Đặt vấn đề
Di sản văn hóa vật thể không chỉ là hiện thân cho quá khứ, gợi nhắc hành trình dựng xây, gìn giữ đất nước mà còn mang theo danh tính quốc gia, tinh thần yêu nước khắc sâu muôn thế hệ. Đắm mình trong dòng chảy lịch sử, văn hóa Việt Nam gạn lọc qua hàng nghìn năm văn hiến lắng đọng, kết tinh nhiều giá trị bản sắc. Đảm nhiệm trọng trách to lớn, pháp luật đã tích cực phát huy sứ mệnh bảo vệ di sản trước nguy cơ tổn hại từ sự biến môi trường và tác động hành vi, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quan điểm lập pháp, trách nhiệm từ các cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư.

Đại Nội Huế. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.
Mặc dù vậy, hệ quả đổi thay đời sống đặt ra thách thức nan giải. Để di sản văn hóa vật thể không biến mất giữa làn sóng, không gian hiện đại, môi trường hội nhập đa phương đòi hỏi định chế bảo tồn phải tiếp tục hoàn thiện. Pháp luật tái thiết trở thành công cụ đắc lực bảo vệ văn hóa, giữ cho di sản hiện diện bền bỉ, lâu dài, kể câu chuyện dân tộc theo cách trọn nguyên nhất.
1. Lịch sử hình thành và phát triển chế định bảo tồn di sản văn hóa vật thể: Từ Cách mạng Tháng Tám đến kỷ nguyên vươn mình
Tháng 8 năm 1945 là mốc son đánh dấu nước nhà độc lập, dân tộc tự do. Dù gặp muôn vàn khó khăn giữa giai đoạn lịch sử trong nước và thế giới chứng kiến nhiều biến động, nhưng đối diện với di sản văn hóa - đúc kết tư duy, tri thức, tài năng, tinh hoa bao đời người Việt sáng tạo thì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc bấy giờ đã nhất quán lập trường cởi mở, trân giữ, kế tục nhân văn công cuộc bảo tồn mà không mảy may bất kỳ định kiến, nề hà hay phân lập bởi khác biệt ý thức hệ chính trị, tôn giáo.
Nhận định bảo tồn di sản văn hóa là nhiệm vụ trọng yếu song hành cùng bảo vệ thành quả cách mạng, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 65/SL ấn định nhiệm vụ Đông Phương Bác cổ Học viện. Điều thứ ba, Điều thứ tư nội dung Sắc lệnh tỏ rõ quan điểm Nhà nước: “Những luật lệ về việc bảo tồn cổ tích vẫn để nguyên như cũ”; “Cấm phá hủy những đình chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, thành, quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Cấm phá hủy những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn”. Ngày 29 tháng 10 năm 1957, Nghị định số 519-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định thể lệ bảo tồn cổ tích ra đời, chi tiết công tác quản lý, phân loại, biện pháp tổ chức bảo vệ và trùng tu. Nội hàm thuật ngữ “cổ tích” nguyên mẫu các văn bản đề cập nay có thể tiếp cận dưới dạng di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.
Ngày 04 tháng 4 năm 1985, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh. Từ đây, nền tảng pháp lý công nhận di sản ngày một vững vàng, Nhân dân có điều kiện thực hiện quyền làm chủ cá nhân hoặc tập thể, cơ quan nhà nước có công cụ hướng dẫn, quản lý, công nhận, bảo vệ và sử dụng đối tượng di sản văn hóa thông qua phân định thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ chuyên môn, nghiêm cấm hành vi xâm hại trái phép di sản. Hơn hết, bằng hành động thiết thực, Nhà nước hướng đến mục tiêu “giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới” [1].
Tinh thần, lập trường, nguyên tắc trên khai mở tiến trình lập pháp, khẳng định quyền thụ hưởng, phát triển văn hóa quốc gia nói chung và bảo tồn di sản văn hóa vật thể nói riêng. Những quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực văn hóa kế thừa, tiếp nối, trở thành nguyên tắc hiến định. Hiến pháp năm 2013 bên cạnh ghi nhận “mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” [2] thì cùng lúc đó, phát triển văn hóa trở thành mục tiêu, nhiệm vụ chung, không chỉ đơn phương, một chiều, lệ thuộc Nhà nước mà còn là trách nhiệm toàn xã hội: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [3].
Tổng thể đi vào chi tiết, Luật Di sản văn hóa với tư cách đạo luật chuyên ngành đã trực tiếp thiết lập quy định chuyên sâu, chuyên biệt điều chỉnh về di sản văn hóa vật thể, hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam. So sánh văn bản tiền nhiệm (Luật Di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009), văn bản luật năm 2024 chứa đựng nhiều điểm mới, nổi bật như xác lập di sản văn hóa theo loại hình sở hữu, bổ sung nhận diện hành vi bị nghiêm cấm, xây dựng cơ quan thanh tra chuyên ngành, thúc đẩy phát triển văn hóa bằng ưu tiên bố trí ngân sách cho hoạt động đặc thù, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ nhân lực, hình thành Quỹ Bảo tồn di sản văn hóa, chuyển đổi số di sản. Kỳ vọng tất cả chuyển biến sẽ khắc phục mâu thuẫn, hạn chế còn tồn tại trong hệ thống pháp luật, đồng bộ sâu sắc, đáp ứng bối cảnh, tình hình chung. Pháp luật chuyển mình tạo đà động lực, định hướng hành vi, khai phóng, đưa lĩnh vực văn hóa dấn bước nhập cuộc, đóng góp vào cách mạng chuyển đổi số, “đưa đất nước ta, dân tộc ta vươn mình vượt bậc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tiên tiến, văn minh và hiện đại" [4].
2. Một số vấn đề pháp lý về bảo tồn di sản văn hóa vật thể trong bối cảnh hiện nay
Với phương tính pháp luật, lời giải cho bài toán di sản chưa bao giờ dễ dàng, bởi lẽ chặng đường đi đến kết quả bắt buộc trải qua thực nghiệm, đánh giá, xem xét nhiều yếu tố khác nhau: bối cảnh, nhận thức, thái độ, hành vi và chính cả đặc trưng, đặc điểm nội tại của di sản. Khó khăn hơn, mỗi yếu tố trên không cố định hoàn toàn mà biến đổi theo thời gian. Vận động đời sống xã hội tất yếu đòi hỏi thể chế pháp lý cũng phải tinh chỉnh, thích ứng.
