/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Kiến tạo quyền lực số: Đột phá biện chứng trong tư duy cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XIV, hướng tới xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu

Kiến tạo quyền lực số: Đột phá biện chứng trong tư duy cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XIV, hướng tới xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ Nhân dân trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu

22/01/2026 07:12 |

(LSVN) - Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026) đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tư duy cầm quyền: chuyển từ kiểm soát quyền lực chống tha hóa sang kiến tạo quyền lực số - một động lực sáng tạo, minh bạch và phục vụ nhân dân. Bài viết lập luận rằng kiến tạo quyền lực số là trình độ phát triển biện chứng cao hơn của tư duy kiểm soát quyền lực, thể hiện bản lĩnh lý luận sắc bén và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên chuyển đổi số. Thông qua phân tích lý luận, đánh giá thực tiễn và so sánh quốc tế, bài viết làm rõ ý nghĩa của Đại hội XIV trong việc tái định vị mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm của hệ thống quyền lực số, hướng tới mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN vào năm 2045.

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh lịch sử đầy ý nghĩa, khi Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển hùng cường và thịnh vượng, việc tổng kết 40 năm Đổi mới (1986 - 2026) không chỉ liệt kê những thành tựu lịch sử mà còn được nâng lên thành nền tảng lý luận - thực tiễn để định hình tư duy cầm quyền mới. Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nghèo nàn, lạc hậu và chịu hậu quả chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, khẳng định vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII (2021) đánh giá sâu sắc: sau 35 năm Đổi mới, GDP bình quân đầu người tăng gấp nhiều lần (từ khoảng 100 USD năm 1986 lên khoảng 5.000 USD năm 2025), tỉ lệ nghèo giảm từ trên 50% xuống dưới 3%, vị thế quốc tế được nâng cao qua các hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP, đưa Việt Nam thành một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á - Thái Bình Dương [1]. Đến năm 2026, thành tựu được củng cố với tăng trưởng trung bình 6-7%/năm, hạ tầng số hóa mạnh mẽ (mạng 5G, trung tâm dữ liệu quốc gia), nguồn nhân lực chất lượng cao theo hướng công nghệ, đưa quy mô GDP vượt 510 tỉ USD, xếp hạng 32 thế giới theo các tổ chức quốc tế uy tín [2]. Những chuyển biến này không chỉ ở chỉ số kinh tế vĩ mô mà còn cải thiện rõ rệt đời sống nhân dân (giảm nghèo bền vững, nông thôn mới kiểu mẫu, đô thị thông minh), khẳng định Đổi mới là cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc, phù hợp quy luật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, biến thách thức thành cơ hội để dân tộc tự cường, tự chủ.

Song hành với đổi mới kinh tế - xã hội là công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng - nhiệm vụ then chốt giữ vững bản chất cách mạng và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Dưới sự lãnh đạo quyết liệt của đồng chí Nguyễn Phú Trọng và tiếp nối bởi đồng chí Tô Lâm, công tác PCTN, tiêu cực, lãng phí đạt đột phá lịch sử, toàn diện, kiên trì, không vùng cấm, không ngoại lệ. Từ 2016 - 2025, hàng trăm cán bộ cao cấp diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, thu hồi hàng nghìn tỉ đồng từ các vụ lớn như Việt Á, FLC, Vạn Thịnh Phát; đồng thời hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, từ trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, thu nhập đến ứng dụng công nghệ số phòng ngừa tham nhũng [3]. Những nỗ lực này củng cố niềm tin nhân dân, duy trì ổn định chính trị - xã hội, tạo động lực phát triển bền vững trong bối cảnh thế giới biến động, như khẳng định tại Hội nghị toàn quốc tổng kết PCTN nhiệm kỳ Đại hội XIII (tháng 12/2025), nơi đồng chí Tô Lâm nhấn mạnh “kiên trì - quyết tâm - đồng thuận - toàn diện - đột phá” [4]. Từ góc độ chính trị học Marxist-Leninist, đây là vận dụng sáng tạo nguyên tắc tự phê bình và phê bình, phòng ngừa tha hóa quyền lực, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao hiệu quả cầm quyền trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển.

