/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Hệ tiêu chí văn hóa trong xây dựng xã, phường XHCN ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

Hệ tiêu chí văn hóa trong xây dựng xã, phường XHCN ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

28/05/2026 12:16 |

(LSVN) - Trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng xác định xây dựng xã, phường XHCN là không gian quan trọng nhất để hiện thực hóa các đặc trưng của CNXH Việt Nam, văn hóa được coi là nền tảng tinh thần, động lực nội sinh cốt lõi của mô hình này.

Bài viết làm rõ cơ sở lý luận của hệ tiêu chí văn hóa từ tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và yêu cầu quản trị hiện đại trong kỷ nguyên phát triển mới. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất 5 tiêu chí văn hóa cụ thể, khả thi, có thể đo lường tại cấp xã/phường: (1) Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; (2) Xây dựng con người XHCN phát triển toàn diện; (3) Môi trường văn hóa cộng đồng nhân văn, gắn kết; (4) Văn hóa quản trị cơ sở minh bạch, dân chủ, phục vụ nhân dân; (5) Tích hợp chuyển đổi số và sáng tạo văn hóa. Các tiêu chí này không chỉ góp phần cụ thể hóa 8 đặc trưng CNXH Việt Nam mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc thí điểm, hoạch định chính sách và giáo dục lý luận ở cấp cơ sở. Kết quả nghiên cứu khẳng định văn hóa là yếu tố then chốt quyết định chất lượng sống và niềm tin xã hội trong mô hình xã, phường XHCN.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới sau thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 01/2026), việc xây dựng xã, phường XHCN đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược mang tính khoa học và thực tiễn sâu sắc, được đặt ra một cách cấp thiết tại Hội thảo khoa học “Xây dựng xã, phường XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Học viện CTQG HCM tổ chức vào tháng 5-2026. Báo cáo đề dẫn của PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện CTQG HCM, đã khẳng định rõ ràng và sâu sắc: “xã, phường là cấp chính quyền gần dân nhất, là không gian quan trọng nhất để chuyển hóa các nguyên lý và đặc trưng của CNXH Việt Nam từ tầm nhìn vĩ mô thành thực tiễn cụ thể, nơi người dân trực tiếp cảm nhận chất lượng sống, hạnh phúc và công bằng xã hội” [1, tr. 3-4].

Quan điểm này không chỉ phản ánh sự kế thừa và phát triển sáng tạo đường lối của Đảng qua các kỳ Đại hội XII (2016), XIII (2021) mà còn thể hiện bước đột phá trong tư duy lý luận tại Đại hội XIV, khi Đảng xác định rõ 8 đặc trưng cơ bản của CNXH Việt Nam, trong đó văn hóa được nâng tầm vai trò nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh cốt lõi và động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh, bền vững. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” [3, tr. 67]. Đây là sự cụ thể hóa sâu sắc quan điểm của CNXH khoa học, theo đó văn hóa không chỉ là kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở kinh tế - xã hội mà còn là yếu tố phản tác động tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, như C.Mác và Ph.Ăngghen từng phân tích trong lý luận về hình thái kinh tế - xã hội.

Ngay từ đầu năm 2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững; phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người XHCN trong kỷ nguyên mới” [4, tr. 12]. Nghị quyết này kế thừa và phát triển tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đồng thời cụ thể hóa tinh thần Đại hội XIII và XIV, nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo và kỹ năng số. Từ góc nhìn liên ngành giữa CNXH khoa học và ngành Văn hóa học - Phát triển, văn hóa chính là “sức mạnh mềm” của dân tộc, là yếu tố quyết định chất lượng quản trị cơ sở và chất lượng sống của nhân dân trong bối cảnh chuyển đổi số, đô thị hóa nhanh chóng và hội nhập quốc tế sâu rộng.