Di sản văn hóa vật thể mang bản chất hữu hình, nếu bị phớt lờ, thiếu sự quan tâm, không được ghi nhận và bảo vệ thì sinh mạng văn hóa của di sản không thể trường tồn, làn ranh giữa “di tích” và “phế tích” vì vậy, càng trở nên mong manh. Nhưng chiều hướng ngược lại, ngăn cấm thái quá, di sản bị niêm cất cẩn mật, biệt lập, đóng kín, tách rời khỏi Nhân dân thì vai trò giáo dục, kết nối không thể trọn vẹn, đánh mất ý nghĩa thực chất. Chính do đó, đáp án cho sự công bình, cân đối rất đáng bàn xét, suy ngẫm.
Thực tế hình dung, pháp luật di sản văn hóa hiện nay phải “tròn vai”, “tròn sức”, đồng thời đảm nhiệm vai trò “bảo tồn” và “phát triển”, tức phải dung hòa trọn vẹn để một mặt, di sản tự thân nói lên tiếng nói của mình, không bị pha tạp, xói mòn, xâm lấn trong tình thế con người vừa là đối tượng kiến tạo, thụ hưởng nhưng cũng là tác nhân đe dọa đến tính nguyên bản, toàn vẹn. Mặt khác, nhất quyết yêu cầu sáng tạo, sáng tạo đường hướng khiến di sản trở nên thu hút, sáng tạo làm mới phương thức bảo tồn, khơi gợi tinh thần, kiến thiết, bổ trợ nguồn lực xã hội. Kiểm xét mọi bước đi thật cẩn trọng, bởi bất kỳ khoảng hở nào trên nền móng pháp lý cũng có nguy cơ khiến các lớp tầng, cấu trúc dày công xây dựng bị đổ gãy mà không thể hoàn nguyên. Mất mát vật chất văn hóa ít nhiều còn tổn thất tinh thần dân tộc, tựu chung cho thấy sức nặng, trọng trách mà mỗi quy phạm pháp luật phải cáng đáng, hơn hết, trực tiếp đặt ra thách thức cho quá trình lập pháp, hoàn thiện, thực thi thể chế.

Ngai vàng triều Nguyễn. Ảnh: Báo Tiền phong.
Dữ liệu thống kê từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, hết tháng 12 năm 2024 chỉ tính riêng phạm vi di sản văn hóa vật thể, Việt Nam có hơn 40.000 di tích được kiểm kê, trong đó có 34 di sản được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh gồm 08 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới; 139 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng; 3.653 di tích quốc gia; 327 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia; trên 04 triệu hiện vật là di vật, cổ vật quý giá [5]. Dù vậy, pháp luật bảo tồn di sản văn hóa vật thể từ những sự vụ bị xâm phạm, tổn hại do thiên tai và nhân tai thời gian vừa qua hay ngay trong bối cảnh kết nối, hội nhập, chuyển đổi giao thức tiếp cận di sản, đúc kết kinh nghiệm bộc lộ một số điểm cần lưu tâm, chú trọng.
Thứ nhất, toàn cầu hóa, khu vực hóa và bản địa hóa bảo tồn di sản. Nhìn vào bức tranh tổng thể, đại đa số quốc gia không tồn tại một cách biệt lập, tách rời khỏi các nước láng giềng, khu vực và phần còn lại của thế giới. Từ vị trí địa lý, biên giới lãnh thổ đến bối cảnh lịch sử, dòng chảy chính trị, ngoại giao, thương mại hoặc sâu xa hơn như nguồn gốc giống nòi qua các cuộc di cư đã khiến vô số giao điểm hình thành, đan kết cùng nhau. Di sản mỗi quốc gia phản ánh một phần ký ức, văn minh, văn hóa nhân loại. Đặc biệt hơn, dưới sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, không gian kết nối con người mở rộng xúc tiến các nền văn hóa có điều kiện cộng hưởng. Song, thách thức trong bối cảnh đó, để hội nhập không trở thành đồng nhất, không bị chi phối, lấn át, xung đột, chiếm đoạt và tiêu biến, soi chiếu qua lăng kính pháp luật thì vấn đề toàn cầu hóa, khu vực hóa, bản địa hóa bảo tồn di sản đã nảy sinh.
Luật quốc tế điều chỉnh di sản văn hóa tập hợp nhiều điều ước quan trọng. Trong đó, Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới (Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage) của UNESCO năm 1972 trực tiếp đặt nền móng quan hệ hợp tác. Không gói gọn ở mỗi quốc gia, việc xác định, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, thiên nhiên được UNESCO nhận định là trách nhiệm chung, đồng tâm, đồng sức của cả cộng đồng quốc tế.
Toàn cầu hóa di sản chuyển mình thành phương tiện, tiền đề để một quốc gia vươn ra thế giới, thúc đẩy hòa bình, hữu nghị, hợp tác, song cũng là cơ hội để thế giới hiểu về bản sắc dân tộc. Ngày 19 tháng 10 năm 1987, Việt Nam gia nhập Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới. Gần 02 thập kỷ sau, ngày 20 tháng 9 năm 2005, Việt Nam tiếp tục phê chuẩn Công ước về Các biện pháp ngăn cấm xuất, nhập khẩu và chuyển giao trái phép Quyền sở hữu tài sản văn hóa (The 1970 Convention on the Means of Prohibiting and Preventing the Illicit Import, Export and Transfer of Ownership of Cultural Property). Có thể thấy, khung pháp lý bảo tồn di sản văn hóa vật thể Việt Nam đan xen, kết hợp giữa luật pháp quốc tế cùng pháp luật quốc gia. Trở thành thành viên tích cực, đối tác tin cậy, tham gia điều ước quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam quảng bá, học tập kinh nghiệm, sáng kiến và giải pháp, hơn hết, củng cố cơ sở pháp lý đàm phán, giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ di sản văn hóa theo luật pháp quốc tế xuất hiện sau Chiến tranh Thế giới thứ hai một cách rời rạc, thông qua loạt công ước và sự hình thành tập quán quốc tế [6]. Khó khăn một mặt do hiệu quả thực thi phụ thuộc chủ yếu vào năng lực, hành động từng quốc gia, mặt khác, vì tính chất không hồi tố, di sản bị đánh cắp hoặc xuất khẩu trái phép trước thời điểm công ước phát sinh hiệu lực không thuộc phạm vi áp dụng. Vô hình trung, điều này gây bất lợi với các nước từng bị xâm lược. Trải dài thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến, chiến tranh cùng biến động lịch sử, không ít di sản văn hóa Việt Nam thất thoát, lưu lạc ra nước ngoài chưa thể hồi hương. Toàn cầu hóa cũng tiềm tàng nguy cơ, khi không định vị được thế đứng của mình, văn hóa dân tộc dễ lạc mất phương hướng, bị xói mòn, áp đặt bởi văn hóa ngoại lai.
