/ Trao đổi - Ý kiến
/ Doanh nghiệp và an toàn lao động: Từ xem nhẹ nghĩa vụ đến rủi ro pháp lý hình sự

Doanh nghiệp và an toàn lao động: Từ xem nhẹ nghĩa vụ đến rủi ro pháp lý hình sự

22/01/2026 07:10 |

(LSVN) - Theo báo cáo mới nhất về tình hình tai nạn lao động (6 tháng đầu năm 2025), trên cả nước đã xảy ra 2.569 vụ tai nạn lao động, làm 319 người thiệt mạng và 660 người bị thương nặng. Đáng chú ý, gần 40% số vụ tai nạn được xác định có nguyên nhân xuất phát từ phía doanh nghiệp, chủ yếu do không xây dựng quy trình làm việc an toàn, không bảo đảm điều kiện lao động và không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động theo quy định.[1] Điều này không chỉ kéo theo trách nhiệm hành chính, mà còn dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ doanh nghiệp và/hoặc người quản lý có trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động.

Xem nhẹ an toàn lao động - Nguyên nhân từ đâu?

Không ít chủ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), thường đặt mục tiêu ưu tiên là tối đa hóa lợi nhuận nhằm duy trì sự “sống sót” và phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh chi phí vận hành và áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng. Sự hạn chế về nguồn lực khiến nhiều doanh nghiệp không tìm đến chuyên gia tư vấn, từ đó thiếu góc nhìn pháp lý tổng thể, không nhận thức được nghĩa vụ của mình hoặc thậm chí cố tình trì hoãn, đối phó nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ pháp luật. Hệ quả là các nghĩa vụ mang tính phòng ngừa, ít phát sinh hậu quả tức thời như đảm bảo an toàn lao động, thường bị bỏ ngỏ hoặc xem nhẹ.

Khi tai nạn lao động chưa xảy ra, nhiều chủ doanh nghiệp – do chưa nhận thức đúng mức độ nguy hiểm của môi trường làm việc tại chính doanh nghiệp mình – thường có xu hướng đánh giá thấp hậu quả của việc không tuân thủ các quy định về an toàn lao động. Họ thường cho rằng, điều kiện làm việc tại cơ sở của mình đã “tương đối an toàn”, công việc mang tính lặp lại, ít phát sinh tai nạn trong quá khứ, hoặc người lao động đã quen với máy móc, quy trình vận hành nên rủi ro là không đáng kể. Chính sự quen thuộc trong hoạt động sản xuất – kinh doanh này tạo ra một cảm giác an toàn giả tạo, khiến chủ doanh nghiệp tin rằng không cần thiết phải đầu tư thêm cho công tác an toàn lao động hoặc chỉ thực hiện các biện pháp mang tính hình thức. Sự chủ quan kéo dài này biến những vi phạm tưởng chừng nhỏ lẻ thành rủi ro tích tụ, giống như một “quả bom nổ chậm” âm thầm tồn tại trong nội bộ doanh nghiệp.

Đến khi xảy ra tai nạn lao động, hậu quả phát sinh sẽ không chỉ dừng lại ở thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người lao động và chính doanh nghiệp; mà những thiếu sót trước đó trong việc tuân thủ các quy định về an toàn lao động sẽ trở thành căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp và thậm chí là người đứng đầu. Các hệ quả pháp lý phát sinh có thể vượt xa dự liệu của chủ doanh nghiệp, cả về mức độ xử phạt lẫn tác động lâu dài đến hoạt động và uy tín của doanh nghiệp.

Bảo đảm an toàn lao động - Là nghĩa vụ, không phải lựa chọn

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã thiết lập khung nghĩa vụ pháp lý đầy đủ và cụ thể đối với doanh nghiệp trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động. Các nghĩa vụ này không được quy định một cách chung chung hay mang tính khuyến nghị, mà được luật hóa rõ ràng, gắn với từng điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp.

