Bài viết nhận định những điểm mạnh và những rào cản, thách thức cần vượt qua, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của MTTQ Việt Nam trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
1.1. Bối cảnh lý luận và thực tiễn
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu có chọn lọc những giá trị phổ quát của nhân loại để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo Đảng, phù hợp với bối cảnh thực tiễn của đất nước. Tại Hội nghị Trung ương 6, khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/12/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW). Đây là Nghị quyết mang ý nghĩa chiến lược quan trọng, là nền tảng, là cơ sở chính trị, nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đích thực của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nghị quyết thẳng thắn đánh giá: “Quyền lực nhà nước (QLNN) chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện”, đồng thời xác định mục tiêu chiến lược đến năm 2030 phấn đấu:“Hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm QLNN là thống nhất, được kiểm soát hiệu quả”. Việc thiết lập cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn những hành động tùy tiện, chủ quan của người cầm quyền, bảo đảm QLNN thuộc về Nhân dân.
Dưới góc độ cải cách thể chế, việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp (tỉnh - xã) được Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định là một bước tiến quan trọng trong nền quản trị quốc gia[1] nhưng sự thay đổi này cũng dẫn đến “khoảng trống giám sát” do khoảng cách hành chính giữa chính quyền cấp tỉnh và cấp cơ sở nới rộng, dễ dẫn đến nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, tha hóa quyền lực hoặc vi phạm quyền con người của đội ngũ cán bộ trực tiếp thực thi công vụ. Trong bối cảnh đó, yêu cầu củng cố cơ chế giám sát của MTTQ (MTTQ) Việt Nam và các chủ thể ngoài nhà nước khác ở cấp cơ sở trở nên cấp thiết giúp phản ánh kịp thời, đầy đủ, khách quan ý kiến, nguyện vọng của Nhân dân. Việc củng cố cơ chế giám sát của MTTQ đóng vai trò rất quan trọng như một hệ thống cảnh báo, ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ vi phạm pháp luật của bộ máy công quyền, qua đó bảo đảm hiệu quả kiểm soát QLNN.
Dưới góc độ hiến định, Điều 9, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập địa vị pháp lý của MTTQ. Để cụ thể hóa hiến pháp, Điều 1 Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) tiếp tục khẳng định rõ: “MTTQ Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; tập hợp phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân...” .
Đây là cơ sở pháp lý của chính quyền nhân dân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; giám sát, phản biện xã hội đối với quá trình tổ chức và thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, việc đẩy mạnh tinh gọn bộ máy nhà nước, công cuộc chuyển đổi số quốc gia và sự bùng nổ của khoa học, công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc phương thức tương tác xã hội, tạo ra mặt trận phi truyền thống đầy phức tạp, nơi các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm xuyên tạc, phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ những đòi hỏi bức thiết của thực tiễn nêu trên, một vấn đề mang tính nền tảng cần được giải quyết thỏa đáng về mặt khoa học pháp lý là: trong bối cảnh tinh gọn bộ máy nhà nước, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới, cơ chế kiểm soát QLNN thông qua MTTQ Việt Nam cần được nhìn nhận, định vị và hoàn thiện như thế nào để vừa bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, vừa thực sự trở thành “lá chắn thép” vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng?
1.2. Các thách thức mới đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự bùng nổ của mạng internet và các nền tảng trực tuyến với đặc tính phi biên giới, ẩn danh, tốc độ lan truyền nhanh, không gian mạng trở thành mặt trận phi truyền thống đặc biệt phức tạp, là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch lợi dụng triệt để nhằm đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chúng lan truyền thông tin sai lệch, cố tình cắt ghép, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là âm mưu thâm độc nhằm hạ thấp uy tín, công kích tính chính danh và tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
QLNN nếu không được kiểm soát chặt chẽ tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ lạm quyền và tha hóa ở một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, là cơ hội cho các thế lực thù địch triệt lợi dụng, đánh tráo khái niệm nhằm phủ định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Khi Đảng và Nhà nước đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng với tinh thần quyết liệt “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, các thế lực thù địch cố tình bóp méo, xuyên tạc rằng đây là “cuộc chiến đấu đá nội bộ”, “thanh trừ lẫn nhau”, đồng thời lợi dụng những sơ hở trong quản lý nhà nước tại một số địa phương để rêu rao về tình trạng “mất dân chủ”, “vi phạm nhân quyền” nhằm đánh lừa dư luận[2].
Kiểm soát QLNN và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ trong mối quan hệ biện chứng, hữu cơ và không thể tách rời. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ dừng lại ở mặt trận lý luận, tuyên truyền chính trị, mà trọng tâm còn phải chú ý hiện thực hóa bằng thực tiễn thông qua việc giữ gìn sự liêm chính, trong sạch của bộ máy công quyền. Khi QLNN được thực thi đúng đắn, lấy người dân làm trung tâm, tất cả cho Nhân dân, vì Nhân dân thì đó chính là minh chứng sống động nhất, thuyết phục nhất không thể phủ nhận về bản chất tốt đẹp, ưu việt, tiến bộ của nhà nước ta. Sự giao thoa giữa yêu cầu hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực theo Nghị quyết số 27-NQ/TW và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị đòi hỏi phải phát huy tối đa vai trò của MTTQ Việt Nam trong cơ chế kiểm soát QLNN từ bên ngoài.