Liên kết quy mô nhỏ hơn, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tập hợp 11 nước tương đồng đặc điểm địa lý, hoàn cảnh lịch sử, khiến nơi đây giao thoa, tụ hội nhiều nền văn hóa lớn. Kết hợp đặc trưng, truyền thống bản địa khác biệt tạo nên nền văn hóa đầy bản sắc, đa dạng trong thống nhất. Tất cả phác họa ASEAN như bức tranh sống động dệt nên từ truyền thống văn hóa phong phú của các quốc gia thành viên [7].
Khu vực hóa trong khuôn khổ pháp lý ASEAN ghi dấu bằng thể chế luật lệ, thỏa thuận và quy tắc. Ngày 25 tháng 7 năm 2000, Tuyên bố ASEAN về Di sản văn hóa (ASEAN Declaration on Cultural Heritage) hình thành. Tận dụng nền tảng đó, các nước thành viên bao gồm Việt Nam nỗ lực thúc đẩy công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị di sản bằng ngoại giao văn hóa, diễn đàn và hội nghị. Đánh dấu sự ra đời nhiều cơ quan chuyên trách như Ủy ban Văn hóa - Thông tin ASEAN (COCI), Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (SEAMEO), Trung tâm Đông Nam Á về Kiến thức Giáo dục và Nghệ thuật (SEAMEO SPAFA), dự án Kho lưu trữ kỹ thuật số di sản văn hóa ASEAN (ACHDA). Thế nhưng bên cạnh những thuận lợi, khu vực hóa di sản vẫn tồn tại rủi ro va chạm, xung đột, căn nguyên do khác biệt tôn giáo, sắc tộc, lập trường cùng quan điểm. Thực tế đã từng diễn ra ở các quốc gia Đông Nam Á - mà biểu hiện cụ thể của nó là xung đột sắc tộc, xung đột tôn giáo, xung đột giữa người bản địa và người nhập cư [8].
Hợp tác bảo vệ di sản ở khu vực biên giới, dưới nước chưa ghi nhận nhiều dấu ấn dù cho các quốc gia chung đường biên giới hoặc đa phần đều giáp biển. Xem xét chính đáng, đây hoàn toàn có khả năng trở thành cầu nối xúc tiến, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, hướng đến sự hòa hợp sâu sắc. Ngoài ra, ưu tiên bản sắc đại chúng, đa số hơn di sản thiểu số, tác động cả yếu tố tự nhiên và con người như đô thị hóa, căng thẳng địa chính trị, nạn buôn lậu, xuất khẩu trái phép, thiên tai, biến đổi khí hậu nguy cơ tàn hại nghiêm trọng công trình, kiến trúc, cảnh quan lịch sử. Nguồn lực tài chính hạn chế, không đủ kinh phí và không sẵn sàng chi trả cho các biện pháp bảo trì, phục hồi, bảo vệ gây trở ngại lớn [9]. Hơn thế nữa, bức bối chung tại các nước đang phát triển, khi mục tiêu tăng trưởng kinh tế mâu thuẫn với chiến lược bảo tồn sẽ là lúc di sản dần mai một do không còn được xem trọng, thay vào đó, biến tướng các loại hình mang danh sáng tạo, vay mượn lịch sử nhằm khai thác thương mại, phục vụ du lịch nhưng sai lệch, lu mờ gốc tích cổ xưa.
Tầm cỡ bản địa, dự án di dời người dân địa phương sinh sống qua nhiều thế hệ khỏi khu vực di tích vẫn đang tiến hành như giải pháp bảo tồn hạn chế xâm lấn. Điều này hữu ích cho công tác quản lý nhưng kèm theo đó, vai trò cư dân bị giảm sút. Khi không còn hiện diện thường xuyên, di sản tách biệt khỏi đời sống kết hợp nhận thức thiếu thấu đáo dễ nảy sinh tâm lý phó thác vào chính quyền, bất cân xứng hoặc xung đột lợi ích hạn chế khả năng bảo vệ di sản.
Những sợi chỉ đan xen lịch sử văn hóa vào tấm vải bản sắc đang ngày càng có nguy cơ sờn rách trong một xã hội hiện đại hóa với tốc độ chóng mặt [10]. Thực tế chứng minh du lịch quá mức tạo ra lợi nhuận giảm dần, ngược lại, chi phí liên quan đến bảo tồn, dịch vụ công, tội phạm và thiệt hại môi trường trở nên đáng kể tại một điểm đến bị quá tải [11]. Nếu văn hóa truyền thống bị đóng gói và xử lý như một sản phẩm để bán, khách du lịch và thương nhân ngành du lịch sẽ nắm quyền sở hữu thay vì người bản xứ [12]. Mặt tối xói mòn văn hóa len lỏi từ toàn cầu, khu vực, giờ đây ẩn mình lẩn khuất ở quy mô bản địa. Du lịch di sản nếu không kiểm soát tốt bằng chiến lược bền vững, lâu dài sẽ kéo dãn khoảng cách giàu nghèo, tăng chi phí sinh hoạt, gây trở ngại, khó khăn đối với bộ phận dân cư bản địa chưa đủ điều kiện nhập cuộc, thích nghi.