Tùy theo lĩnh vực hoạt động, quy mô sản xuất – kinh doanh, đối tượng lao động, tính chất công việc, môi trường làm việc và mức độ nguy hiểm của máy móc, thiết bị…, doanh nghiệp buộc phải triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn tương ứng. Trong đó, có thể kể đến các nghĩa vụ cốt lõi như:

- Tổ chức bộ máy hoặc phân công nhân sự phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động;

- Trang bị phương tiện, thiết bị lao động đáp ứng tiêu chuẩn an toàn theo quy định;

- Xây dựng quy trình làm việc an toàn và biện pháp phòng ngừa rủi ro;

- Tổ chức huấn luyện an toàn lao động phù hợp với từng nhóm công việc, từng vị trí lao động;

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát và khắc phục kịp thời các nguy cơ mất an toàn.

Như vậy, nghĩa vụ bảo đảm an toàn lao động hiện nay đã được pháp luật quy định rõ ràng cả về nội dung, phạm vi và cách thức thực hiện. Doanh nghiệp không thể viện dẫn lý do “không biết”, “không rõ” hay “chưa kịp thực hiện” để thoái thác nghĩa vụ khi có thanh tra, kiểm tra hay xảy ra sự cố. Trong quan hệ lao động, doanh nghiệp là chủ thể nắm quyền tổ chức, điều hành và kiểm soát điều kiện làm việc, vì vậy pháp luật đặt lên doanh nghiệp nghĩa vụ chủ động phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ xử lý hậu quả khi sự cố đã xảy ra. Việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện mang tính hình thức các nghĩa vụ này đều được xem là hành vi vi phạm pháp luật và là tiền đề dẫn đến trách nhiệm pháp lý ở các mức độ khác nhau.

Vi phạm an toàn lao động - Từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự

Tương ứng với hệ thống nghĩa vụ chặt chẽ nêu trên, pháp luật Việt Nam cũng thiết lập cơ chế chế tài nghiêm khắc, nhằm bảo đảm các quy định về an toàn lao động không chỉ tồn tại trên giấy. Tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả phát sinh, trách nhiệm pháp lý có thể dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính, hoặc chuyển hóa thành trách nhiệm hình sự.

Ở mức độ xử phạt hành chính, doanh nghiệp có thể bị áp dụng các biện pháp như: phạt tiền; thanh toán chi phí y tế, trợ cấp, bồi thường cho người lao động… Không chỉ dừng lại ở đó, cần lưu ý rằng khi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động là hoàn toàn có thể xảy ra. Theo quy định, người vi phạm có thể bị xử phạt từ phạt tiền, cải tạo không giam giữ cho đến phạt tù lên tới 12 năm. (Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Thạc sĩ, Luật sư Lê Ngô Hoài Phong, Trưởng Văn phòng luật sư Phong & Partners.

Thạc sĩ, Luật sư Lê Ngô Hoài Phong, Trưởng Văn phòng luật sư Phong & Partners.

 

Một ví dụ điển hình đó là vụ việc xảy ra tại Công ty TNHH LT, được xét xử tại Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hải Phòng[2]. Theo đó, Công ty giao cho ông Nguyễn Văn B nhiệm vụ quản lý, phân công công việc và trực tiếp phụ trách công tác bảo đảm an toàn lao động. Trong quá trình làm việc, do không tổ chức huấn luyện an toàn lao động, không hướng dẫn và cảnh báo đầy đủ về các nguy cơ mất an toàn trong quá trình vận hành máy móc, nên đã dẫn đến xảy ra tai nạn lao động nghiêm trọng khiến một công nhân tử vong khi vận hành máy tái chế tạo mút xốp.

Về phía doanh nghiệp, Công ty TNHH LT đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định của pháp luật, theo điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP.

Tuy nhiên, do hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra là làm chết người, vụ việc không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính mà đã được đưa ra xét xử hình sự. Tòa án xác định trách nhiệm hình sự thuộc về ông Nguyễn Văn B, là người được phân công trực tiếp phụ trách công tác an toàn lao động nhưng đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định, đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về an toàn lao động theo điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án quyết định tuyên xử ông Nguyễn Văn B 18 tháng cải tạo không giam giữ. Ngoài ra, Tòa án cũng làm rõ lý do không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với giám đốc trong vụ việc, là vì giám đốc công ty đã có văn bản phân công cụ thể trách nhiệm bảo đảm an toàn lao động cho ông Nguyễn Văn B.