Phiên làm việc đầu tiên Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI. Ảnh: Đại đoàn kết.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý về kiểm soát QLNN và vai trò của MTTQ
2.1. Cơ chế kiểm soát QLNN ở Việt Nam
Kiểm soát QLNN được hiểu là một hệ thống tổng thể các nguyên tắc, cơ chế, thiết chế và biện pháp được nhà nước và xã hội thiết lập nhằm xem xét, theo dõi, đánh giá hoạt động của các cơ quan, cá nhân thực thi công vụ. Mục đích tối thượng của cơ chế này là ngăn ngừa, loại bỏ những hành vi lạm dụng quyền lực, bảo đảm QLNN được vận hành theo đúng Hiến pháp, pháp luật, đúng giới hạn được ủy quyền và thực sự phụng sự lợi ích của Nhân dân[3]. Kiểm soát QLNN không nhằm làm suy yếu QLNN, mà trái lại, là biểu hiện của nền dân chủ và pháp quyền hiện đại[4], giúp tăng cường tính chính danh, hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước.
Điều 2, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định nguyên tắc nền tảng: “QLNN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” khẳng định cơ chế kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước bao trùm các thiết chế cốt lõi từ trung ương đến địa phương. Đồng thời, Hiến pháp hiện hành cũng khẳng định chủ quyền tối cao của Nhân dân đối với QLNN. Điều 6 xác lập nguyên tắc: “Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện”. Sự kết hợp biện chứng giữa nguyên tắc QLNN là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và nguyên tắc Nhân dân thực hiện quyền lực đã tạo thành khung khổ pháp lý toàn diện đòi hỏi QLNN phải được kiểm soát toàn diện bằng cơ chế kiểm soát bên trong giữa các cơ quan nhà nước và cơ chế kiểm soát bên ngoài bởi trực tiếp Nhân dân và các thiết chế đại diện, đặc biệt là sự tham gia giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên. Cơ chế kiểm soát từ trong mang tính QLNN, cơ chế kiểm soát từ bên ngoài mang sức nặng của dư luận, phản biện và các kiến nghị xã hội, buộc các cơ quan công quyền phải hoạt động minh bạch, đúng giới hạn thẩm quyền.
MTTQ Việt Nam đóng vai trò hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, được hiến định là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, MTTQ được giao thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội, tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân để phản ánh với Đảng và Nhà nước. Thiết chế này không chỉ phát huy quyền làm chủ của Nhân dân mà còn trở thành cầu nối chính trị - pháp lý vững chắc gắn kết mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tạo động lực để ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực, qua đó củng cố tính chính danh và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
2.2. Cơ chế tiền kiểm và hậu kiểm của MTTQ Việt Nam
Trong cấu trúc của cơ chế kiểm soát QLNN, nếu giám sát xã hội là sự kiểm tra, đánh giá mang tính hậu kiểm quá trình thực thi pháp luật, thì phản biện xã hội được định hình là một công cụ tiền kiểm hữu hiệu, mang tính phòng ngừa rủi ro từ sớm, từ xa. Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị đã giải thích: phản biện xã hội “là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Thể chế hóa định hướng này, khoản 1, Điều 32, Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã quy định rõ phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án của cơ quan nhà nước.
Cơ chế tiền kiểm được tiến hành trước khi các quyết sách, văn bản quy phạm pháp luật được cơ quan nhà nước ban hành chính thức thông qua việc thẩm định, góp ý hướng đến mục tiêu phát hiện những nội dung còn thiếu sót, chưa sát với thực tế, chưa phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc có nguy cơ làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân. Cơ chế tiền kiểm là thiết chế tư vấn, kiến nghị đóng vai trò phòng ngừa rủi ro chính sách, hạn chế tối đa sự chủ quan, duy ý chí hay tư duy lợi ích nhóm trong quá trình hoạch định chính sách. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, năm 2025) và Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã thiết lập chế tài ràng buộc về trách nhiệm giải trình, buộc cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo văn bản được phản biện phải trả lời, giải trình bằng văn bản đối với các kiến nghị của MTTQ. Thực tiễn đã chứng minh tính hiệu quả khi MTTQ phản biện thành công nhiều dự án luật quan trọng như Luật Đất đai (sửa đổi), các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ ngày 01/7/2021 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.
Giám sát xã hội của MTTQ được thiết kế như một cơ chế hậu kiểm đặc biệt quan trọng trong quy trình kiểm soát QLNN. Điều 9, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập quyền giám sát xã hội của MTTQ là hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực thi chính sách, pháp luật nhằm đánh giá xem chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã đi vào cuộc sống như thế nào, có đáp ứng được nguyện vọng, mong mỏi của Nhân dân hay không. Thông qua đó, MTTQ kịp thời phát hiện những sai sót, yếu kém, các hành vi lạm quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý sai phạm, đồng thời yêu cầu sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật không còn phù hợp thực tiễn. Sức mạnh của cơ chế giám sát xã hội không nằm ở mệnh lệnh hành chính, mà nằm ở áp lực từ dư luận xã hội, khiến cho các chủ thể được trao quyền nếu có hành vi lạm quyền buộc phải điều chỉnh, giải trình, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật.