Thứ hai, về phân loại và nhận diện di sản văn hóa vật thể. Bên cạnh kế thừa Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), thuật ngữ di sản văn hóa vật thể quy định tại văn bản luật năm 2024 bổ sung thêm dấu hiệu cấu thành mô tả ước tính. Theo đó, “di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có một, một số hoặc tất cả giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [13]. Điều khoản này cho phép bóc tách, đánh giá di sản dưới khía cạnh giá trị, phục vụ nghiên cứu. Dẫu vậy, liệt kê và giới hạn đồng nghĩa phân loại, tiếp cận di sản bước đầu không tránh khỏi khó khăn.
Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đều có chung nguồn gốc “được lưu truyền lại”, nhấn mạnh tính chính danh, tiếp nối, truyền thừa. Tuy nhiên, khác với di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa vật thể trở thành cầu nối thời gian thông qua hiện vật, gắn kết thế hệ khả năng đơn thuần xuất phát tự nhiên vì bản chất hữu hình, vật lý mà không nhất thiết phụ thuộc cách thức chuyển tải. Nếu chỉ làm nổi bật ý nghĩa quá trình tồn tại thì cần lưu ý để công nhận di sản văn hóa vật thể, các loại hình hiện vật cũng đã bắt buộc thỏa mãn giá trị lịch sử. Quy định “được lưu truyền lại” vô hình trung mặc định cách hiểu ràng buộc ý thức, hành động có chủ đích, có phương pháp từ tiền nhân, tổ tiên, quá khứ. Dù không ít sản phẩm, tác phẩm, đồ dùng, công cụ, dụng cụ sáng tạo ra ban đầu đơn giản nhằm thỏa mãn sở thích, thẩm mỹ nghệ thuật của chính tác giả hay phục vụ nhu cầu đời sống, lao động, sinh hoạt, không xuất phát bởi ý muốn bảo quản, truyền thừa nhưng vẫn tồn tại đến ngày nay. Bản chất thụ nhận giá trị hiện vật nên chăng không áp đặt quan hệ “truyền - nhận” mà là sự “thừa hưởng” bằng nhiều cách thức khác nhau, chính vì thừa hưởng nên ý thức trách nhiệm càng thấu tỏ, sâu sắc.
UNESCO đưa ra khái niệm “cảnh quan văn hóa” (Cultural Landscape) nhấn mạnh tác động của con người, thiên nhiên, mối tương tác đan xen, hòa hợp và lâu dài. Ở phạm vi quốc gia, Việt Nam cũng đề cập đến “di tích hỗn hợp” - một trong những thành tố hữu cơ của di tích. Khoản 5, Điều 22, Luật Di sản văn hóa năm 2024 nhận diện: “Di tích hỗn hợp là di tích đáp ứng tiêu chí của ít nhất 02 loại hình di tích” trong số di tích lịch sử; di tích kiến trúc, nghệ thuật; di tích khảo cổ; danh lam thắng cảnh. Cách tiếp cận này cho thấy nhà làm luật đang xem xét riêng lẻ rồi cộng gộp cơ học hai loại hình di sản khác nhau. Xét tính “hỗn hợp” không sai nhưng cũng chưa hoàn toàn phù hợp, nếu đặt vào bối cảnh mà quan điểm tiếp cận di sản lấy đồ vật làm trung tâm đang diễn tiến, thay đổi sang nhấn mạnh, trọng tâm hướng đến con người. Di sản có yếu tố thiên nhiên như sinh thể đang sống nên cần đánh giá toàn diện, đúng tinh thần, triết lý hòa quyện, tương hỗ, thúc đẩy phát triển bền vững không đơn giản như đặt phép toán cộng.
Cấu thành thuật ngữ di sản văn hóa vật thể phức tạp nhưng đóng vai trò quyết định. Gò ép ở phạm vi hẹp, thiếu tương thích thông lệ quốc tế nguy cơ ảnh hưởng đặc tính khái quát, lượt bỏ một số loại hình di sản quan trọng. Hiện vật không được định danh trong Luật Di sản văn hóa, không thuộc phân loại hoặc chưa nhận diện sẽ trở thành hiện vật vô danh, nằm ngoài biên giới điều chỉnh và bảo vệ của pháp luật chuyên ngành. Ngược lại, xây dựng định nghĩa di sản văn hóa vật thể đủ tầm vóc sẽ đóng vai trò bản lề, rộng mở cánh cửa bảo tồn, tiến đến dung hòa, giải quyết vấn đề thách thức hiệu quả hơn.
Thứ ba, hạn chế cơ sở nghiên cứu đánh giá tác nhân và quy chuẩn an ninh cho từng hạng mục di sản, bảo tàng, không gian trưng bày. Tác nhân đe dọa đến di sản văn hóa không gì khác ngoài lãng quên và bị xâm hại. Nhưng đằng sau đó, nơi mỗi loại di sản hiện diện do kết cấu vật chất, vật liệu, môi trường khách quan, nhận thức, hành vi ứng xử lại có khác biệt nhất định. Sự khác biệt này gia tăng mức độ phức tạp cho quá trình quản lý, kiểm soát, bảo tồn, dẫu vậy nếu bóc tách, khám phá tường tận khía cạnh đặc biệt đó thì thành quả thu nhận sẽ cung cấp cơ sở thực tiễn lẫn khoa học, bằng chứng trực quan, chính xác giúp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, hoạch định, triển khai phân bổ nguồn lực.
Hiện nay, nghiên cứu phân tích mức độ tổn thương của di sản, nhận diện mối đe dọa, mức độ đe dọa, khả năng phục hồi hay đánh giá năng lực quản lý còn thiếu hụt. Tính dễ bị tổn thương của di sản văn hóa tăng lên theo thời gian và việc di sản phải chịu nhiều hiểm họa tự nhiên cũng như do con người gây ra, dù chậm hay đột ngột, đe dọa sự tồn tại của di sản [14]. Quản lý rủi ro văn hóa nếu đổ dồn mọi sự tập trung vào thiên tai mà lượt bỏ nhân tố con người, đánh giá tác nhân bên ngoài nhưng bỏ qua đặc tính nội tại bên trong (cấu trúc, vật liệu, độ ổn định, độ bền theo thời gian, mật độ, không gian phân bổ…) sẽ khó thấy mối tương tác, toàn diện.

Bên trong Điện Thái Hoà. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.