Đại hội XIV của Đảng, khai mạc ngày 19/01/2026 tại Hà Nội với 1.586 đại biểu đại diện hơn 5,6 triệu đảng viên, là mốc son lịch sử, tổng kết nhiệm kỳ XIII và định hình tầm nhìn chiến lược cho kỷ nguyên mới [5]. Đại hội diễn ra khi đất nước hoàn thành cơ bản mục tiêu Đại hội XIII, sau 40 năm Đổi mới và 35 năm Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011), đẩy mạnh CNH, HĐH hiện đại, kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, công dân số. Với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội định hướng mục tiêu: đến 2030 (100 năm thành lập Đảng) trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân ~7.500 USD); đến 2045 (100 năm thành lập nước) trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN (GDP bình quân vượt 12.535 USD) [6]. Giai đoạn này mang cơ hội lớn từ CMCN 4.0, chuyển đổi số, kinh tế xanh, nhưng cũng đầy thách thức từ cạnh tranh địa chính trị, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, rủi ro an ninh phi truyền thống. Yêu cầu đối với Đảng không chỉ duy trì ổn định, bảo vệ chủ quyền mà còn đổi mới căn bản tư duy cầm quyền, vượt qua kiểm soát phòng ngừa tha hóa để chủ động kiến tạo quyền lực thành nguồn lực sáng tạo, thúc đẩy đổi mới, khơi dậy khát vọng phát triển, phụng sự nhân dân vì hạnh phúc và phồn vinh dân tộc.

Từ góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, bài viết khẳng định luận đề trung tâm: kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân là trình độ phát triển cao hơn, tất yếu, biện chứng của tư duy kiểm soát quyền lực chống tha hóa, đánh dấu bước tiến mới về chất trong tư duy cầm quyền tại Đại hội XIV. Sự chuyển hóa này kế thừa, phát triển biện chứng thành tựu kiểm soát quyền lực, phù hợp giai đoạn cách mạng mới, thể hiện bản lĩnh lý luận, tầm nhìn chiến lược và năng lực tự đổi mới của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển, hội nhập quốc tế [7]. Qua đó, Đại hội XIV tái định vị mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm thiết kế quyền lực số (sử dụng AI, blockchain, dữ liệu lớn để minh bạch hóa, dân chủ hóa, phục vụ hiệu quả), góp phần phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu [8]. Trong bối cảnh CMCN 4.0 thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số (từ 28,5 tỉ USD lên 62,1 tỉ USD GDP đến 2030), tư duy kiến tạo quyền lực số trở thành tất yếu để biến thách thức thành cơ hội, nâng năng suất lao động, rút ngắn khoảng cách phát triển [9]. Điều này phù hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước XHCN như công cụ phục vụ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tránh tha hóa, hướng tới công bằng, dân chủ, văn minh [10].

Phiên thảo luận tại hội trường về các văn kiện Đại hội sáng 21/01. (Ảnh: TTXVN)

Phiên thảo luận tại hội trường về các văn kiện Đại hội sáng 21/01. (Ảnh: TTXVN)