Sự vận hành đồng bộ, không tách rời của giám sát và phản biện xã hội tạo ra một chu trình chính sách toàn diện có sự tham gia sâu rộng của Nhân dân thông qua đại diện là MTTQ từ giai đoạn trước, trong và sau khi ban hành chính sách. Đây chính là một “vòng phản hồi chính sách” dựa trên bằng chứng, hoàn toàn phù hợp với xu thế quốc tế về xây dựng chính quyền mở và đề cao trách nhiệm giải trình xã hội[5]. Cơ chế này không chỉ bảo đảm quyền lực công được vận hành đúng quỹ đạo, phục vụ tối đa lợi ích của Nhân dân, mà còn trực tiếp triệt tiêu những mầm mống sai lầm có thể dẫn đến sự bất mãn xã hội, qua đó củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng và tính chính danh cầm quyền của Đảng trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực.
3. Thực trạng cơ chế kiểm soát của MTTQ Việt Nam hiện nay
3.1. Kết quả đạt được
Vai trò, chức năng của MTTQ Việt Nam trong những năm qua được thể chế hóa một cách đồng bộ, từ chủ trương mang tính định hướng của Đảng được cụ thể hóa thành các quy phạm hiến định và luật định, xác lập vị thế pháp lý tối cao cho MTTQ trong việc thiết lập cơ chế kiểm soát xã hội đối với quyền lực công. Điều 9, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định địa vị pháp lý của MTTQ Việt Nam, đồng thời chính thức bổ sung và ghi nhận chức năng “giám sát và phản biện xã hội” khẳng định địa vị pháp lý vững chắc cho MTTQ Việt Nam trong việc đại diện cho ý chí và quyền lực của Nhân dân để giám sát sự vận hành của bộ máy nhà nước. Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), dành riêng Chương V (giám sát) và Chương VI (phản biện xã hội) để luật định hóa trình tự, thủ tục, hình thức, quyền và trách nhiệm của MTTQ. Bên cạnh đó, Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 quy định các hình thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam cùng hệ thống các quy chế phối hợp công tác giữa MTTQ với các cơ quan thực hiện QLNN đã tạo cơ chế vận hành nhịp nhàng với các ràng buộc pháp lý cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện giám sát và nghĩa vụ bắt buộc phải xem xét, giải quyết, trả lời các kiến nghị sau giám sát, phản biện của MTTQ.
Công tác phản biện xã hội của MTTQ từng bước đi vào nề nếp và ngày càng khẳng định được vai trò, vị thế trong chu trình hoạch định chính sách. Ủy ban MTTQ các cấp đã tích cực, chủ động tham gia góp ý, phản biện đối với hàng loạt dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, đề án, dự án trọng điểm. Giai đoạn 2024-2026, thực hiện các nghị quyết và kết luận, chỉ đạo của Trung ương Đảng, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, hệ thống MTTQ và các tổ chức thành viên các cấp đã tích cực tham gia việc sửa đổi, bổ sung nhiều quy định pháp luật có liên quan nhằm triển khai việc tinh gọn bộ máy nhà nước hướng tới hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hơn. Tích cực tham gia quá trình xây dựng, lấy ý kiến Nhân dân sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013[6] trong hệ thống MTTQ Việt Nam. Chủ trì xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật MTTQ Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở để kịp thời thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng, quy định mới của Hiến pháp về vị trí, vai trò, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Tích cực thực hiện và vận động Nhân dân tham gia ý kiến xây dựng Văn kiện Đại hội đảng các cấp và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; hệ thống MTTQ Việt Nam đã tổng hợp 527.764 ý kiến góp ý thông qua các hình thức trực tiếp và thư báo[7]. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành kế hoạch, tổ chức phản biện xã hội đối với 07 dự án luật[8]. Các địa phương đã tổ chức 1.362 hội nghị phản biện, tham vấn ý kiến góp ý vào các quyết sách của địa phương liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Ý kiến phản biện xã hội đa dạng, phong phú, sâu sắc, được cơ quan có thẩm quyền đánh giá cao và được xác định là tài liệu bắt buộc trong các hồ sơ trình ban hành. Đã tham gia góp ý trên 3.240 đề án, 4.670 chương trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội; nhiều ý kiến đã được tổng hợp, tiếp thu đưa vào báo cáo trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.[9]
Về giám sát xã hội, trung bình hằng năm hệ thống MTTQ các cấp chủ trì và phối hợp tham gia giám sát trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân; giám sát việc tổ chức thực thi các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội, bảo đảm các nguồn lực của Nhà nước đến đúng đối tượng; và giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và đảng viên. Thông qua mạng lưới giám sát, MTTQ các cấp đã kịp thời phát hiện những yếu kém, sai sót, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành của bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra nhiều kiến nghị xác đáng góp phần ổn định trật tự xã hội ở cơ sở và củng cố niềm tin của Nhân dân vào chính quyền. Ở cấp Trung ương, trong giai đoạn 2024 - 2026, MTTQ Việt Nam chủ trì thực hiện 05 nội dung giám sát; các tổ chức chính trị - xã hội chủ trì thực hiện 12 nội dung giám sát; Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp phối hợp với các cơ quan chức năng đã tổ chức hơn 2.300 cuộc giám sát. Đẩy mạnh công tác tiếp nhận và xử lý các thông tin phản ánh, tố cáo về tham nhũng, tiêu cực; phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết; theo dõi, giám sát quá trình giải quyết. Giám sát đảng viên, người đứng đầu, cán bộ dân cử, thực hiện trách nhiệm của đảng viên nơi cư trú... Công tác tổng hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân được thực hiện thường xuyên, nền nếp, bảo đảm tính khách quan, kịp thời[10].
