
Bộ Chính trị họp Quyết định giải phóng Sài Gòn-Gia Định, thể theo nguyện vọng của nhân dân, các lực lượng trên chiến trường, trong đó có quân và dân Sài Gòn, Bộ Chính trị đồng ý là Chiến dịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu).
Cuối năm 1973 đầu năm 1974, quân ta trên chiến trường thu được nhiều thắng lợi cả về quân sự và chính trị, chính quyền Sài Gòn mất kiểm soát nhiều vùng, nhân dân ta nổi dậy làm chủ. Quân địch lúng túng xin viện trợ ngân sách, nhưng Tổng thống Mỹ R.Nichxơn không đồng ý. Tại nước Mỹ nội bộ mâu thuẫn sâu sắc, phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam tăng cao, buộc Tổng thống Mỹ, R.Nichxơn phải từ chức. Quốc hội Mỹ cắt viện trợ ngân sách của chính quyền Sài Gòn cả năm 1974 chỉ còn một nửa.
Trước thời cơ xuất hiện từ ngày 30/9 đến ngày 08/10/1974, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị có sự tham gia của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị khằng định: “Đây là thời cơ thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn thành giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc, dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác”.

Quân ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột. (Ảnh tư liệu).
Từ ngày 08/12/1974 đến 07/01/1975, Bộ Chính trị tiếp tục họp, các vị lãnh đạo, chỉ huy chủ chốt ở chiến trường Nam Bộ và Khu V được mời tham dự. Hội nghị đã đánh giá so sánh lực lượng ta và địch, những thuận lợi, khó khăn, thống nhất nhận định: “Chúng ta gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc năm 1976”.
Đầu tháng 12/1974, cố vấn Mỹ, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp với các tư lệnh quân khu, quân đoàn chuẩn bị kế hoạch đối phó với quân giải phóng. Chúng nhận định hướng tấn công chính của quân giải phóng là Nam Bộ, thời gian trước hoặc sau Tết Nguyên Đán cho đến tháng 6, khi mùa mưa đến sẽ dừng. Do đó địch không thay đổi lực lượng bố trí ở hai đầu là Trị - Thiên và miền Đông Nam Bộ. Ở Tây Nguyên địch cho rằng ta có đánh cũng tiến công từ hướng Bắc xuống nên tập trung lực lượng vào khu vực phòng thủ Bắc Tây Nguyên.
Đầu năm 1975, ta thắng lớn giải phóng tỉnh Phước Long, trên các chiến trường quân ta hoạt động mạnh nên lực lượng của địch suy yếu, quân chủ lực cơ động, hiệp đồng giảm sút nghiêm trọng, bảo an, dân vệ tan rã từng mảng. Bộ Chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương cho rằng đây là thời cơ lịch sử, quyết định hướng tấn công của quân ta là Nam Tây Nguyên, mục tiêu chủ yếu, trận mở màn là đánh chiếm Buôn Ma Thuột.

Quân ta đánh chiếm Dinh Độc Lập. (Ảnh tư liệu).
Bộ Chính trị cử Đại tướng Văn Tín Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến trường Tây Nguyên thành lập cơ quan đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Trung tướng Hoàng Minh Thảo được giao trọng trách làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.
Quân ta bí mật tập kết lương thực, thực phẩm, vũ khí trang bị, cuối tháng 02/1975 ta đã tập kết được 54.000 tấn vũ khí trang bị, lương thực, thực phẩm, trong đó 7.286 tấn đạn dược, 28.600 tấn gạo, thực phẩm đủ cung cấp cho các lực lượng vũ trang hoạt động cả năm 1975.
Ngày 09/01/1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về Chiến dịch Tây Nguyên. Tại hội nghị quyết định mở Chiến dịch Tây Nguyên, với mật danh “Chiến dịch 275”.
Ngày 17/02/1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên thông qua kế hoạch đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột, thực hiện tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương: “Bí mật, bất ngờ trận đầu phải thắng giòn giã”.

Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường ăn mừng chiến thắng. (Ảnh tư liệu).
Ngày 04/3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên nổ súng, quân ta nhanh chóng chiếm các con đường chiến lược, quan trọng số 19, số 21, số 14, chia cắt quân địch ở thị xã Quy Nhơn với Plâycu, Kon Tum; thị xã Nha Trang với Buôn Ma Thuột; Gia Nghĩa với thị xã Plâycu; Cheo Reo với thị xã Buôn Ma Thuột. Quân địch ở Tây Nguyên bị cô lập hoàn toàn, chia cắt với vùng duyên hải Trung Bộ nên vô cùng hoang mang.
Vào 1 giờ 35 phút ngày 10/3, quân ta đánh trận quyết chiến bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Trận đánh “điểm huyệt” làm rối loạn sự chỉ huy chiến lược, đảo lộn thế phòng thủ của địch ở Tây Nguyên. Ngày 24/3/1975, Chiến dịch Tây Nguyên kết thúc. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi quân ta tiêu diệt, làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy quyền Sài Gòn, loại khỏi chiến đấu 28.000 tên địch, thu và phá hủy 54 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại. Chiến dịch Tây Nguyên toàn thắng đã làm thay đổi cục diện chiến trường, mở ra một bước ngoặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Cùng với Chiến dịch Tây Nguyên Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Trị Thiên-Huế, Đà Nẵng. Đây là hướng phòng thủ quan trọng của địch. Ngày 08/3/1975, quân ta đồng loạt tấn công các cao điểm, cụm cứ điểm của địch phía Tây tỉnh Thừa Thiên-Huế cùng với Nhân dân nổi dậy, ta giành thắng lợi lớn, quân ta chiếm hết các cao điểm phòng thủ chủ yếu của địch.
Đêm 18 rạng sáng ngày 19/3, lực lượng vũ trang Quảng Trị bất ngờ tấn công địch trên toàn tuyến. Địch bị động rút lui về phía nam sông Mỹ Chánh.
5 giờ 40 phút ngày 21/3, quân ta tấn công thành phố Huế. Ngày 25/3, thành phố Huế giải phóng, nhân dân vô cùng phấn khởi. Ngày 26/3, Trị Thiên-Huế hoàn toàn giải phóng, một số tàn quân địch tháo chạy về Đà Nẵng.
Sau khi giải phóng Thừa Thiên-Huế, Quân đoàn 2 lệnh cho các đơn vị vượt đèo Hải Vân phối hợp với Quân khu 5 và lực lượng địa phương tấn công vào Đà Nẵng. Ngày 29/3/1975, giải phóng Đà Nẵng.
Sau khi thất thủ Tây Nguyên, Trị Thiên-Huế, Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung địch lập tuyến phòng thủ “Lá chắn thép” Phan Rang để bảo vệ Sài Gòn từ xa. Chính quyền Sài Gòn tập trung một lực lượng mạnh về quân số và hỏa lực, không quân yểm trợ, tuyên bố tử thủ Phan Rang.
Đúng 5 giờ 30 phút ngày 14/4/1975, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh cánh quân Duyên Hải lệnh nổ súng đánh tuyến phòng thủ Phan Rang. Quân địch không chịu nổi sức mạnh hiệp đồng quân binh chủng của quân ta. Ngày 15/4, quân ta phá vỡ tuyến phòng thủ phía Bắc, áp sát tấn công sân bay Thành Sơn. 5 giờ sáng ngày 16/4, quân địch hốt hoảng thấy quân giải phóng đánh vào trung tâm thị xã Phan Rang. 10 giờ ta làm chủ sân bay Thành Sơn bắt sống Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phó Tư lệnh Quân đoàn 3 và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang chỉ huy Sư đoàn 6 không quân Việt Nam Cộng hòa. Quân ta đập tan tuyến phòng thủ “Lá chắn thép” Phan Rang.
22 giờ ngày 16/4/1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gửi điện biểu dương cánh quân Duyên Hải miền Trung chiến đấu ngoan cường dũng cảm, đập tan tuyến phòng thủ kiên cố Phan Rang của địch. Phan Rang thất thủ, tiếp sau đó “Cảnh cửa thép” Xuân Lộc cũng thất thủ, tạo địa bàn cho cánh quân hướng Đông Nam tiến đánh chiếm Sài Gòn.
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối Kế hoạch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Kế hoạch quyết định cuộc tấn công diễn ra đồng thời trên hướng: Tây Bắc, Đông Bắc, Đông, Đông Nam, Tây và Tây Nam. Cùng ngày 14/4/1975, thể theo nguyện vọng của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường, trong đó có quân và dân thành phố Sài Gòn - Gia Định, Bộ Chính trị đồng ý và phê duyệt Chiến địch lấy tên là: “Chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh, 5 cánh quân đánh địch thần tốc tiến vào Sài Gòn. Binh đoàn Quyết thắng - Quân đoàn 1 tấn công theo hướng Bắc. Binh đoàn Tây Nguyên - Quân đoàn 3 tấn công theo hướng Tây Bắc. Binh đoàn Hương Giang - Quân đoàn 2 tấn công theo hướng Đông Nam. Binh đoàn Cửu Long - Quân đoàn 4 tấn công hướng theo hướng Đông. Quân khu 8 và Đoàn 232 tấn công hướng Tây và Tây Nam.
Đúng 11 giờ 30 phút, quân ta cắm cờ trên Dinh Độc Lập, Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 là mốc son chói lọi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kèo dải 30 năm của nhân dân ta, hơn một thế kỷ dưới ách thống trị của bọn thực dân, mở ra cho đất nước ta một kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Đại hội Đảng lần thứ IV từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại thủ đô Hà Nội là Đại hội đầu tiên sau khi đất nước thống nhất. Đại hội quyết định thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn cả nước.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới.
Hơn 50 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta không ngừng phát triển. Từ một nước nghèo nàn lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây cấm vận trở thành nước phát triển, hội nhập sâu, rộng với thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại; đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng; lợi ích quốc gia, dân tộc được đảm bảo, xây dựng mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực.
Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Đất nước cũng bắt đầu bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Từ nay đến năm 2045 là giai đoạn quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu phát triển mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đề ra: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; thực hiện hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội”.
HẢI HƯNG