Sau mỗi trường hợp di sản bị tổn hại, vấn đề an ninh, an toàn lại trở thành chủ đề bàn luận, dù nội dung này nên nhận được quan tâm, dự liệu, phòng ngừa sớm bằng lá chắn pháp luật. Mỗi khâu, mỗi con người tham gia quy trình an ninh đều ảnh hưởng đến kết quả, hệ quả, hậu quả. Nếu quản lý rủi ro không được tích hợp vào toàn bộ giai đoạn của quá trình bảo tồn, bảo vệ; thiếu cơ chế trang bị kiến thức, kỹ năng thông qua hoạt động đào tạo, hướng dẫn, diễn tập, truyền thông; lỏng lẻo trong quản lý, chủ quan bị động; hệ thống thiết bị, phương tiện, công nghệ giám sát lỗi thời lạc hậu; lực lượng phụ trách an ninh hạn chế số lượng cũng như năng lực ứng phó; đầu tư không tương xứng giá trị di sản sẽ không đảm bảo ngăn chặn, đẩy lùi tác nhân nguy hại. Mặc khác, do chưa có quy chuẩn quốc gia tiêu chí hóa yêu cầu an ninh, an toàn cho từng hạng mục di sản, bảo tàng, không gian trưng bày trên toàn quốc nên công tác triển khai có phần rời rạc, phụ thuộc chủ yếu vào nhân lực, vật lực, thái độ từng địa phương, chủ thể. Thừa nhận thực tế này dẫn đến việc bảo vệ những kho báu đang diễn ra muôn hình vạn trạng [15].
Khi tiếng nói bảo vệ di sản riêng rẽ khó hội đủ sức nặng, đối lập mục tiêu, giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính hoặc tư pháp đòi hỏi thời gian, chi phí, xen lẫn áp lực tâm lý có thể khiến một bộ phận cư dân, cộng đồng địa phương chọn lựa từ bỏ, hy sinh di sản văn hóa vật thể vì lý do năng lực và nguồn lực giới hạn, hệ thống pháp luật chưa dẫn đến cánh cổng rộng mở hơn bằng điều khoản khuyến khích cùng cơ chế phù hợp.
Thứ tư, số hóa di sản và rủi ro an ninh mạng. Số hóa di sản mở ra kỷ nguyên mới trong bảo tồn văn hóa, nơi mà phương thức lưu trữ truyền thống dần được thay thế bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thuận tiện giúp truy xuất thông tin, phòng tránh tác hại vật lý. Tuy nhiên, dẫu sở hữu nhiều ưu thế nhưng không gian lưu trữ số không phải là môi trường bất khả xâm nhập. Dữ liệu đứng trước những mối đe dọa tiềm tàng, khó lường và khó tránh. Đặc biệt, thông tin di sản văn hóa vật thể vốn chứa đựng lịch sử, văn hóa, chính trị của cả một dân tộc lưu trữ trên nền tảng trực tuyến, không loại trừ khả năng bị truy cập, tấn công, chiếm đoạt, xóa bỏ, chỉnh sửa trái phép, làm tổn hại đến tính xác thực và toàn vẹn một cách đầy chủ đích. Điều này nếu xảy ra chẳng khác nào cuộc xâm phạm lãnh thổ quốc gia trên không gian mạng, không gian tri thức. Hậu quả một thế hệ tương lai tiếp cận sai, nhìn nhận và hiểu sai, bị tư tưởng lệch lạc chi phối, lấn lướt, thậm chí triệt tiêu cái đúng, cái chính thống, thực chất của cội nguồn lịch sử thì nguy hại khôn cùng.
Luật An ninh mạng năm 2018 nhìn nhận hệ thống thông tin quốc gia thuộc lĩnh vực văn hóa là hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia [16]. Luật Di sản văn hóa năm 2024 cũng bao hàm điều khoản đề cập đến cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa [17]. Thời điểm này, Thông tư số 04/2025/TT-BVHTTDL đã xác định phạm vi dữ liệu, quản trị, vận hành, quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa, tuy nhiên, văn bản dưới luật quy định danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia như Nghị định số 47/2024/NĐ-CP lại đang bỏ ngỏ, chưa định vị lĩnh vực văn hóa nói chung và xác lập địa vị pháp lý cho dữ liệu số hóa di sản nói riêng. Thêm vào đó, phần số hóa để tạo lập cơ sở dữ liệu chuyên ngành mới chỉ tập trung vào mảng đề tài dự án văn hóa phi vật thể, còn mảng về văn hóa vật thể chưa có kế hoạch tạo lập [18]. Số hóa di sản, phát triển cơ sở dữ liệu văn hóa đòi hỏi bước tiến chiến lược, tổng thể cả về pháp lý lẫn nguồn lực thì thực trạng thiếu khuyết, rời rạc, thiên lệch đang ngăn trở, nảy sinh nhiều hạn chế.
3. Quan điểm và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa vật thể
Bản địa hóa, khu vực hóa, toàn cầu hóa là các lớp lang mở ra không gian cho Việt Nam giao hòa, đưa bản sắc cộng đồng, quốc gia góp mình tạo nên sự đa dạng, đa sắc của thế giới. Nhưng đạt được điều đó, trước khi sợi dây văn hóa kết chặt những điều lớn lao hơn thì nội tại quốc gia, cộng đồng, mỗi cá nhân phải tự ý thức, giữ gìn, bảo vệ di sản đầy trách nhiệm. Suốt hành trình tồn tại của mình, di sản văn hóa vật thể đã bồi đắp nên kho tàng sống động. Song, thiết nghĩ thật khó để thế giới hiểu về Việt Nam hay các dân tộc trong nước hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương giao sâu sắc nếu chính ngay ở những hiện hữu vật chất văn hóa lại xuất hiện mầm mống đứt gãy, xói mòn. Cởi mở, tiếp thu quan điểm quốc tế, hội nhập đa phương sâu rộng không đồng nghĩa phủ nhận, xóa bỏ chính kiến, đoạn tuyệt truyền thống, tự bài trừ chính mình, khiến mình trở nên đồng nhất. Việt Nam cần vững vàng định vị chủ quyền văn hóa, chọn lọc, lưu giữ, nuôi dưỡng ý thức thế hệ thông qua bảo tồn di sản văn hóa vật thể.
