Trong bài viết này, tác giả sẽ làm rõ một số tác động của Luật TTNT tới hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên phát triển, cung cấp hoặc triển khai, khai thác thương mại hệ thống TTNT. Đồng thời, HM&P cũng đưa ra một số khuyến nghị để doanh nghiệp tham khảo và xem xét triển khai trong giai đoạn thích nghi với khung pháp điều chỉnh hoạt động chuyên biệt này.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
1. Xác định vai trò /trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động TTNT
Để làm rõ vai trò và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động TTNT, Luật TTNT đã phân định từng đối tượng chủ thể cụ thể trên cơ sở với từng giai đoạn. Ở giai đoạn sơ khai, đối tượng được đề cập đến là nhà phát triển[1]. Nhà phát triển được hiểu là những cá nhân, tổ chức tác động trực tiếp đến toàn bộ hoặc một phần mô hình, thuật toán hoặc hệ thống TTNT, có quyền kiểm soát, tinh chỉnh chính sản phẩm trí tuệ họ làm ra. Sau khi sản phẩm TTNT được hoàn chỉnh, những nhà cung cấp[2] sẽ có vai trò thương mại hóa sản phẩm hoặc hệ thống TTNT tại các thị trường để công chúng, người có nhu cầu sử dụng được tiếp cận, sử dụng. Thực tế, nhà cung cấp có thể thực hiện phân phối này dưới tên hoặc thương hiệu của mình mà không phụ thuộc vào việc những chủ thể có trực tiếp phát triển hệ thống hay không. Tiếp đến là bên triển khai khi đây là chủ thể sử dụng hệ thống TTNT trong phạm vi kiểm soát để phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ. Cuối cùng là người sử dụng khi đây là đối tượng sử dụng phổ biến các nền tảng hệ thống TTNT nhằm phục vụ cho mục đích và nhu cầu của chính cá nhân đó.
Trong từng tình huống cụ thể, việc phân định rõ từng nhóm chủ thể giúp xác định chính xác phạm vi quyền, nghĩa vụ và mức độ trách nhiệm pháp lý của mỗi bên. Doanh nghiệp vì vậy cần chủ động xác định mình đang đảm nhiệm vai trò nào trong chuỗi giá trị AI để xây dựng cơ chế tuân thủ, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro phù hợp. Bởi lẽ, nếu không nhận diện đúng vai trò pháp lý của mình, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu trách nhiệm đối với những nghĩa vụ vốn thuộc về chủ thể khác, hoặc không kịp thời thực hiện các yêu cầu bắt buộc theo quy định của Luật TTNT 2025, dẫn đến nguy cơ bị xử lý vi phạm hoặc phát sinh tranh chấp, bồi thường thiệt hại.
2. Rà soát hoạt động ứng dụng TTNT
Một trong những bước chuẩn bị quan trọng kể từ thời điểm Luật TNTT có hiệu lực là doanh nghiệp cần tiến hành rà soát, kiểm tra toàn diện các hoạt động nghiên cứu, phát triển, cung cấp và triển khai hệ thống TTNT đang áp dụng. Việc rà soát này nhằm đối chiếu với các hành vi bị nghiêm cấm theo Điều 7 của Luật, kịp thời điều chỉnh hoặc loại bỏ các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Cụ thể, doanh nghiệp cần có bước đánh giá liệu hệ thống trí tuệ của mình có nguy cơ xâm phạm quyền con người, xâm phạm dữ liệu cá nhân hoặc bị sử dụng vào mục đích trái pháp luật hay không. Ví dụ, Công cụ AI được tích hợp trong sản phẩm tài chính nhưng đưa ra khuyến nghị tự động mà không có cơ chế giám sát của con người, gây thiệt hại cho khách hàng. Ở một số trường hợp phổ biến khác như thu thập, xử lý dữ liệu trái pháp luật về dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ để huấn luyện hoặc vận hành hệ thống TTNT; tạo nội dung có khả năng sản xuất hình ảnh, âm thanh giả mạo (deepfake) nhưng không có cơ chế kiểm soát hoặc cảnh báo, dẫn đến nguy cơ xâm phạm danh dự, uy tín của cá nhân khác.
3. Phân loại mức độ rủi ro của hệ thống TTNT
Hệ thống TTNT được phân loại theo 03 mức độ rủi ro, bao gồm:[3] (i) Hệ thống TTNT có rủi ro cao; (ii) Hệ thống TTNT có rủi ro trung bình; (iii) Hệ thống TTNT có rủi ro thấp. Việc phân loại sẽ dựa trên cơ sở các nhóm tiêu chí như mức độ tác động đến quyền con người; an toàn, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng; lĩnh vực sử dụng; phạm vi người sử dụng và quy mô hệ thống. Nguyên tắc xác định mức độ rủi ro này được quy định tại Điều 6 Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật TTNT và Phụ lục Quyết định về ban hành Danh mục hệ thống TTNT có rủi ro cao.
