Tại Hội nghị, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hải Phòng Lê Anh Quân công bố Quyết định 5455/QĐ ngày 31/12/2025 của UBND TP. Hải Phòng phê duyệt điều chỉnh quy hoạch TP. Hải Phòng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đó, xác định mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng và phát triển Hải Phòng trở thành thành phố Cảng công nghiệp hiện đại, văn minh, sinh thái và đáng sống tầm cỡ khu vực Đông Nam Á; tiên phong trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; là trung tâm kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, dịch vụ - logistics và năng lượng sạch hàng đầu cả nước, trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ biển; đi đầu trong xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội gắn với con người xã hội chủ nghĩa.
Đến năm 2050, Hải Phòng là thành phố Cảng công nghiệp hiện đại, thông minh, sinh thái kết nối toàn cầu và đáng sống tầm cỡ thế giới; là trung tâm kinh tế biển, trung tâm cảng biển, logistics trọng điểm quốc gia và quốc tế, trung tâm du lịch chất lượng cao, trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ nhất là khoa học - công nghệ biển; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao ngang tầm với các thành phố hàng đầu châu Á và thế giới.

Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP. Hải Phòng Lê Anh Quân phát biểu tại Hội nghị.
Theo quy hoạch, Hải Phòng ưu tiên phát triển các ngành chủ lực có vai trò dẫn dắt tăng trưởng: công nghiệp điện tử - công nghiệp thông tin - công nghệ cao; dịch vụ cảng biển - logistics - thương mại quốc tế; thương mại và dịch vụ đô thị hiện đại, hình thành chuỗi giá trị khép kín công nghiệp - logistics - thương mại - dịch vụ. Thành phố khuyến khích phát triển nhóm ngành kinh tế đặc trưng như: du lịch biển - đảo và dịch vụ nghỉ dưỡng; kinh tế biển xanh và thủy sản bền vững; văn hóa, thể thao, giải trí và ẩm thực đô thị cảng.
TP. Hải Phòng sẽ quan tâm phát triển các nhóm ngành mới nổi, có tiềm năng tăng trưởng cao như: công nghiệp công nghệ số và chuyển đổi số; năng lượng tái tạo và công nghiệp xanh; dịch vụ sáng tạo, tài chính số và công nghiệp nội dung số; kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái và logistics xanh; nhóm ngành dịch vụ hỗ trợ và liên kết chuỗi giá trị.
Cùng với đó, Hải Phòng tiếp tục duy trì hợp lý, hiệu quả, bền vững các ngành kinh tế truyền thống và quản trị quá trình chuyển đổi: công nghiệp đóng tàu và cơ khí chế tạo; dệt may - da giày; vận tải biển; nông nghiệp và thủy sản. Các lĩnh vực giáo dục - y tế - khoa học công nghệ - văn hóa - an sinh xã hội được đặt ngang tầm phát triển kinh tế, thể hiện rõ định hướng phát triển vì con người, vì chất lượng sống.

Quang cảnh Hội nghị.
Hải Phòng xác định phát triển với 4 khu vực động lực: cảng biển - logistics quốc tế theo trục Đình Vũ - Lạch Huyện - Cát Hải, Nam Đồ Sơn; Công nghiệp xanh, thông minh tập trung tại phía Đông, Khu kinh tế ven biển phía Nam là hạt nhân; Du lịch biển đảo Cát Bà - Đồ Sơn - Trung tâm đô thị Hải Phòng và du lịch văn hóa - tâm linh - sinh thái gắn với Di sản văn hóa thế giới Côn Sơn - Kiếp Bạc; Trung tâm chính trị - hành chính thành phố làm hạt nhân và phát triển đô thị dọc 2 bờ sông Cấm.
Về phát triển các khu chức năng, Hải Phòng sẽ hình thành tứ giác phát triển kinh tế chiến lược: Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải; Khu kinh tế ven biển phía Nam Hải Phòng; Khu kinh tế chuyên biệt Hải Phòng và Khu kinh tế phía Bắc.
Quy hoạch cũng nêu rõ các phương án quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn; phương án phát triển các khu chức năng; phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật; định hướng sử dụng đất; phương án bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu; phương án bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản...

Một góc đô thị trung tâm TP. Hải Phòng.
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Hải Phòng xác định 15 nhiệm vụ trọng tâm và 3 khâu đột phá về thể chế, kết cấu hạ tầng chiến lược, hiện đại và đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao. Quy hoạch cũng chỉ rõ 7 giải pháp để thực hiện quy hoạch: nguồn lực; phát triển nguồn nhân lực; cơ chế, chính sách liên kết phát triển; môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính nhà nước.
Nguồn lực để thực hiện quy hoạch từ: vốn ngân sách, vốn từ khu vực đầu tư nước ngoài, vốn từ khu vực trong nước và đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư theo hình thức hợp tác công tư.
Quy hoạch này là cơ sở để triển khai thực hiện quy hoạch, lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch đô thị và nông thôn, các quy hoạch chuyên ngành.