Hạn chế tác động tiêu cực và tận dụng thời cơ, mở rộng gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương, đa phương tạo tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc, thúc đẩy thực thi luật pháp quốc tế đối với vấn đề hồi hương di sản, ngăn chặn xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển giao trái phép di sản khỏi quốc gia xuất xứ. Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực, xúc tiến thành lập cơ quan chuyên trách bảo tồn di sản văn hoá dưới nước tại Đông Nam Á, phối hợp bảo tồn di sản liên biên giới dưới sự bảo trợ của ASEAN.
Trong nước, bằng thể chế pháp lý, chính sách phù hợp, chú trọng phương pháp tiếp cận bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng, phát huy hơn nữa vai trò Nhân dân. Thông qua quyền sở hữu, sử dụng, nghĩa vụ và trách nhiệm, ở mức độ phù hợp Nhà nước trao quyền, trao cách thức, tạo điều kiện cho người dân địa phương chủ động bảo giữ tài nguyên văn hóa của chính mình.

Không gian Bảo tàng Gốm cổ sông Hương. Ảnh: Trung Phan.
Thống nhất chủ trương bảo tồn di sản văn hóa song hành cùng phát triển kinh tế nhưng bước đi thật thận trọng, đặc biệt ở khâu triển khai. Giữa bảo tồn và phát triển, văn hóa và mục tiêu tăng trưởng thử thách sự khéo léo, cân bằng, mọi thiên lệch đều không thu nhận kết quả tối ưu, thậm chí gây phương hại. Di sản văn hoá vật thể tự thân kể câu chuyện làm nên chính mình thông qua nguồn gốc, truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước, tinh thần bất khuất, quật cường, linh hoạt, nghệ thuật nơi bàn tay, khối óc, trí tuệ sáng tạo, mỗi mảnh ghép như vậy thực sự độc đáo, thu hút theo cách riêng nên cần được kể đúng, chuyển tải đúng tinh thần. Không để kinh tế du lịch chi phối, xâm thực tính nguyên bản, nguyên gốc của di sản, tuyệt đối không bất chấp “tô màu” văn hóa, lệch lạc, lai căng, xa rời nguồn cội chỉ nhằm chạy theo thị hiếu nhất thời, tạm bợ.
Rõ ràng thiệt hại, tổn thất di sản ngoại quan đo đếm bằng số lượng nhưng chiều sâu cốt lõi không thể định giá bằng tiền, một di sản văn hoá vật thể biến mất đồng nghĩa một góc phần quá khứ vĩnh viễn không còn tái hiện đến hiện tại và tương lai. Cùng lúc đó, phát triển du lịch cần bàn tính kỹ lưỡng, nghiên cứu đồng bộ hạ tầng cơ sở lẫn đời sống dân sinh, tránh kéo dãn khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch mức sống, hạn chế xáo trộn, đẩy cư dân bản địa ngày càng xa khu vực mà họ vốn thuộc về.
Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá: “Những người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn núi cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lê-nin thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông” [19]. Coi giáo dục di sản là thành tố thiết yếu, không thể tách rời của giáo dục truyền thống - viên gạch nền xây dựng xã hội nhân văn. Đổi mới cách thức chuyển tải, sinh động, trực quan, lồng ghép giáo dục di sản vào nội dung giảng dạy lịch sử bên cạnh con người và sự kiện. Trang bị kiến thức, bồi dưỡng sức mạnh nội sinh, đưa di sản vật thể đến gần thế hệ trẻ nhằm vun đắp tình cảm, nhận thức, thái độ và hành vi.
Không thể phủ nhận pháp luật về bảo tồn di sản văn hóa vật thể đã đương đầu đối mặt, tạo sức đề kháng bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam qua nhiều giai đoạn thử thách. Nhưng đứng trước đổi thay thời cuộc xã hội, để có bước chuyển mình mạnh mẽ, vững chắc hơn, đến lúc thể chế pháp lý cũng cần tái thiết, bổ sung bằng các điều chỉnh mới phù hợp, bắt đầu từ những vấn đề căn cơ, bản chất đến quá trình thực thi, áp dụng.
Một là, hoàn thiện khái niệm, chuẩn hóa thuật ngữ di sản văn hóa vật thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với di sản văn hóa vật thể vì tính chất hữu hình, một bộ phận đến nay đang tồn tại, xuất hiện tự nhiên nên không nhất thiết truy nguyên nguồn gốc “được lưu truyền lại”. Trạng thái không có tranh chấp, yếu tố này chưa quá lưu tâm nhưng nếu tranh chấp phát sinh vô tình kéo theo nhiều vấn đề. Giả định hiện vật có nguồn gốc Việt Nam lưu lạc ở nước ngoài hoặc được khai quật, trục vớt, chứng minh dấu hiệu lưu truyền (chủ thể sở hữu, tính tiếp nối thế hệ, chủ đích, phương pháp bảo quản) rất phức tạp vì gián đoạn thời gian, cách trở không gian. Thay vào đó chỉ tập trung nhấn mạnh, hướng sự chú ý đến yếu tố duy nhất - quốc gia xuất xứ: “Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
Định nghĩa di sản văn hóa vật thể của Việt Nam tương đồng một số nước châu Á như Trung Quốc [20], Nhật Bản [21], nhìn nhận chủ yếu dựa vào đồ vật, thiết lập thuật ngữ theo dạng mô tả liệt kê. Để di sản không bị bỏ sót, nằm ngoài biên giới điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành khi chưa dự liệu hết mọi biến số thì cần mở rộng phạm vi. Cân nhắc: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và các loại hình di sản khác có một, một số hoặc tất cả giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ”. Về mặt kỹ thuật, “các loại hình di sản khác” cho phép biến đổi linh hoạt, thích nghi thực tế đa dạng, tránh lỗi thời, lạc hậu, rơi vào hoàn cảnh lúng túng vì phân loại, phân nhóm. Bằng cách này, “cảnh quan văn hóa” hay nhiều đối tượng văn hóa khác tương lai cũng sẽ được công nhận nếu nhà làm luật thiết lập điều chỉnh, trong chính văn bản luật hoặc văn bản dưới luật.