3.2. Những thách thức về pháp lý và thực tiễn
Thứ nhất, thách thức về nhân lực và điều kiện bảo đảm ở cấp cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
MTTQ cấp cơ sở (cấp xã, phường, thị trấn) là “chân rết” quan trọng nhất, trực tiếp tiếp xúc với đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, số lượng cán bộ chuyên trách của MTTQ cấp xã ít, phần lớn hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, kỹ năng, chuyên môn còn hạn chế, thiếu công cụ hỗ trợ và không được đào tạo bài bản về kỹ năng giám sát, phản biện. Khi chuyển đổi sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp cơ sở tăng lên, gây tiềm ẩn rủi ro lạm quyền tại cấp cơ sở. Do đó, áp lực giám sát của MTTQ cấp cơ sở tăng lên mà các điều kiện bảo đảm lại không được tăng cường tương xứng, cơ chế tài chính chưa bảo đảm để MTTQ thực hiện hoạt động giám sát, phản biện một cách chủ động, thường xuyên. Sự thiếu hụt đồng bộ về nhân lực, kinh phí và kỹ năng là thách thức đối với hoạt động kiểm soát quyền lực của MTTQ cấp cơ sở.
Thứ hai, cơ chế tài chính chưa được bảo đảm.
Kinh phí hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp và được cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp phân bổ, khiến thiết chế thực hiện quyền giám sát của Nhân dân bị phụ thuộc trực tiếp vào cơ quan hành pháp. Tình trạng này đã trực tiếp làm suy giảm tính độc lập, khách quan của MTTQ, nảy sinh tâm lý nể nang, né tránh trong đội ngũ cán bộ. Bên cạnh đó, tại những lĩnh vực đặc thù có nguy cơ lạm quyền và tham nhũng cao như quản lý tài chính - ngân sách, đầu tư công và đặc biệt là hoạt động của các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án), sự hiện diện và tham gia giám sát của MTTQ còn mờ nhạt.
Thứ ba, thiếu chế tài đối với việc không giải trình, không tiếp thu kiến nghị.
Mặc dù pháp luật đã trao cho MTTQ quyền kiến nghị sau giám sát và phản biện, song hệ thống pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục, và đặc biệt là thời hạn bắt buộc cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết kiến nghị. Pháp luật chưa xác định rõ trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cơ quan nhà nước, và hoàn toàn thiếu vắng các chế tài pháp lý xử lý nghiêm minh đối với trường hợp cơ quan nhà nước im lặng, không tiếp nhận, hoặc trả lời không đúng thời gian luật định. Hệ quả là hoạt động của MTTQ dễ bị vô hiệu hóa, làm giảm sút hiệu lực thực tế của cơ chế kiểm soát QLNN từ bên ngoài bộ máy nhà nước.