PGS.TS Đặng Quang Định, trong tham luận tại Hội thảo, cũng đã làm rõ: “mô hình phường, xã XHCN phải hiện thực hóa bản chất tốt đẹp của chế độ ngay trong không gian sống hằng ngày của nhân dân, trong đó văn hóa là yếu tố then chốt để xây dựng cộng đồng nhân văn, gắn kết” [2, tr. 15-17]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa càng khẳng định giá trị bất hủ này khi Người dạy: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” và xã, phường là “nền tảng của hành chính”, nơi mọi chính sách phải đi vào đời sống cụ thể của nhân dân thông qua giáo dục đạo đức, xây dựng nếp sống mới và bảo tồn bản sắc dân tộc [5, tr. 89]. Trong bối cảnh năm 2026, khi Việt Nam đã vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện và thực hiện Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, bổ sung năm 2024, hiệu lực từ 01/7/2025) cùng các Thông tư hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Phòng Văn hóa - Xã hội cấp xã (Thông tư 10/2025/TT-BVHTTDL), việc xây dựng hệ tiêu chí văn hóa cụ thể cho xã, phường XHCN càng trở nên cấp thiết.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn khoảng trống lớn về hệ tiêu chí văn hóa cụ thể, khả thi, có thể đo lường và vận hành hiệu quả tại cấp xã/phường. Các tiêu chí văn hóa hiện hành chủ yếu mang tính định hướng vĩ mô, định tính, chưa được cụ thể hóa thành những chỉ số định lượng - định tính phù hợp với đặc thù nông thôn (bảo tồn giá trị làng xã, tình làng nghĩa xóm, lễ hội truyền thống, sinh kế văn hóa) và đô thị (văn minh đô thị, không gian công cộng nhân văn, văn hóa số, quản trị minh bạch). Trong khi đó, quá trình đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số và tác động của kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những thách thức mới: xói mòn một phần giá trị truyền thống, khoảng cách giàu nghèo về tiếp cận văn hóa, tình trạng “giàu vật chất, nghèo tinh thần” ở một số địa bàn, và yêu cầu cấp bách về xây dựng con người XHCN có đạo đức, trách nhiệm, sáng tạo trong kỷ nguyên số. Những hạn chế này đòi hỏi phải có hệ tiêu chí văn hóa khoa học, đồng bộ, khả thi cao để định hướng thí điểm mô hình xã, phường XHCN theo tinh thần gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về xây dựng thí điểm một xã, phường XHCN nhằm rút kinh nghiệm thực tiễn.

Từ góc nhìn CNXH khoa học kết hợp với khoa học văn hóa và phát triển, hệ tiêu chí văn hóa không chỉ là công cụ đo lường hiệu quả quản trị cơ sở mà còn là phương thức giáo dục lý luận sâu sắc, góp phần hiện thực hóa bản chất “dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” ngay từ cấp gần dân nhất. Việc xây dựng hệ tiêu chí này sẽ cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho giáo dục chính trị - tư tưởng, công tác tư tưởng văn hóa, đồng thời hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển địa phương, thí điểm mô hình quản trị cộng đồng hiện đại, lấy con người làm trung tâm và văn hóa làm nền tảng.

Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng qua các kỳ Đại hội XII, XIII, XIV cùng Nghị quyết 80-NQ/TW; đánh giá thực trạng văn hóa ở xã, phường hiện nay; và đề xuất hệ tiêu chí văn hóa cụ thể, khả thi nhằm góp phần làm rõ một khía cạnh quan trọng, cốt lõi của mô hình xã, phường XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới. Qua đó, bài viết không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng và thí điểm mô hình, nâng cao chất lượng sống của nhân dân và củng cố niềm tin xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng.

Nội dung

1. Cơ sở lý luận của hệ tiêu chí văn hóa trong mô hình xã, phường XHCN

Cơ sở lý luận của hệ tiêu chí văn hóa trong xây dựng xã, phường XHCN ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới được hình thành từ sự kế thừa và phát triển biện chứng ba nguồn tư tưởng cốt lõi: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, được cụ thể hóa qua các kỳ Đại hội Đảng gần đây cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Từ góc nhìn CNXH khoa học và văn hóa và phát triển, văn hóa không chỉ là kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở kinh tế - xã hội mà còn là động lực nội sinh mạnh mẽ, là “sức mạnh mềm” quyết định chất lượng quản trị cơ sở, chất lượng sống của nhân dân và sự bền vững của mô hình xã, phường XHCN.

Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định văn hóa là một trong ba mặt của hình thái kinh tế - xã hội, là “nền tảng tinh thần của xã hội” và phải phục vụ cho sự giải phóng con người, thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ. Trong điều kiện xây dựng CNXH, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng văn hóa không phải là sản phẩm tinh thần thuần túy mà là yếu tố phản tác động tích cực, góp phần hình thành con người mới XHCN. Trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam năm 2026, khi đất nước đã vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, quan điểm này càng mang tính thời sự sâu sắc: văn hóa cơ sở phải trở thành động lực để hiện thực hóa các đặc trưng của CNXH Việt Nam ngay từ cấp gần dân nhất.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò then chốt của văn hóa ở cấp cơ sở. Người khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” và xã, phường chính là “nền tảng của hành chính”. Theo Hồ Chí Minh, xây dựng đời sống văn hóa mới ở thôn xóm, phường xã phải gắn liền với giáo dục đạo đức cách mạng, giữ gìn bản sắc dân tộc và phục vụ nhân dân một cách thiết thực, cụ thể. Người dạy rằng mọi chính sách dù đúng đắn đến đâu cũng chỉ có giá trị khi được tổ chức thực hiện tốt ở cơ sở, nơi văn hóa cộng đồng được hình thành và nuôi dưỡng qua các thiết chế tự quản, các hoạt động lễ hội, giáo dục và sinh hoạt hàng ngày. Trong kỷ nguyên phát triển mới, tư tưởng này tiếp tục là kim chỉ nam để xây dựng hệ tiêu chí văn hóa, đảm bảo xã, phường không chỉ là đơn vị hành chính mà còn là không gian sống nhân văn, gắn kết, nơi con người XHCN được hình thành và phát triển toàn diện.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội XII (2016), XIII (2021) và đặc biệt là Đại hội XIV (tháng 1-2026) đã kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo những tư tưởng trên, đưa văn hóa lên vị trí chiến lược cao hơn bao giờ hết. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rõ: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” là một trong những đặc trưng cốt lõi của CNXH Việt Nam, đồng thời coi văn hóa là “nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực, sức mạnh nội sinh quan trọng trong phát triển nhanh và bền vững đất nước” [10, tr. 305]. Tiếp nối tinh thần đó, ngày 07/01/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” [9, tr. 12]. Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo và 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để cụ thể hóa hệ tiêu chí văn hóa tại cấp xã, phường.

Từ góc nhìn liên ngành giữa CNXH khoa học và khoa học văn hóa - phát triển, hệ tiêu chí văn hóa trong mô hình xã, phường XHCN phải đảm bảo tính khoa học, khả thi và đồng bộ, phù hợp với đặc thù nông thôn - đô thị trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. GS.TS Nguyễn Quốc Sửu đã chỉ ra rằng xã/phường XHCN phải là mô hình phát triển hiện đại, trong đó văn hóa là một trong sáu trụ cột nền tảng [4, tr. 23]. PGS.TS Vũ Thị Phương Hậu, trong tham luận tại Hội thảo tháng 5-2026, cũng khẳng định vai trò then chốt của văn hóa và con người trong việc xây dựng môi trường sống nhân văn, lành mạnh tại cơ sở [12, tr. 83-98]. Hệ tiêu chí này không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn cấp thiết để hiện thực hóa 8 đặc trưng của CNXH Việt Nam ngay từ cấp cơ sở, góp phần củng cố niềm tin xã hội và nâng cao chất lượng sống của nhân dân trong kỷ nguyên mới.

2. Thực trạng văn hóa ở xã, phường hiện nay và những vấn đề đặt ra

Sau hơn 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đời sống văn hóa ở cấp xã, phường đã đạt được nhiều tiến bộ rõ nét, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng tinh thần cho sự phát triển đất nước. Hệ thống thiết chế văn hóa từ nhà văn hóa thôn, bản, tổ dân phố đến trung tâm văn hóa - thể thao xã, phường được củng cố và nâng cấp đáng kể. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” do Đảng phát động từ những năm 1990 đến nay đã lan tỏa sâu rộng, trở thành động lực quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng nếp sống văn minh, đô thị văn minh. Nhiều giá trị làng xã, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống được khôi phục và phát huy hiệu quả, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa địa phương phong phú, đa dạng. Đến năm 2026, với việc Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, công tác bảo tồn di sản tại cơ sở đã được đẩy mạnh hơn, nhiều di tích lịch sử - văn hóa được số hóa và đưa vào khai thác du lịch cộng đồng bền vững [11, Điều 4, Điều 12].