Hai là, đầu tư nghiên cứu, đánh giá, quản lý rủi ro trong bảo tồn, ban hành quy chuẩn quốc gia về an ninh đối với từng hạng mục di sản, bảo tàng, không gian trưng bày. Tăng cường liên kết, hợp tác, huy động các tổ chức, đơn vị, cá nhân, chuyên gia, nhà nghiên cứu có chuyên môn, kinh nghiệm, uy tín, phối hợp tham vấn cộng đồng, dốc tâm góp sức vào công cuộc nhận diện, phân tích đánh giá, lập bản đồ cảnh báo rủi ro di sản, hoạch định chiến lược, giải pháp phòng ngừa và xử lý. Kết hợp tham khảo, tiếp biến kinh nghiệm ứng phó thiên tai, nhân tai từ các quốc gia, tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ thành bài học trong nước. Chú trọng đầu tư nhân lực bài bản, công trình nghiên cứu chất lượng, hàm lượng khoa học và tính ứng dụng cao. Điều này nếu làm tốt sẽ trở thành vốn tri thức, nguồn cứ liệu quan trọng giúp Việt Nam xác lập hướng đi đúng đắn trong huy động, sử dụng nguồn lực hiệu quả, thúc đẩy hoàn thiện thể chế, chính sách.
Thuộc nhóm giải pháp liên quan đến kiểm soát rủi ro, quy chuẩn quốc gia về an ninh trong lĩnh vực di sản là cơ sở pháp lý cho phép chủ sở hữu, chủ thể quản lý, bảo tàng, không gian trưng bày kiện toàn hệ thống một cách đồng bộ, toàn diện, trách nhiệm. Nắm giữ vai trò đó, cần sớm phác thảo, định dạng lộ trình, xây dựng, ban hành và triển khai nội dung này. Về vật lực, chuẩn hóa yêu cầu phù hợp bối cảnh chung, khả năng, điều kiện và kinh nghiệm thực tiễn, kết hợp an ninh vật lý cùng công nghệ giám sát thông minh, hiện đại, tương xứng giá trị di sản theo hạng mục bảo vệ. Về nhân lực, cụ thể vị trí việc làm, điều kiện, tiêu chuẩn tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phụ trách công tác an ninh tại các địa điểm văn hóa, chi tiết chế độ báo cáo (định kỳ, đột xuất), lập kế hoạch dự liệu tình huống khẩn cấp.
Ba là, chặt chẽ quy trình tham vấn, thẩm định, giám sát chuyên môn trong bảo tồn di sản, tăng cường đối thoại xã hội. Không ít vụ việc trùng tu, tôn tạo, bảo dưỡng, vệ sinh bề mặt không đúng phương pháp gây biến dạng, tổn hại di sản khởi phát từ nguyên nhân chủ quan, bất cẩn, thiếu hiểu biết hoặc động cơ trục lợi. Thiệt hại vượt quá khả năng khắc phục của chính cá nhân, đơn vị thực hiện, dư luận phản ứng trái chiều, tiêu cực. Nhằm hạn chế tiếp diễn trường hợp tương tự, tham vấn, thẩm định, giám sát chuyên môn xuyên suốt quá trình thực hiện buộc các chủ thể phải tuân thủ nghiêm ngặt. Xem xét áp dụng chế tài, trách nhiệm pháp lý từng cá nhân, nhóm đối tượng tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm.
Song song, đối thoại xã hội mở ra cơ hội để công dân, người dân địa phương phản biện, đóng góp ý kiến với từng chủ trương, chính sách, chiến lược, quy hoạch bảo tồn di sản đang ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống, văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng nên được nhân rộng, phổ biến. Một mặt, đối thoại là phương tiện chính thống để Nhà nước truyền tải, cung cấp thông tin, tránh hiểu sai, hiểu không đầy đủ, nâng cao nhận thức và vai trò cộng đồng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tiến đến đồng thuận xã hội vì mục tiêu, lợi ích chung. Mặt khác, khuyến khích, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia đối thoại giúp Nhà nước nắm bắt nguyện vọng, nhu cầu, góp phần phát hiện, điều chỉnh, sửa đổi kịp thời những điểm chưa hợp lý, cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, củng cố, hoàn thiện pháp luật trước tác động của đô thị hóa, thương mại, du lịch, môi trường. Giải pháp đối thoại nên tiến hành “đa kênh - đa chiều”, tức tổ chức bằng nhiều hình thức, đa dạng thành phần, không chỉ linh hoạt, thuận tiện mà còn góp phần gia tăng chất lượng, hiệu quả.
Bốn là, sớm định vị vai trò pháp lý, hình thành, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa vật thể trên phạm vi toàn quốc. Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã gợi mở sự hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa như một trụ cột của chiến lược đổi mới. Tuy nhiên, bước đầu phải xác lập danh vị, địa vị pháp lý trong hệ thống danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia. Đây là điều kiện tiên quyết tạo sự nhất quán, không bỏ ngỏ lĩnh vực văn hóa – vốn chứa đựng thông tin quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Chú trọng thiết lập quy chế hỗ trợ, phối hợp, đóng góp, kiểm duyệt, cập nhật và chia sẻ thông tin liên Sở, ngành, giữa các địa phương, cộng đồng, cá nhân và tổ chức, tập trung tạo lập cơ sở dữ liệu mảng đề tài dự án di sản văn hóa vật thể. Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia từ Trung ương đến địa phương liên quan đến di tích lịch sử - văn hóa, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, danh lam thắng cảnh cùng các loại hình di sản khác sẽ giúp tận dụng triệt để, khai thác tối đa giá trị dữ liệu, nâng cao năng lực bảo vệ thông tin bằng trang cấp công nghệ và kỹ thuật xứng tầm. Nối tiếp định hình hướng đi mới trong bảo tồn di sản, phổ cập tri thức văn hóa.
Năm là, liên thông, thống nhất, đồng bộ chặt chẽ giữa Luật Di sản văn hóa, Luật An ninh mạng và pháp luật hình sự. Sự thống nhất hệ thống pháp luật phản ánh chất lượng lập pháp, tất yếu, đặc tính này quyết định hiệu quả áp dụng pháp luật vào đời sống xã hội. Lĩnh vực di sản văn hóa, an ninh mạng, tư pháp hình sự cũng không ngoại lệ, đồng bộ chặt chẽ giữa các ngành luật trong một chỉnh thể, cấu kết bền chắc và hoàn thiện sẽ hợp lực, phát huy tác dụng bảo vệ dữ liệu di sản trước rủi ro an ninh tiềm tàng, biến tướng, ngày càng tinh vi.
