Theo Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Anh (Giảng viên Trường ĐH Gia Định), trong vụ việc này có 2 vấn đề pháp lý được đặt ra. Vấn đề thứ nhất là về thủ tục tố tụng. Khoản 3, Điều 68 của BLTTDS 2015 quy định về đương sự trong vụ việc dân sự như sau: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”.
Như vậy, việc nguyên đơn ông Hoàng Trọng Quỳnh khởi kiện Ngân hàng T. là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Tòa sơ thẩm xác định ngân hàng là bị đơn theo đơn khởi kiện của ông Quỳnh là phù hợp với quy định pháp luật.

Thạc sĩ, Luật sư Phạm Ngọc Anh (Giảng viên Trường ĐH Gia Định).
Về bản án phúc thẩm, trước hết cần xem xét về phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 BLTTDS 2015: “Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”.
Tại bản án sơ thẩm, tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh. Buộc bị đơn là Ngân hàng T. trả lại 120 triệu đồng, người có quyền và nghĩa vụ liên vụ liên quan là ông Lê Anh Vũ trả lại 330 triệu.
Trong vụ án này chỉ có ngân hàng kháng cáo. Như vậy trong phạm vi xét xử, tòa cấp phúc thẩm cũng chỉ được chấp nhận hoặc không chấp nhận phần kháng cáo của ngân hàng, không được xem xét yêu cầu khởi kiện ông Quỳnh đối với ông Lê Anh Vũ.
Trong trường hợp xét thấy cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì HĐXX phúc thẩm áp dụng quy định tại Điều 310 BLTTDS 2015 để hủy toàn bộ hoặc một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tuy nhiên, bản án phúc thẩm lại tuyên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ngân hàng và sửa bản án sơ thẩm “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Trọng Quỳnh về việc tranh chấp về đòi tài sản đối với bị đơn (Ngân hàng T.) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Anh Vũ”.
Bản án phúc thẩm tuyên như vậy là chưa đúng thẩm quyền, dẫn đến hậu quả là ông Quỳnh không thể lấy lại được tiền đã chuyển nhầm và cũng không thể khởi kiện lại vụ án khác, làm cho ông Quỳnh không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình; quyền, lợi ích hợp pháp của ông không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật.
Vấn đề thứ 2 cần đề cập trong vụ án này là về nội dung vụ kiện. Cần phân biệt rõ hai quan hệ pháp luật độc lập tồn tại trong trường hợp này: một là quan hệ giữa Ngân hàng T. và ông Lê Anh Vũ, hai là quan hệ sở hữu tài sản của ông Hoàng Trọng Quỳnh đối với số tiền 450 triệu chuyển nhầm vào tài khoản của ông Lê Anh Vũ.
Theo quy định tại Điều 221 BLDS 2015, quyền sở hữu chỉ được xác lập trên các căn cứ do pháp luật quy định như giao dịch dân sự hợp pháp, lao động tạo ra tài sản, chiếm hữu tài sản vô chủ hoặc không xác định được chủ sở hữu…
Việc ông Hoàng Trọng Quỳnh chuyển nhầm tiền cho ông Lê Anh Vũ không làm phát sinh quyền sở hữu đối với số tiền chuyển nhầm, tức là quyền sở hữu số tiền 450 triệu vẫn thuộc quyền sở hữu của ông Quỳnh. Căn cứ Điều 579 BLDS 2015, ông Lê Anh Vũ là người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật và có nghĩa vụ hoàn trả.
Về phía ngân hàng T., mặc dù đã có thoả thuận được quyền trích nợ từ tài khoản của ông Lê Anh Vũ, nhưng việc trích nợ này phải trên cơ sở số tiền trích nợ là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Vũ. Việc ngân hàng trích nợ từ tài sản của người không có nghĩa vụ trả nợ là xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu của chủ tài sản, làm phát sinh trách nhiệm pháp lý đối với ngân hàng.
Ngay khi ông Quỳnh có thông báo và yêu cầu tra soát về giao dịch chuyển nhầm số tiền nói trên vào tài khoản ông Vũ gửi đến phía Ngân hàng T. thì ngân hàng phải có nghĩa vụ phối hợp xử lý và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để ngăn ngừa hậu quả pháp lý phát sinh.
Tóm lại, bản án của toà án cấp sơ thẩm xác định Ngân hàng T. là bị đơn và buộc có nghĩa vụ trả lại cho ông Quỳnh số tiền 120 triệu đã trích thu là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nguyên tắc của pháp luật dân sự.
