Cụ thể, theo Điều 11 Nghị định 125/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định về việc xử phạt hành vi vi phạm về thời hạn thông báo thay đổi thông tin trong đăng ký thuế có nêu rõ, các hành vi:
Thứ nhất, thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 01 đến 30 ngày nhưng không làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế mà có tình tiết giảm nhẹ;
Thứ hai, thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 10 ngày làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế mà có tình tiết giảm nhẹ.
Những hành vi nêu trên có thể bị xử phạt cảnh cáo.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Bên cạnh đó, xử phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 01 đến 30 ngày nhưng không làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế, trừ trường hợp xử phạt thứ nhất nêu trên.
Còn đối với các hành vi:
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 31 đến 90 ngày nhưng không làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế;
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 01 ngày đến 30 ngày làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế, trừ trường hợp thứ hai nêu trên.
Những hành vi này thì bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên nhưng không làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế;
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 31 đến 90 ngày làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
- Thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế;
- Không thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế.
Các quy định nêu trên không áp dụng đối với trường hợp:
- Cá nhân không kinh doanh đã được cấp mã số thuế thu nhập cá nhân chậm thay đổi thông tin theo thẻ căn cước, căn cước điện tử;
- Cơ quan chi trả thu nhập chậm thông báo thay đổi thông tin khi người nộp thuế thu nhập cá nhân là các cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân có thay đổi thông tin theo thẻ căn cước, căn cước điện tử;
- Không thông báo hoặc thông báo thay đổi thông tin trên hồ sơ đăng ký thuế về địa chỉ người nộp thuế quá thời hạn quy định do thay đổi địa giới hành chính theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Nghị quyết của Quốc hội.
Như vậy, với hành vi không thông báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế hay thông báo thay đổi nội dung đăng ký thuế quá thời hạn quy định từ 91 ngày trở lên làm thay đổi giấy chứng nhận đăng ký thuế hoặc thông báo mã số thuế thì chủ doanh nghiệp/hộ cá nhân/ cá nhân kinh doanh có thể sẽ bị xử phạt lên đến 07 triệu đồng.
Tài khoản ngân hàng hộ kinh doanh bắt buộc phải đúng tên đăng ký
Cụ thể, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư 25/2025/TT-NHNN ngày 31/8/2025 sửa đổi Thông tư 17/2024/TT-NHNN quy định về việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Trong đó, Thông tư 25/2025/TT-NHNN đã bổ sung điểm c1 vào sau điểm c khoản 1 Điều 13 Thông tư 17/2024/TT-NHNN về số hiệu tài khoản thanh toán, tên tài khoản thanh toán. Trong đó tên tài khoản thanh toán được đặt như sau:
Thứ nhất, đối với tài khoản thanh toán cá nhân, tên tài khoản thanh toán được đặt theo thông tin họ và tên trên giấy tờ tùy thân của khách hàng;
Thứ hai, đối với tài khoản thanh toán tổ chức, tên tài khoản thanh toán phải bao gồm tên của tổ chức trên giấy phép thành lập, quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ chứng minh tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp;
Thứ ba, đối với tài khoản thanh toán chung, tên tài khoản thanh toán do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt trên cơ sở thể hiện được tên của các chủ tài khoản và không trùng với tên tài khoản thanh toán của các cá nhân, tổ chức khác.
Quy định bổ sung trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026.
Như vậy, từ ngày 01/3/2026, tài khoản ngân hàng của hộ kinh doanh phải được mở và đứng tên đúng theo giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.