4. Kiểm soát quản lý nhà nước của MTTQ – Nhân tố trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng
4.1. Đấu tranh bằng thực tiễn, làm suy yếu cơ sở của luận điệu chống phá
Yếu tố cốt lõi trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là phải chứng minh được kết quả nền quản trị quốc gia thông qua thực tiễn sinh động. Trong đó, cơ chế giám sát của MTTQ đối với các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và lạm quyền đóng vai trò là một minh chứng mạnh mẽ. Thông qua việc phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm minh các sai phạm, MTTQ không chỉ thiết lập “lá chắn thép” bảo vệ trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân mà còn lan tỏa tín hiệu, khách quan từ phía xã hội về quyết tâm không khoan nhượng với quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Thực tiễn cho thấy, Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chỉnh đốn Đảng với tinh thần quyết liệt “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, cuộc đấu tranh này được đặt dưới sự giám sát rộng rãi của Nhân dân thông qua thiết chế đại diện là MTTQ Việt Nam, bản chất của công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được sáng tỏ là đòi hỏi khách quan của toàn xã hội nhằm làm trong sạch bộ máy nhà nước, chứ không phải là vấn đề nội bộ của riêng tổ chức Đảng. Sự đồng hành, giám sát và kiến nghị xử lý vi phạm từ phía MTTQ chính là những bằng chứng đanh thép nhất, đập tan những hoài nghi, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Dưới góc độ hoạch định chính sách công, phản biện xã hội được định hình là công cụ tiền kiểm mang tính phòng ngừa rủi ro chiến lược. Khi MTTQ và các tổ chức thành viên tiến hành phản biện đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, những quy định có dấu hiệu bất hợp lý, thiếu tính khả thi, hoặc tiềm ẩn nguy cơ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân sẽ được nhận diện và kiến nghị loại bỏ ngay từ giai đoạn thai nghén. Việc kịp thời khắc phục những thiếu sót của chính sách so với thực tiễn giúp bảo đảm sự hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, từ đó ngăn chặn từ gốc sự bức xúc trong cộng đồng và giảm thiểu tối đa nguy cơ bùng phát các điểm nóng xã hội về khiếu kiện phức tạp, đông người. Khi một chính sách được ban hành dựa trên nền tảng của sự tham vấn rộng rãi, bảo đảm tính hợp lý, công khai, minh bạch và đáp ứng đúng nguyện vọng, mong mỏi của Nhân dân, nó sẽ nhận được sự ủng hộ, đồng thuận xã hội cao, khiến các thế lực thù địch không còn cơ hội bóp méo, xuyên tạc, lợi dụng những hạn chế, bất cập nhằm mục đích chống phá.
4.2. Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân như một “thước đo thực chứng”
Nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới, trong đó hạt nhân cốt lõi của cách mạng chính là mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và cao nhất là giải phóng con người. Do đó, mức độ thụ hưởng và mức độ bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên thực tế chính là một “thước đo thực chứng” thể hiện rõ nét nhất tính nhân văn và sự ưu việt của nền tảng tư tưởng. Lý luận chính trị chỉ thực sự có sức sống và sức thuyết phục khi nó được cụ thể hóa thành các bảo đảm pháp lý vững chắc trong Nhà nước pháp quyền, qua đó trực tiếp bảo đảm, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và quyền công dân. Ngược lại, nếu các quyền con người, quyền công dân không được bảo đảm, bảo vệ, thực thi có hiệu quả trên thực tế mọi nỗ lực tuyên truyền về bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa sẽ trở nên sáo rỗng và thiếu sức thuyết phục.
Thực tiễn cho thấy hoạt động giám sát xã hội của MTTQ đã bao phủ sâu rộng nhiều lĩnh vực quyền con người, quyền công dân. Về quyền tiếp cận thông tin, MTTQ giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin, qua đó thúc đẩy việc công khai, minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước và đề cao trách nhiệm giải trình trước Nhân dân. Về quyền sở hữu tài sản, MTTQ tập trung giám sát chặt chẽ công tác quản lý và sử dụng đất đai, đặc biệt là các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp và tài sản của người dân. Về quyền khiếu nại, tố cáo, MTTQ tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, qua đó trực tiếp kiến nghị xử lý các sai phạm và bảo vệ người dân khỏi sự lạm quyền. Về quyền được bảo đảm an sinh xã hội, MTTQ thường xuyên theo dõi, đánh giá việc thực thi các chính sách giảm nghèo bền vững, thụ hưởng phúc lợi và đặc biệt là các chính sách hỗ trợ khẩn cấp cho người lao động, nhóm dễ bị tổn thương (như trong đại dịch Covid-19), bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau...
Những kết quả giám sát, những vụ việc được MTTQ can thiệp bảo vệ thành công chính là nguồn dữ liệu khách quan giúp chúng ta tự tin đối thoại, làm rõ những nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân tại Việt Nam với cộng đồng quốc tế. MTTQ với tư cách là một tổ chức đại diện cho xã hội đứng ra giám sát, công khai hóa các sai phạm và bảo vệ thành công quyền lợi của người dân, đã triệt tiêu nguyên nhân làm nảy sinh bức xúc, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, trực tiếp làm phá sản các âm mưu kích động của các thế lực thù địch, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
4.3. Định hướng dư luận trên không gian mạng
Trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã trở thành một mặt trận trọng yếu, nơi các luồng thông tin thật - giả đan xen và các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để phát tán các quan điểm sai trái, xuyên tạc tình hình đất nước. Trong bối cảnh đó, MTTQ Việt Nam với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng dư luận xã hội thông qua việc cung cấp các thông tin chính thống, khách quan và minh bạch. Thông qua việc tổ chức các diễn đàn, hội nghị phản biện xã hội, các cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân, MTTQ đã tạo ra không gian để các vấn đề bức xúc, nhạy cảm được mổ xẻ, thảo luận một cách công khai, dân chủ.