Tương tác giữa các chế định, quy phạm đảm bảo thông suốt, khắc phục mọi mâu thuẫn, chồng chéo. Nhà làm luật cần nghiên cứu bổ sung, pháp điển hóa hành vi xâm phạm cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa thành hành vi bị cấm bởi Luật Di sản văn hóa, kết hợp làm rõ nội dung này trong Luật An ninh mạng. Cung cấp dấu hiệu nhận diện, định tội danh sử dụng công cụ, thiết bị, phần mềm tấn công mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm hệ thống dữ liệu an ninh quốc gia thuộc các lĩnh vực trọng yếu như văn hóa với chế tài thích đáng, đủ sức răn đe.
Thế đứng Việt Nam vững chãi dựa vào Nhân dân, nơi mỗi người đều đang nắm giữ “kho tàng di sản” quý báu, càng hun đúc, tôi rèn, càng vẹn nguyên, sáng rõ - tinh thần yêu nước, thương nòi khắc sâu qua nhiều thế hệ. Bảo tồn di sản văn hoá vật thể cũng đồng nghĩa giữ cho căn tính dân tộc không bị đồng dạng, biến mất trong một thế giới biến động không ngừng. Tất cả đòi hỏi pháp luật bảo vệ, song song tạo điều kiện gạn lọc, khơi dậy những điều tốt quý. Hiện thực điều đó, nhất thiết pháp luật cũng phải quán chiếu, hoàn thiện lại chính mình. Thách thức song hành cùng triển vọng, bước vào kỷ nguyên mới, thành trì xã hội pháp quyền về văn hóa Việt Nam sẽ tiếp tục được xây nên từ chế định bảo tồn di sản văn hóa vật thể đầy nhân văn và tiến bộ.
Danh mục tài liệu tham khảo
[1] Phần mở đầu, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7.
[2] Điều 41, Hiến pháp năm 2013.
[3] Khoản 1, Điều 60, Hiến pháp năm 2013.
[4] GS. TS Tô Lâm (2024), Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/chuyen-doi-so-dong-luc-quan-trong-phat-trien-luc-luong-san-xuat-hoan-thien-quan-he-san-xuat-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi, truy cập ngày 23/9/2025.
[5] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025), Lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chi tiết về nhiệm vụ chuyên môn của bảo tàng, https://bvhttdl.gov.vn/lay-y-kien-du-thao-thong-tu-quy-dinh-chi-tiet-ve-nhiem-vu-chuyen-mon-cua-bao-tang-20250409162921149.htm, truy cập ngày 24/9/2025.
[6] Valentina Vadi (2023), Cultural Heritage in International Economic Law, NXB Brill - Nijhoff, tr.129.
[7] ASEAN Socio-Cultural Community (2024), Unity in Diversity: Fostering ASEAN Identity, https://knowascc.asean.org/content/identity/, truy cập ngày 10/10/2025.
[8] TS Hà Thị Đan, Đa dạng văn hóa trong ASEAN: Cơ hội, thách thức và những giải pháp gợi ý, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, http://vanhoanghethuat.vn/da-dang-van-hoa-trong-asean-co-hoi-thach-thuc-va-nhung-giai-phap-goi-y.htm, truy cập ngày 13/10/2025.
[9] Monish Bajracharya (2025), Vulnerability of World Cultural Heritage Sites in developing Asian countries, npj Heritage Science, https://www.nature.com/articles/s40494-025-01579-0, truy cập ngày 15/10/2025.
[10] Sudiksha Dhungel, Cultural Heritage Engraved in Blood: A Human Right Beyond Time, Harvard International Law Journal, https://journals.law.harvard.edu/ilj/2025/03/cultural-heritage-engraved-in-blood-a-human-right-beyond-time/, truy cập ngày 15/10/2025.
[11] Silvia Cerisola, Elisa Panzera (2024), The controversial relationship between heritage tourism and local prosperity: An empirical analysis of benefits and challenges, Association for Cultural Economics International, https://culturaleconomics.org/the-controversial-relationship-between-heritage-tourism-and-local-prosperity-an-empirical-analysis-of-benefits-and-challenges/, truy cập ngày 16/10/2025.
[12] Gubaye Assaye Alamineh, Jeylan Wolyie Hussein, Yalew Endaweke Mulu, Bamlaku Taddesse (2022), The negative cultural impact of tourism and its implication on sustainable development in Amhara Regional State, Taylor & Francis Online, https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/23311983.2023.2224597#abstract, truy cập ngày 16/10/2025.
[13] Khoản 2, Điều 3, Luật Di sản văn hóa năm 2024.
[14] Xavier Romão, Chiara Bertolin (2024), Risk protection for cultural heritage and historic centres: Current knowledge and further research needs, ScienceDirect, https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2212420921006130, truy cập ngày 28/10/2025.
[15] Thu Trang, Lâm Sơn (2024), Gian nan phát huy giá trị bảo vật quốc gia (Bài 3): Quy chuẩn nào cho chế độ “đặc biệt”?, Báo Văn hóa, https://baovanhoa.vn/van-hoa/quy-chuan-nao-cho-che-do-dac-biet-95133.html, truy cập ngày 28/10/2025.
[16] Điểm g, Khoản 2, Điều 10, Luật An ninh mạng năm 2018.
[17] Điều 85, Luật Di sản văn hóa năm 2024.
[18] Nguyễn Phương (2024), Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành văn hóa là vô cùng cần thiết, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, https://bvhttdl.gov.vn/xay-dung-co-so-du-lieu-nganh-van-hoa-la-vo-cung-can-thiet-2024100815414209.htm, truy cập ngày 31/10/2025.
[19] Trần Dương (2009), Bác Hồ như chúng tôi đã biết, NXB Thanh niên, tr.166.
[20] Điều 2, Luật Bảo vệ Di tích Văn hóa Trung Quốc năm 1982 (sửa đổi, bổ sung năm 2024).
[21] Điều 2, Luật Bảo vệ Tài sản Văn hóa Nhật Bản năm 1950 (sửa đổi, bổ sung năm 2007).
BÙI SĨ THÀNH