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, đời sống văn hóa ở xã, phường vẫn tồn tại không ít hạn chế và thách thức cần được nhìn nhận một cách khách quan, khoa học. Sự xói mòn một phần giá trị văn hóa truyền thống là vấn đề nổi bật. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng và tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương thân tương ái, các lễ hội làng truyền thống ở một số địa bàn nông thôn đang có nguy cơ mai một hoặc bị thương mại hóa. Nhiều giá trị văn hóa dân gian bị mai một do sự xâm nhập của văn hóa đại chúng, mạng xã hội và lối sống cá nhân hóa. Đồng thời, sự chưa đồng bộ giữa phát triển kinh tế với xây dựng văn hóa đã dẫn đến tình trạng “giàu về vật chất, nghèo về tinh thần” ở không ít xã, phường, nơi người dân tập trung vào tích lũy kinh tế mà chưa chú trọng đủ đến giáo dục đạo đức, rèn luyện nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.

Một hạn chế khác là chuyển đổi số chưa được khai thác tối đa để xây dựng văn hóa số và quản trị văn hóa hiện đại. Mặc dù Nghị quyết 80-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực văn hóa, nhưng tại cấp cơ sở, nhiều xã, phường vẫn thiếu hạ tầng số, thiếu cán bộ có năng lực ứng dụng công nghệ để quản lý và lan tỏa giá trị văn hóa. Dịch vụ văn hóa trực tuyến, thư viện số, bảo tàng số còn hạn chế, dẫn đến khoảng cách tiếp cận văn hóa giữa các vùng miền, giữa nông thôn và đô thị vẫn còn lớn. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ và người dân còn thiếu ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn môi trường văn hóa cộng đồng. Tình trạng ô nhiễm môi trường sống, lấn chiếm không gian công cộng, các hành vi thiếu văn minh đô thị ở một số phường vẫn diễn ra, ảnh hưởng đến chất lượng sống và niềm tin xã hội.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan: cơ chế quản lý văn hóa còn chồng chéo, nguồn lực đầu tư cho văn hóa cơ sở còn hạn chế (dù Nghị quyết 80-NQ/TW đã quy định bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa), nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương về vai trò của văn hóa chưa sâu sắc, và tác động của toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi nhanh chóng cấu trúc xã hội và nhu cầu văn hóa của nhân dân. Trong bối cảnh xây dựng xã, phường XHCN theo tinh thần gợi mở của Tổng Bí thư Tô Lâm và Hội thảo tháng 5-2026, những vấn đề này đòi hỏi phải có hệ tiêu chí văn hóa cụ thể, khoa học, khả thi, có khả năng đo lường và vận hành hiệu quả tại cấp cơ sở. Hệ tiêu chí đó không chỉ giúp khắc phục những hạn chế hiện nay mà còn định hướng cho việc thí điểm mô hình xã, phường XHCN, góp phần hiện thực hóa các đặc trưng của CNXH Việt Nam một cách thiết thực, gần dân và vì dân.

3. Đề xuất hệ tiêu chí văn hóa

Dựa trên cơ sở lý luận vững chắc từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội XII, XIII, XIV cùng Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, kết hợp chặt chẽ với thực tiễn quản trị cơ sở trong bối cảnh kỷ nguyên phát triển mới năm 2026, bài viết đề xuất hệ tiêu chí văn hóa gồm 5 tiêu chí chính, có tính khoa học, khả thi cao và khả năng đo lường cụ thể. Hệ tiêu chí này không chỉ là công cụ định hướng mà còn là cơ sở để thí điểm, đánh giá và nhân rộng mô hình xã, phường XHCN, đảm bảo văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, động lực nội sinh và sức mạnh mềm của cộng đồng cơ sở, góp phần hiện thực hóa 8 đặc trưng của CNXH Việt Nam ngay từ cấp gần dân nhất.