Các thông cáo, báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và kết quả giám sát, phản biện xã hội của MTTQ gửi đến các cơ quan Đảng, Nhà nước chính là những nguồn tư liệu thực chứng, phản ánh chính xác, đầy đủ và đa chiều về các điểm nóng trong xã hội. Bằng việc chủ động công khai hóa các thông tin này thông qua các nền tảng truyền thông chính thống của MTTQ (báo chí, tạp chí, cổng thông tin điện tử) và mạng lưới các trang cộng đồng (Fanpage) trên mạng xã hội, MTTQ đã cung cấp cho người dân một bộ lọc thông tin đáng tin cậy. Khi người dân được tiếp cận với những thông tin chính xác, khách quan về cách thức bộ máy nhà nước đang giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh, cũng như thấy rõ những hạn chế, sai phạm đã được MTTQ kiến nghị xử lý dứt điểm, sự hoài nghi và bức xúc trong dư luận sẽ bị triệt tiêu[11].
Trong kỷ nguyên mới, sự phối hợp giữa MTTQ và các cơ quan truyền thông, báo chí đóng vai trò then chốt trong việc định hướng truyền thông, phản ứng nhanh, mạnh trước các thông tin sai lệch từ các vụ tiêu cực trong bộ máy nhà nước, minh bạch hóa thông tin và định hướng dư luận xã hội. Bằng việc tận dụng ưu thế của báo mạng điện tử và sự kết hợp hài hòa phương châm giữa “xây” và “chống”, MTTQ không chỉ truyền tải kịp thời, rộng rãi kết quả của công tác giám sát, phản biện xã hội mà còn tạo ra sự tương tác, lan tỏa những giá trị tích cực đến Nhân dân. Sự chủ động minh bạch hóa thông tin từ một thiết chế đại diện có thẩm quyền như MTTQ chính là “bức tường thành” vững chắc nhất để định hướng dư luận xã hội, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng phi truyền thống.
5. Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát QLNN của MTTQ trong kỷ nguyên mới
5.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý
Để khắc phục triệt để tình trạng các quy định về kiểm soát QLNN từ xã hội còn phân tán, mang tính nguyên tắc định hướng và thiếu sức mạnh cưỡng chế trên thực tế, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần nghiên cứu xây dựng và ban hành một đạo luật về giám sát và phản biện xã hội[12], tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, đạo luật cần phải:
Thứ nhất, xác định minh định chủ thể, phạm vi, đối tượng và hình thức giám sát - phản biện.
Đạo luật cần quy định một cách chi tiết, cụ thể nhằm cá thể hóa các chủ thể được trao quyền (bao gồm MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân), phân định rõ giới hạn phạm vi, nội dung cũng như các đối tượng chịu sự giám sát, phản biện. Đồng thời, pháp luật phải chuẩn hóa các hình thức, phương pháp tiến hành giám sát, phản biện để áp dụng thống nhất trên toàn quốc, khắc phục tình trạng mỗi địa phương có cách hiểu, vận dụng khác nhau làm suy giảm hiệu quả kiểm soát QLNN.
Thứ hai, thiết lập quy trình tiếp nhận, giải trình và phản hồi kiến nghị mang tính bắt buộc.
Đạo luật cần thiết kế một quy trình pháp lý chặt chẽ đối với việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát, phản biện. Trong đó, xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong khâu tiếp nhận, nghiên cứu, giải trình và bắt buộc phải trả lời kiến nghị giám sát bằng văn bản. Việc thiết lập các mốc thời hạn phản hồi bắt buộc sẽ buộc các cơ quan nhà nước phải vận hành minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình trước xã hội và không thể đùn đẩy, né tránh hoặc kéo dài thời gian xử lý.
Thứ ba, bổ sung các chế tài pháp lý nghiêm minh
Cần có đạo luật thiết lập các chế tài xử lý nghiêm khắc đối với những trường hợp cơ quan, người có thẩm quyền không tiếp nhận, từ chối thực hiện nghĩa vụ giải trình, hoặc trả lời không đúng thời gian luật định đối với các kiến nghị giám sát, phản biện. Đồng thời, cần bổ sung các biện pháp để MTTQ có quyền theo dõi, đôn đốc quá trình tiếp nhận và xử lý kiến nghị. Chỉ khi được trang bị những chế tài pháp lý đủ mạnh, cơ chế kiểm soát QLNN từ bên ngoài mới thực sự có hiệu quả, chuyển từ khuyến nghị sang ràng buộc trách nhiệm pháp lý.
Đồng thời, để cơ chế kiểm soát QLNN từ xã hội không chỉ dừng lại ở các nguyên tắc hiến định mà thực sự trở thành một thiết chế có sức mạnh, yêu cầu cấp bách là phải luật hóa và lồng ghép đồng bộ vai trò của MTTQ vào hệ thống các luật chuyên ngành. Đối với pháp luật về tổ chức bộ máy và hoạt động giám sát, cần sửa đổi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương nhằm quy định rõ cơ chế tham gia bắt buộc của Ủy ban MTTQ đối với các chương trình giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đối với pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các lĩnh vực nhạy cảm như tài chính - ngân sách, quản lý đất đai, đầu tư công, quy hoạch, cần sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đất đai, Luật Đầu tư công theo hướng xác lập vị thế pháp lý của MTTQ như một chủ thể có quyền tham vấn và giám sát bắt buộc, trong đó quy định rõ cơ quan quản lý nhà nước buộc phải lấy ý kiến phản biện của MTTQ và giải trình công khai trước khi phê duyệt.