Theo đó, trước hết cần xác định liệu hệ thống TTNT của doanh nghiệp có thuộc trường hợp có rủi ro cao hay không. Trường hợp TTNT không thuộc trường hợp rủi ro cao sẽ được đánh giá tiếp để xác hệ thống đó có thuộc hệ thống TTNT có rủi ro trung bình hoặc thấp.
Tùy vào vai trò chủ thể, doanh nghiệp sẽ có những nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau. Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp là bên triển khai thì sẽ có trách nhiệm bảo đảm an toàn, nguyên vẹn của hệ thống trong quá trình sử dụng và phải phối hợp bên cung cấp để phân loại lại. Riêng đối với doanh nghiệp là đối tượng nhà cung cấp sẽ phải có nghĩa vụ tự phân loại trước khi đưa vào sử dụng. Do đó, doanh nghiệp phải xác định vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị và chủ động tự phân loại và quản lý theo mức độ rủi ro ngay từ đầu, đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ phát sinh tại quy định mới.
4. Tận dụng cơ chế ưu đãi của Nhà nước trong phát triển lĩnh vực TTNT
Bên cạnh các nghĩa vụ tuân thủ, Luật TTNT cũng thiết kế nhiều cơ chế ưu đãi và hỗ trợ nhằm thúc đẩy hình thành hệ sinh thái TTNT bền vững.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực AI được áp dụng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, công nghệ cao, chuyển đổi số và đầu tư [4]. Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận hạ tầng tính toán, nguồn dữ liệu và các môi trường thử nghiệm phục vụ nghiên cứu, phát triển sản phẩm. Nhà nước cũng định hướng phát triển thị trường thông qua việc ưu tiên sử dụng sản phẩm, giải pháp trí tuệ trong hoạt động đấu thầu, xây dựng sàn giao dịch công nghệ và bảo đảm môi trường thử nghiệm minh bạch, cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể. Nổi bật hơn là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được ghi nhận, học hỏi từ nhiều mô hình ở các quốc gia phát triển, cho phép các hệ thống trí tuệ mới được triển khai trong phạm vi, thời gian và điều kiện rủi ro được kiểm soát. Trên cơ sở kết quả thử nghiệm, doanh nghiệp có thể được xem xét miễn hoặc giảm một số nghĩa vụ tuân thủ nhất định, tạo dư địa linh hoạt cho hoạt động đổi mới sáng tạo [5].
Điều 22 Luật TNTT quy định việc thành lập Quỹ Phát triển TTNT Quốc gia, là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vận hành theo cơ chế linh hoạt và chấp nhận mức độ rủi ro phù hợp với đặc thù đổi mới sáng tạo. Quỹ này ưu tiên đầu tư vào phát triển hạ tầng AI, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu công nghệ lõi và hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp. Bên cạnh đó, chính sách còn bổ sung nhằm hỗ trợ chuyên biệt dành cho startup và doanh nghiệp nhỏ, bao gồm hỗ trợ chi phí đánh giá sự phù hợp, cung cấp công cụ tự đánh giá tuân thủ và tạo điều kiện tiếp cận các bộ dữ liệu dùng chung phục vụ phát triển hệ thống TTNT.
Các cơ chế ưu đãi và hỗ trợ nêu trên cho thấy khung pháp lý mới còn mở ra nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực AI. Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động cân nhắc chiến lược đầu tư và mở rộng hoạt động nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm cũng như thương mại hóa sản phẩm TTNT trong môi trường được khuyến khích và hỗ trợ từ Nhà nước.
Tóm lại, doanh nghiệp hiện đang sử dụng/ứng dụng TTNT, đặc biệt là những đối tượng doanh nghiệp chuyên triển khai, khai thác kinh doanh trên đối tượng TTNT cần hiểu rõ khung pháp lý hiện hành, đưa ra định hướng triển khai để khai thác tối ưu những ưu đãi từ chính sách mới của cơ quan nhà nước. Đồng thời, việc nắm bắt các quy định là cơ sở để doanh nghiệp tuân thủ những nguyên tắc, yêu cầu mới nhằm trách những rủi ro phát sinh đến trong quá trình ứng dụng, triển khai và kinh doanh trong lĩnh vực TTNT tại Việt Nam.
[1] Khoản 3 Điều 3 Luật TTNT.
[2] Khoản 4 Điều 3 Luật TTNT.
[3] Điều 9 Luật TTNT.
[4] Điều 20 Luật TTNT.
[5] Điều 21 Luật TTNT; Điều 24 Dự thảo nghị định Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật TTNT.
NGUYỄN VIỆT HÙNG
Công ty Luật TNHH HM&P.

