở) hay còn bao gồm yếu tố tinh thần, tâm lý? việc mất chỗ ở nhưng có thể thuê nhà khác có được coi là “nghiêm trọng” không?

Mặc dù đã có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn, nhưng cách hiểu giữa các cơ quan xét xử vẫn chưa thống nhất, dẫn đến việc áp dụng không đồng đều. Vấn đề này tạo ra khó khăn đáng kể cho người yêu cầu áp dụng cơ chế hạn chế, bởi họ phải chứng minh mức độ “nghiêm trọng” của tác động.

Tòa án trong thực tế phải tự mình lấp đầy khoảng trống này bằng cách diễn giải. Điều đó dẫn tới nguy cơ áp dụng không thống nhất giữa các cấp, các vùng: cùng một hoàn cảnh nhưng có Tòa án cho rằng đủ nghiêm trọng để áp dụng hạn chế, Tòa án khác lại cho rằng chưa đến mức cần can thiệp. Hơn nữa, tiêu chí “ảnh hưởng nghiêm trọng” còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội từng địa phương, vào cách nhìn nhận chủ quan của người xét xử. Điều này làm giảm tính dự đoán được của pháp luật, khiến đương sự khó tiên liệu được khả năng được bảo vệ bằng cơ chế hạn chế.

Một hệ quả khác của việc tiêu chí quá định tính là gánh nặng chứng minh đặt lên vai người yêu cầu hạn chế trở nên rất lớn, trong khi họ thường là người yếu thế (vợ/chồng nội trợ, người già, người không có thu nhập ổn định…). Không có chuẩn mực pháp lý định lượng để bám vào, việc chứng minh “ảnh hưởng nghiêm trọng” chủ yếu dựa trên tài liệu, lời khai, đánh giá chủ quan và thiện chí của cơ quan tiến hành tố tụng. Trong điều kiện đó, không khó hiểu khi Tòa án thường có xu hướng “an toàn” là không áp dụng hạn chế, hoặc chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt rõ ràng.

3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về hạn chế phân chia di sản

Thứ nhất: Hoàn thiện cấu trúc Điều 661 theo hướng quy phạm đầy đủ, bảo đảm minh bạch và khả năng áp dụng thống nhất

Điều 661 BLDS 2015 hiện hành được xây dựng theo kỹ thuật liệt kê trường hợp, tuy nhiên chưa thiết lập đầy đủ cấu trúc của một quy phạm pháp luật hoàn chỉnh. Cụ thể, điều luật mới chỉ xác định khi nào có thể hạn chế phân chia di sản, nhưng chưa xác lập rõ điều kiện áp dụng, nguyên tắc giới hạn và mức độ tác động của việc hạn chế đối với quyền thừa kế. Trong khi đó, hạn chế phân chia di sản là biện pháp can thiệp trực tiếp vào quyền dân sự cơ bản của chủ thể, do đó đòi hỏi phải được quy định chặt chẽ hơn về mặt cấu trúc và nội dung.

Về phương diện kỹ thuật lập pháp, việc thiếu khoản nguyên tắc dẫn đến nguy cơ đồng nhất mọi trường hợp hạn chế phân chia di sản về mặt hệ quả pháp lý, bất kể mức độ cần thiết hay tính tương xứng. Hệ quả là giảm khả năng kiểm soát việc áp dụng điều luật trong thực tiễn, đồng thời khiến hoạt động xét xử thiếu cơ sở chuẩn để đánh giá giới hạn hợp lý của việc hạn chế. Vì vậy, cần sửa đổi Điều 661 theo hướng: (i) tách bạch rõ các căn cứ hạn chế; và (ii) bổ sung khoản nguyên tắc áp dụng nhằm xác lập giới hạn chung cho toàn bộ điều luật. Khoản nguyên tắc này có chức năng định hướng việc giải thích và áp dụng Điều 661, bảo đảm rằng hạn chế phân chia di sản chỉ được coi là một biện pháp ngoại lệ, có kiểm soát và có mục đích rõ ràng.

Thứ hai: Bổ sung tiêu chí pháp lý để cụ thể hóa “lý do chính đáng”, chuẩn hóa đánh giá của Tòa án

Một hạn chế đáng kể của Điều 661 BLDS 2015 là việc sử dụng các khái niệm có tính định tính cao như “cần thiết” hoặc “lý do chính đáng” mà không kèm theo các tiêu chí pháp lý để định hướng áp dụng. Tình trạng này dẫn đến khả năng cùng một dạng tranh chấp nhưng Tòa án các cấp có thể đưa ra những đánh giá khác nhau về mức độ cần thiết của việc hạn chế phân chia di sản, qua đó làm suy giảm tính thống nhất và khả năng dự đoán của pháp luật.