5.2. Tăng cường mạng lưới giám sát đa chiều ở cơ sở
Thứ nhất, tăng cường biên chế chuyên trách và chuyên môn hóa năng lực cho đội ngũ cán bộ MTTQ cấp xã.
Sự thiếu hụt về số lượng và hạn chế về kỹ năng chuyên môn của cán bộ MTTQ ở cấp xã, phường, thị trấn đang là rào cản trực tiếp làm suy yếu vai trò kiểm soát QLNN. Do đó, cần bố trí thêm biên chế cho MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội chuyên trách làm công tác giám sát, phản biện ở cơ sở; đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng, trang bị hệ thống kỹ năng, kiến thức chuyên sâu cho đội ngũ này. Chỉ khi được chuyên môn hóa và tự tin về năng lực pháp lý, cán bộ MTTQ cơ sở mới có thể xóa bỏ tâm lý e dè, nể nang, ngại va chạm, qua đó mạnh dạn, độc lập trong việc theo dõi, phát hiện và kiến nghị xử lý các sai phạm của chính quyền sở tại.
Thứ hai, thiết lập và vận hành hiệu quả cơ chế giám sát giữa MTTQ, Hội đồng nhân dân và báo chí địa phương.
Cần làm rõ cơ chế phối hợp giữa MTTQ và HĐND, MTTQ với lợi thế bám sát cơ sở sẽ tập hợp ý kiến, cung cấp phản hồi từ dư luận xã hội để HĐND thực hiện quyền chất vấn, giám sát; ngược lại, HĐND sử dụng công cụ QLNN để buộc cơ quan hành pháp phải giải trình các kiến nghị do MTTQ đệ trình. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan báo chí, truyền thông địa phương tham gia sâu rộng vào chu trình này. Sự liên kết chặt chẽ giữa MTTQ và cơ quan báo chí sẽ khuếch đại sức mạnh của giám sát xã hội, trực tiếp đẩy lùi các hành vi lạm quyền, tham nhũng.
5.3. Phát huy vai trò chuyên gia, trí thức và Hội đồng tư vấn
Trong các lĩnh vực chuyên sâu, đặc thù như hoạt động tư pháp, tài chính - ngân sách, đầu tư công hay bảo vệ tài nguyên và môi trường, việc chỉ dựa vào lực lượng cán bộ hành chính cơ hữu của MTTQ là hoàn toàn không khả thi. Do đó, cần thể chế hóa cơ chế huy động trí thức, chuyên gia thông qua: (1) tăng cường quyền hạn, trách nhiệm và điều kiện hoạt động cho các Hội đồng tư vấn, Ban tư vấn của MTTQ, bảo đảm các ý kiến tư vấn mang tính độc lập, khách quan, khoa học và trung thực; (2) thiết lập cơ chế “hợp đồng tư vấn, phản biện” cho phép MTTQ đặt hàng, ký kết các hợp đồng trách nhiệm với các viện nghiên cứu, trường đại học hoặc các nhóm chuyên gia độc lập để tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá tác động và xây dựng các báo cáo phản biện chuyên sâu. Cơ chế này không chỉ nâng tầm chất lượng phản biện dựa trên minh chứng khoa học thực chứng mà còn thu hút được sự tham gia rộng rãi của giới học thuật vào quá trình kiến tạo và quản trị quốc gia. Để thực hiện được điều này cần cải cách cơ chế tài chính dành cho hoạt động giám sát theo hướng kinh phí dành cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ phải do Quốc hội (ở cấp trung ương) và Hội đồng nhân dân (ở cấp địa phương) quyết định phân bổ một khoản ngân sách trực tiếp, mang tính chất đặc thù, không qua cơ quan hành pháp.
5.4. Xây dựng hệ sinh thái giám sát số
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công cuộc chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, việc đổi mới phương thức giám sát, phản biện xã hội của MTTQ dựa trên nền tảng công nghệ số là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan. Để hiện thực hóa điều này, cần thiết lập một hệ sinh thái số đồng bộ, bao gồm việc xây dựng các nền tảng trực tuyến như cổng thông tin điện tử tương tác, ứng dụng trên thiết bị di động (app) chuyên biệt và các đường dây nóng kỹ thuật số. Mục tiêu của mạng lưới này là nhằm tạo ra một kênh giao tiếp trực tiếp, an toàn và thông suốt, cho phép MTTQ tiếp nhận nhanh chóng, kịp thời mọi ý kiến, phản ánh, kiến nghị của người dân ở mọi lúc, mọi nơi.