Như vậy, quy định pháp luật và thực tiễn xét xử cho thấy, khi tai nạn lao động xảy ra, ngoài xử phạt hành chính đối với doanh nghiệp, pháp luật còn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người được phân công trực tiếp phụ trách công tác an toàn lao động. Trường hợp doanh nghiệp không có sự phân công rõ ràng, cụ thể, thì giám đốc hoặc tổng giám đốc – với tư cách là người điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp, bao gồm cả việc thực thi các quy định về an toàn, vệ sinh lao động – hoàn toàn có nguy cơ phải chịu trách nhiệm theo Điều 295 Bộ luật Hình sự.

Đây chỉ là một trong rất nhiều vụ án liên quan đến vi phạm quy định về an toàn lao động đã được các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra xét xử. Chỉ trong năm 2025, đã có hơn 80 cá nhân bị tuyên án hình sự liên quan đến vi phạm quy định về an toàn lao động[3]. Tất cả đều cho thấy một thông điệp pháp lý rõ ràng: pháp luật không chỉ đặt trách nhiệm đảm bảo an toàn lao động lên doanh nghiệp, mà còn đặt trách nhiệm trực tiếp lên từng cá nhân có nhiệm vụ đảm bảo an toàn lao động trong quá trình hoạt động kinh doanh.

Hồi chuông cảnh tỉnh - Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Những vụ án liên quan đến vi phạm quy định về an toàn lao động trong thời gian qua đã phát đi một hồi chuông cảnh tỉnh rõ ràng đối với cộng đồng doanh nghiệp, rằng việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động không chỉ nhằm tránh các chế tài xử phạt đối với doanh nghiệp, mà còn để bảo vệ chính những người giữ vai trò quản lý, điều hành trước nguy cơ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong bối cảnh đó, việc chủ động xây dựng và thực thi các quy trình an toàn lao động một cách thực chất, phân định rõ trách nhiệm, tổ chức đào tạo – huấn luyện định kỳ cho người lao động và kiểm soát sớm các rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh chính là cách tiếp cận “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Bởi lẽ, những khoản đầu tư cho công tác phòng ngừa này, xét trên tổng thể, luôn thấp hơn rất nhiều so với cái giá mà doanh nghiệp phải trả khi tai nạn lao động xảy ra.

Khi sự cố phát sinh, doanh nghiệp không chỉ đối mặt với các chi phí tố tụng, xử phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí y tế cho người lao động… mà còn phải tiêu tốn rất nhiều thời gian và công sức để làm việc với cơ quan chức năng, xử lý khủng hoảng nội bộ, khắc phục hậu quả và ổn định lại hoạt động sản xuất, kinh doanh. Những tổn thất này, trên thực tế, có thể kéo dài và để lại hệ lụy lâu dài cho uy tín, nhân sự, tài chính và sự vận hành của doanh nghiệp.

Từ góc độ đó, bảo đảm an toàn lao động không nên bị xem là một khoản chi phí cần cắt giảm, mà cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư chiến lược, góp phần gìn giữ sự ổn định, bền vững của doanh nghiệp trong dài hạn. Đầu tư cho an toàn lao động, không chỉ là để bảo vệ người lao động, mà còn là để bảo vệ chính doanh nghiệp và đội ngũ lãnh đạo.

[1] Thông báo số 7170/TB/BNV ngày 27/08/2025 của Bộ Nội vụ về Tình hình tai nạn lao động 6 tháng đầu năm 2025;

[2] Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân quận A., Thành phố Hải Phòng; https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1742010t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 20/01/2026;

[3] Dữ liệu tổng hợp trên trang Công bố bản án, https://congbobanan.toaan.gov.vn/, truy cập ngày 20/01/2026. 

Thạc sĩ, Luật sư Lê NGÔ HOÀI PHONG

VŨ THỊ LAN