Trong khi đó, Luật sư Trương Nguyễn Công Nhân (Công ty Luật TNHH MTV Nhân Việt, Đoàn Luật sư TP. HCM) cho rẳng tòa cấp phúc thẩm nhận định cấp sơ thẩm xác định sai tư cách tố tụng là có cơ sở. Tuy nhiên, việc tòa phúc thẩm tuyên chấp nhận kháng cáo của ngân hàng là không đúng.

Luật sư Trương Nguyễn Công Nhân (Công ty Luật TNHH MTV Nhân Việt, Đoàn Luật sư TP. HCM).
Cụ thể, Luật sư Nhân đồng ý với cách xác định tư cách tố tụng của tòa án cấp phúc phẩm, ông Vũ là bị đơn còn Ngân hàng T. là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Việc xác định sai tư cách tố tụng ở cấp sơ thẩm, được xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tục theo quy định của BLTTDS.
Tuy nhiên, từ những nhận định này, Tòa cấp phúc thẩm lại tuyên chấp nhận kháng cáo của ngân hàng, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh là trái với khoản 2 Điều 310 BLTTDS. Mà lẽ ra, tòa án cấp phúc thẩm phải tuyên hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Nhận định về vụ án này, một thẩm phán tại TP. HCM cho rằng Bản án phúc thẩm số 11/2024/DSST ngày 11/03/2024 của TAND tỉnh B. đã tuyên không rõ ràng dẫn đến việc loại trừ luôn quyền khởi kiện của đương sự.
Bản án phúc thẩm trên mặc dù nhận định ông Quỳnh khởi kiện bị đơn Ngân hàng T. là sai tư cách tố tụng nhưng tại phần quyết định lại tuyên “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Trọng Quỳnh về việc “tranh chấp về đòi tài sản” đối với bị đơn (Ngân hàng T.) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Anh Vũ”.
Điều này dẫn đến cách hiểu là bản án phúc thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh cả về mặt nội dung chứ không chỉ về mặt tư cách tố tụng. Hậu quả pháp lý của bán án này là ông Quỳnh không thể khởi kiện lại ông Vũ bằng một vụ kiện khác.
Và trên thực tế khi ông Quỳnh khởi kiện lại ông Vũ thì TAND thành phố T. (tỉnh B.) và TAND tỉnh B. đã nhận định yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 của BLTTDS và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh.
Các chuyên gia đều nhận định, trường hợp này, nguyên đơn có quyền đề nghị các Cơ quan có thẩm quyền xem xét, kháng nghị giám đốc thẩm bản án để đàm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tóm tắt vụ án:
Ngày 17/01/2022, Ông Hoàng Trọng Quỳnh (trú tại TP. HCM) chuyển khoản nhầm 450 triệu đồng sang tài khoản T. của ông Lê Anh Vũ. Khi biết chuyển nhầm, ông Quỳnh ngay lập tức thông báo và đề nghị hỗ trợ. Tuy nhiên, phía Ngân hàng T. trả lời không có cơ sở để chuyển lại do không liên hệ được với ông Vũ.
Do ông Vũ nợ tín dụng ở Ngân hàng T. nên khi tài khoản nhận 450 triệu đồng, ngân hàng tự động trích thu nợ 120 triệu đồng, hiện trong tài khoản ông Vũ vẫn còn 330 triệu đồng.
Ông Quỳnh sau đó khởi kiện, yêu cầu bị đơn là Ngân hàng T. trả lại 120 triệu đồng, ông Vũ là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trả 330 triệu đồng. Xét xử sơ thẩm, TAND thành phố T. chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quỳnh.
Ngân hàng T. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, TAND tỉnh B. xác định ông Quỳnh khởi kiện ngân hàng là bị đơn là sai tư cách tố tố tụng. Cấp phúc thẩm tuyên là chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ngân hàng, không chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn.
Ông Quỳnh sau đó đi kiện lại bị đơn là ông Vũ, ngân hàng là người liên quan, tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đều đình chỉ giải quyết vì cho rằng vụ việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực.
Mới đây, ông Quỳnh đã có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm gửi đến Viện trưởng VKSND Tối cao và Chánh án TAND Tối cao đề nghị hủy bản án phúc thẩm trên.
AN BÌNH