Các nền tảng số này không chỉ dừng lại ở chức năng tiếp nhận thông tin một chiều mà phải được thiết kế để công khai toàn bộ quá trình xử lý, người dân có thể trực tiếp theo dõi và tra cứu tiến độ tiếp nhận, tình trạng giải quyết, kết quả giám sát cũng như toàn bộ các văn bản phản hồi, giải trình từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với từng vụ việc cụ thể. Việc vận hành các nền tảng trực tuyến và công khai hóa tình trạng xử lý kiến nghị giúp MTTQ tổng hợp dữ liệu quy mô lớn về các điểm nóng, bức xúc trong xã hội để chủ động giám sát, góp phần minh bạch hóa toàn bộ chu trình kiểm soát QLNN từ đó ràng buộc, thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền, triệt tiêu sự né tránh, đùn đẩy trách nhiệm và củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào chế độ. Sự công khai, minh bạch này chính là phương thức hữu hiệu nhất để triệt tiêu sự hoài nghi trong dư luận, trực tiếp làm giảm thiểu không gian tồn tại của các tin đồn thất thiệt và tin giả, qua đó củng cố vững chắc thế trận lòng dân và bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian số.
6. Kết luận
Trong hệ thống chính trị, MTTQ được khẳng định không chỉ là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn là một thiết chế giám sát và phản biện xã hội mang tính hiến định, đóng vai trò nòng cốt trong việc thiết lập cơ chế kiểm soát QLNN từ bên ngoài bộ máy nhà nước. Sự vận hành đồng bộ của cơ chế “tiền kiểm” và cơ chế “hậu kiểm” của MTTQ đã và đang góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn tình trạng lạm quyền, tham nhũng, lãng phí, bảo đảm QLNN được sử dụng đúng mục đích và thực sự phục vụ lợi ích của Nhân dân. Hoạt động kiểm soát QLNN của MTTQ Việt Nam có mối liên hệ hữu cơ, biện chứng với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi tiếng nói và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân được chuyển tải kịp thời vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, qua đó giúp thu hẹp khoảng cách giữa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với thực tiễn đời sống xã hội; củng cố niềm tin vững chắc của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; làm suy yếu và đập tan các luận điệu xuyên tạc, thù địch nhằm phủ nhận tính chính danh và nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây cũng chính là minh chứng thực tiễn sinh động nhất bác bỏ những âm mưu của các thế lực chống phá rằng Đảng không có khả năng tự đổi mới và kiểm soát QLNN của mình./.
[1] https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/1170602/phat-huy-vai-tro-kiem-soat-quyen-luc-nha-nuoc-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-trong-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap.aspx
[2] https://congan.sonla.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-quan-diem-sai-trai-va-giai-phap-trong-thoi-gian-toi/
[3] Trần Ngọc Đường: “KSQL nhà nước - Một yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 12 (2020), tr. 3-9
[4] Jon Pierre and B. Guy Peters: Governance, Politics and the State (Tạm dịch: Quản trị, chính trị và nhà nước), Palgrave Macmillan, London, 2000, tr. 14-15
[5] OECD: Open Government Review: Enhancing Civic Participation and Accountability (Tạm dịch: Đánh giá Chính phủ mở: Tăng cường sự tham gia và trách nhiệm giải trình của công dân), OECD Publishing, Paris, 2022, 44- 47.
[6] Đã tổ chức 6.558 hội nghị để thảo luận, lấy ý kiến; hệ thống MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã có 51.192.334 ý kiến góp ý (Dự thảo lần 4, Dự thảo báo cáo của Uỷ ban Trung ương MTTQVN tại đại biểu toàn quốc MTTQVN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2030)
[7] Tổng số: 417.338 ý kiến góp ý trực tiếp tại hội nghị lấy ý kiến cán bộ, đảng viên và Nhân dân, qua các hộithảo, tọa đàm khoa học, trong đó: (1) Tổng số hội nghị lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và Nhân dân: 28.497hội nghị; tổng số ý kiến góp ý tại hội nghị: 387.932 ý kiến. (2) Tổng số hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến góp ý của cán bộ, đảng viên và Nhân dân: 4.146 hội thảo; tổng số ý kiến góp ý tại hội thảo, tọa đàm: 29.406 ý kiến. Tổng số: 109.757 ý kiến góp ý bằng văn bản thông qua hệ thống thư, báo (Dự thảo lần 4, Dự thảo báo cáo của Uỷ ban Trung ương MTTQVN tại đại biểu toàn quốc MTTQVN lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2030)
[8] Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi), Luật Tổ chức chínhquyền địa phương (sửa đổi), Luật Di sản văn hóa, Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Phòng bệnh, Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.
[9] Dự thảo lần 4, Dự thảo báo cáo của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam tại đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2030.
[10] Dự thảo lần 4, Dự thảo báo cáo của Uỷ ban Trung ương MTTQVN tại đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2030.
[11] https://mattran.org.vn/chuong-trinh-phoi-hop/vai-tro-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-va-cac-to-chuc-chinh-tri-xa-hoi-trong-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-phan-bac-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-tren-khong-gian-mang-54486.html
[12] https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=772
TS. NGUYỄN THỊ THANH NGA
Khoa Luật, Học viện Chính trị CAND,
TS. VŨ ĐẶNG PHÚC
Khoa Lý luận chính trị, pháp luật, Trường Đại học Điện lực.