Tiêu chí thứ nhất là văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xã, phường XHCN phải trở thành không gian sống bảo tồn và phát huy tối đa các giá trị văn hóa dân gian, lễ hội truyền thống, làng nghề thủ công, tri thức bản địa và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là những giá trị tiến bộ của cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số. Trong bối cảnh Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, tiêu chí này đòi hỏi mỗi xã, phường phải xây dựng kế hoạch bảo tồn cụ thể, số hóa di sản và khai thác giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Ở nông thôn, trọng tâm là giữ gìn tình làng nghĩa xóm, lễ hội làng, làng nghề; ở đô thị là xây dựng văn minh đô thị, không gian công cộng mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Chỉ số đo lường bao gồm: Tỉ lệ di tích, di sản được bảo tồn và khai thác hiệu quả (đạt ít nhất 80%); số lượng sản phẩm văn hóa sáng tạo mang bản sắc địa phương được công nhận và đưa vào chuỗi giá trị kinh tế văn hóa; mức độ hài lòng của người dân về việc bảo tồn bản sắc văn hóa (khảo sát định kỳ đạt trên 85%). “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” [13, tr. 305] chính là định hướng cốt lõi để tiêu chí này trở thành động lực nội sinh cho sự phát triển của xã, phường XHCN.

Tiêu chí thứ hai là xây dựng con người XHCN phát triển toàn diện. Đây là nội dung cốt lõi của CNXH khoa học, coi con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển. Xã, phường phải tập trung giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống văn minh, ý thức công dân, kỹ năng sống, văn hóa số và khát vọng vươn lên cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trẻ em và các nhóm yếu thế. Trong năm 2026, khi Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người XHCN trong kỷ nguyên mới”, tiêu chí này yêu cầu xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng thường xuyên, tích hợp nội dung giáo dục chính trị - tư tưởng vào hoạt động văn hóa cơ sở, phát triển thư viện số, điểm bình dân học vụ số và các mô hình rèn luyện đạo đức. Chỉ số đo lường cụ thể: tỷ lệ người dân tham gia các hoạt động giáo dục văn hóa, rèn luyện đạo đức đạt trên 70%; mức độ hài lòng về môi trường giáo dục, rèn luyện nhân cách (khảo sát đạt trên 80%); số lượng thanh niên, trẻ em tham gia các phong trào văn hóa, thể thao, sáng tạo số. Tiêu chí này đảm bảo con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực trực tiếp của sự phát triển xã, phường XHCN.

Tiêu chí thứ ba là môi trường văn hóa cộng đồng nhân văn, gắn kết. Xã, phường phải xây dựng không gian sống văn minh, xanh - sạch - đẹp, với hệ thống không gian công cộng chất lượng cao, tổ tự quản hoạt động hiệu quả, thúc đẩy tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết các dân tộc và các tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh chuyển đổi số và đô thị hóa, tiêu chí này đòi hỏi phát triển các mô hình “cộng đồng số nhân văn”, khuyến khích người dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước văn hóa mới phù hợp với pháp luật. Chỉ số đo lường: số lượng hoạt động cộng đồng văn hóa - thể thao được tổ chức hàng năm (tối thiểu 12 hoạt động/xã, phường); mức độ hài lòng của người dân về không khí cộng đồng và môi trường sống (khảo sát đạt trên 85%); tỷ lệ tổ tự quản đạt chuẩn “tổ dân phố văn minh”. Tiêu chí này góp phần cụ thể hóa đặc trưng “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” ngay tại cấp cơ sở.

Tiêu chí thứ tư là văn hóa quản trị cơ sở minh bạch, dân chủ, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên và chính quyền xã, phường phải gương mẫu về đạo đức công vụ, công khai minh bạch thông tin, lắng nghe ý kiến nhân dân và phục vụ nhân dân một cách thiết thực, hiệu quả. Đây là yêu cầu trực tiếp từ tinh thần “dân chủ XHCN thực chất” được nêu trong Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết 80-NQ/TW. Chỉ số đo lường: tỷ lệ thủ tục hành chính được giải quyết đúng hạn và trước hạn (đạt trên 95%); mức độ hài lòng của người dân đối với hoạt động của chính quyền cơ sở (khảo sát định kỳ đạt trên 90%); tỷ lệ khiếu nại, tố cáo liên quan đến cán bộ cơ sở giảm hàng năm. Tiêu chí này đảm bảo văn hóa quản trị trở thành yếu tố then chốt củng cố niềm tin xã hội và hiện thực hóa bản chất “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Tiêu chí thứ năm là tích hợp chuyển đổi số và sáng tạo văn hóa. Xã, phường phải xây dựng chính quyền số, dịch vụ văn hóa số, ứng dụng công nghệ để bảo tồn, lan tỏa và sáng tạo giá trị văn hóa, góp phần xây dựng kinh tế văn hóa và công nghiệp văn hóa địa phương. Trong bối cảnh năm 2026, khi chuyển đổi số được đẩy mạnh toàn diện theo tinh thần Đại hội XIV, tiêu chí này yêu cầu mỗi xã, phường phải có nền tảng số cơ bản, thư viện điện tử, bảo tàng số và các sản phẩm văn hóa số mang bản sắc địa phương. Chỉ số đo lường: tỷ lệ dịch vụ văn hóa công trực tuyến đạt trên 80%; số lượng sản phẩm sáng tạo văn hóa số được công nhận và phổ biến; tỷ lệ người dân sử dụng nền tảng số để tiếp cận văn hóa đạt trên 70%. Các tiêu chí này có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, bổ trợ lẫn nhau, có thể kết hợp định lượng và định tính, phù hợp với đặc thù nông thôn (bảo tồn bản sắc, sinh kế văn hóa) và đô thị (văn minh đô thị, sáng tạo số), tạo nền tảng khoa học cho việc thí điểm và nhân rộng mô hình xã, phường XHCN.