Về mặt lập pháp, việc bổ sung tiêu chí không nhằm hạn chế quyền đánh giá của Tòa án, mà nhằm tạo ra một khung đánh giá tối thiểu, buộc Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các yếu tố có liên quan và thể hiện rõ trong lập luận xét xử. Khi các tiêu chí được luật hóa, việc áp dụng hạn chế phân chia di sản được đặt trong khuôn khổ minh bạch, có thể kiểm tra và bảo đảm tính hợp lý, tương xứng của biện pháp hạn chế.

Từ đó, tiêu chí “ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống” chỉ thực sự phát huy ý nghĩa bảo vệ khi được đặt trong chuỗi lập luận dựa trên chứng cứ, có chuẩn mực và được áp dụng thống nhất. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật của tố tụng dân sự mà còn là điều kiện bảo đảm chế định hạn chế phân chia di sản trở thành công cụ bảo vệ chủ thể yếu thế, thay vì trở thành nguồn phát sinh tranh cãi và bất ổn trong thực tiễn xét xử. Trọng tâm của các tiêu chí cần hướng vào mối quan hệ giữa di sản và nhu cầu bảo vệ, cũng như mức độ ảnh hưởng của việc hạn chế đối với quyền lợi của các đồng thừa kế khác, nhằm tránh tình trạng viện dẫn lý do chung chung mà không có phân tích cụ thể về hậu quả pháp lý.

Thứ hai: Thiết lập cơ chế xem xét lại việc hạn chế phân chia di sản theo yêu cầu của người thừa kế

Việc hạn chế phân chia di sản tác động trực tiếp đến quyền dân sự của người thừa kế, do đó cần đi kèm cơ chế tố tụng bảo đảm quyền yêu cầu xem xét lại khi hoàn cảnh thay đổi. Nếu thiếu cơ chế này, biện pháp hạn chế có nguy cơ bị áp dụng một cách cứng nhắc, kéo dài không còn phù hợp với thực tế khách quan. Bổ sung quyền yêu cầu xem xét lại không làm suy giảm hiệu lực của biện pháp hạn chế; ngược lại, góp phần tăng tính linh hoạt và kiểm soát trong áp dụng pháp luật, phù hợp với nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận công lý.

Thứ ba: Mở rộng và xác định rõ chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng hạn chế phân chia; phòng ngừa lạm dụng quyền yêu cầu

Về chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án xem xét thực hiện hạn chế phân chia di sản, ngoài bên vợ hoặc chồng còn sống, quy định hiện hành không xác định cụ thể những chủ thể khác trong phạm vi gia đình có thể được trao quyền năng này. Khoảng trống đó dẫn đến nguy cơ bỏ sót nhóm cần bảo vệ, đồng thời tạo ra bất cân xứng trong tiếp cận cơ chế bảo vệ. Trước hết, điều luật chưa đề cập tới bố, mẹ của người mất nhóm chủ thể thường rơi vào hoàn cảnh không có điều kiện kinh tế, đã già yếu, sống nương nhờ con; việc chia di sản có thể ảnh hưởng lớn đến đời sống của họ. Do đó, cần ghi nhận chủ thể này có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn thời gian phân chia nếu chứng minh được việc chia di sản có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống.

Bên cạnh đó, điều luật chưa đề cập tới con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động của người chết. Đây là nhóm có nhu cầu bảo vệ tương tự: chưa có khả năng tạo thu nhập hoặc mất khả năng lao động, từ đó phụ thuộc vào di sản để duy trì cuộc sống. Trong trường hợp họ hoặc người đại diện chứng minh được việc phân chia di sản có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống, họ cần được quyền yêu cầu Tòa án kéo dài thời gian phân chia như các chủ thể khác.

Hơn nữa, cần xử lý nguy cơ lạm dụng quyền yêu cầu kéo dài của vợ, chồng còn sống trong trường hợp người này kết hôn với người khác. Mục tiêu của chế định là tạo khoảng thời gian hợp lý để ổn định cuộc sống; tuy nhiên, nếu quy định không tính đến tình huống kết hôn mới, cơ chế gia hạn có thể trở thành công cụ kéo dài trạng thái “chưa chia”, xâm phạm quyền chính đáng của các đồng thừa kế.

[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam - Tập 1, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2022, tr. 452

[2] PGS.TS. Phùng Trung Tập, Luật Thừa kế Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Hà Nội, 2016, tr. 150-152

[3]   Lê Minh Hùng, "Bàn về quyền yêu cầu chia di sản thừa kế và các trường hợp hạn chế", Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2018

 [4] Lê Minh Hùng, "Bàn về quyền yêu cầu chia di sản thừa kế và các trường hợp hạn chế", Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 04/2018

[5] Bộ Tư pháp (2016), Báo cáo tổng kết thi hành BLDS 2005 và định hướng sửa đổi 2015, Hà Nội, tr. 31

[6] Bài viết được trích lọc từ đề tài nghiên cứu luận văn “Hạn chế phân chia di sản theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” của học viên cao học Phùng Thị Mỹ Hạnh (Trường Đại học Luật Hà Nội) và được chỉnh lý, bổ sung cho phù hợp với khuôn khổ tạp chí.

                                                                      PHÙNG THỊ MỸ HẠNH