Kết luận

Hệ tiêu chí văn hóa được đề xuất trong bài viết là sự cụ thể hóa sâu sắc và khoa học quan điểm của Đảng về vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa trong xây dựng xã, phường XHCN. Qua phân tích cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện Đại hội XII, XIII, XIV cùng Nghị quyết 80-NQ/TW, kết hợp với đánh giá thực trạng và bối cảnh phát triển mới năm 2026, hệ tiêu chí đã làm rõ giá trị cốt lõi: văn hóa không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực nội sinh, là “sức mạnh mềm” quyết định chất lượng quản trị cơ sở và chất lượng sống của nhân dân. Việc áp dụng hệ tiêu chí này sẽ góp phần quan trọng vào việc thí điểm mô hình xã, phường XHCN theo tinh thần gợi mở của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nâng cao chất lượng quản trị cơ sở, xây dựng con người và cộng đồng văn minh, nhân văn, hạnh phúc, gắn kết.

Kết quả nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học cho các địa phương hoạch định chính sách phát triển văn hóa cơ sở, giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong thời gian tới, cần tiếp tục tổ chức thí điểm hệ tiêu chí tại một số xã, phường tiêu biểu, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành giữa CNXH khoa học và khoa học văn hóa - phát triển. Chỉ khi văn hóa thực sự thấm sâu vào đời sống hàng ngày của nhân dân, mô hình xã, phường XHCN mới thực sự trở thành không gian sống đáng tin cậy, nơi lý tưởng chính trị được hiện thực hóa thành chất lượng sống và niềm tin xã hội vững chắc, góp phần đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới, phồn vinh, hạnh phúc, văn minh.

Tài liệu tham khảo

[1] Đoàn Minh Huấn. Báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học “Xây dựng xã/phường XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Kỷ yếu Hội thảo, Học viện CTQG HCM, Hà Nội, tháng 5-2026.

[2] Đặng Quang Định. Nội hàm của mô hình phường, xã XHCN ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Kỷ yếu Hội thảo, Học viện CTQG HCM, Hà Nội, tháng 5-2026.

[3], [10] Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. NXB CTQGST, Hà Nội, 2026.

[4], [14] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

[5] Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 5. NXB CTQG, Hà Nội, 2011.

[6] Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, 2014.

[7] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Thông tư số 10/2025/TT-BVHTTDL hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Phòng Văn hóa - Xã hội cấp xã, 2025.

[8], [15] Quốc hội. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024 (hiệu lực từ 01/7/2025).

[9] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

[11] Quốc hội. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024 (hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025).

[12], [17] Vũ Thị Phương Hậu. Cơ sở lý luận và đề xuất tiêu chí về văn hóa, con người trong mô hình xã/phường XHCN. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Xây dựng xã, phường XHCN trong kỷ nguyên phát triển mới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Học viện CTQG HCM, Hà Nội, tháng 5-2026, tr. 83-98.

[13] Đảng CSVN. Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ XIV, tập I. NXB CTQGST, Hà Nội, 2026.

[16] Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 42/2025/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về phát triển văn hóa toàn diện các cấp giai đoạn 2025 - 2030.

LÊ HÙNG

Học viện Chính trị khu vực I,

NGÔ THỊ XINH

Sở Du lịch TP. Hà Nội.