2. Kiến tạo quyền lực số - Sự phát triển biện chứng của tư duy cầm quyền

Trong lý luận Marxist-Leninist và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng bất biến của Đảng Cộng sản Việt Nam - quyền lực nhà nước là công cụ lịch sử mang bản chất giai cấp, phục vụ nhân dân lao động, giải phóng con người, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, không áp bức, bóc lột. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nhà nước là sản phẩm mâu thuẫn giai cấp không điều hòa; trong XHCN, quyền lực thuộc về nhân dân lao động, do nhân dân làm chủ, vì lợi ích nhân dân, ngăn ngừa tha hóa, quan liêu, tham nhũng [11]. V.I. Lênin nhấn mạnh nhà nước là tổ chức thống trị của giai cấp, quyền lực phải nằm trong tay giai cấp phù hợp lợi ích đa số, tránh lừa dối hoặc đàn áp [12]. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và vận dụng sáng tạo: “tất cả quyền lực trong nước thuộc về Nhân dân”, Nhà nước của dân, do dân, vì dân; cán bộ là “công bộc” của dân, phải phục vụ hết lòng, tránh tha hóa; quyền lực là trách nhiệm, phương tiện thực hiện độc lập dân tộc gắn với CNXH [13], [14]. Những quan điểm này là kim chỉ nam tổ chức, vận hành, kiểm soát quyền lực, hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Trong gần 96 năm cầm quyền (từ 1930), tư duy quyền lực của Đảng phát triển biện chứng, phù hợp từng thời kỳ cách mạng. Giai đoạn đầu (1930 - 1986): quyền lực được nhân dân trao qua đấu tranh cách mạng, chính danh lịch sử; Đảng lãnh đạo giành chính quyền, xây dựng nhà nước công nông, khẳng định quyền lực thuộc liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng - cấp độ cơ bản: quyền lực được trao trên nền tảng tín nhiệm và hy sinh [15]. Giai đoạn Đổi mới (từ Đại hội VI 1986, đặc biệt Đại hội XII - XIII): trọng tâm chuyển sang kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tha hóa, tham nhũng, tiêu cực. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh “kiểm soát chặt chẽ quyền lực”, xây dựng cơ chế vận hành đúng đắn, không tha hóa, hoàn thiện trách nhiệm giải trình, phân công, phối hợp [16]. Công cuộc PCTN “không vùng cấm, không ngoại lệ” dưới lãnh đạo đồng chí Nguyễn Phú Trọng khẳng định tư duy này, ban hành quy định kiểm soát quyền lực, chống “chạy chức, chạy quyền” [17]. Tư duy kiểm soát chứng minh hiệu quả, giữ ổn định chính trị, củng cố niềm tin nhân dân.

Tuy nhiên, trong thế kỷ XXI - với thành tựu ổn định chính trị, kinh tế phát triển, hội nhập sâu, nhưng đối mặt CMCN 4.0, chuyển đổi số, cạnh tranh địa chính trị và nguy cơ suy thoái - tư duy cầm quyền cần phát triển biện chứng lên trình độ cao hơn: từ kiểm soát sang kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân. Kiến tạo không phủ định kiểm soát (điều kiện cần giữ quyền lực trong sạch) mà kế thừa, nâng tầm thành điều kiện đủ: quyền lực trở thành động lực sáng tạo, đổi mới, phát triển đất nước, mang hạnh phúc thực chất cho nhân dân [18]. Kiểm soát phòng ngừa sai phạm, hạn chế lạm quyền; kiến tạo chủ động thiết kế từ gốc (lựa chọn cán bộ phẩm chất, năng lực, dám nghĩ dám làm; cơ chế khuyến khích trách nhiệm, sáng tạo, bảo vệ đổi mới), biến quyền lực từ “vật cần kiểm soát” thành “nguồn năng lượng phát triển”. Trong kỷ nguyên số, kiến tạo tích hợp công nghệ (AI dự báo rủi ro tha hóa, blockchain minh bạch quyết định, nền tảng số phát huy dân chủ trực tuyến, giám sát nhân dân) [19]. Đây là bước tiến chất lượng trong tư duy cầm quyền của Đảng tại Đại hội XIV, phản ánh bản lĩnh lý luận sắc bén, tầm nhìn chiến lược và năng lực tự đổi mới của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong xây dựng CNXH ở quốc gia đang phát triển [20]. Sự chuyển hóa đáp ứng thực tiễn giai đoạn đẩy mạnh chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số, làm phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới, khẳng định Đảng đặt lợi ích nhân dân làm trung tâm, thích ứng tác động CMCN 4.0, biến thách thức thành cơ hội phát triển [21].

3. Đánh giá thực tiễn Việt Nam: Thành tựu, giới hạn và yêu cầu chuyển hóa

Từ Đại hội XII (2016) đến nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021 - 2026), công cuộc PCTN, tiêu cực, lãng phí và xây dựng, chỉnh đốn Đảng dưới lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng và tiếp nối đồng chí Tô Lâm, đạt thành tựu đột phá lịch sử, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố niềm tin nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN. Từ góc độ chính trị học Marxist-Leninist, đây là vận dụng sáng tạo nguyên tắc kiểm soát quyền lực phòng ngừa tha hóa, khẳng định bản lĩnh cầm quyền trong hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, nơi tham nhũng là rào cản phát triển bền vững. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết PCTN nhiệm kỳ Đại hội XIII (tháng 12/2025), đồng chí Tô Lâm khẳng định cuộc đấu tranh tạo đột phá toàn diện, xử lý kiên quyết không vùng cấm, không ngoại lệ, kỷ luật 174 cán bộ Trung ương quản lý, bao gồm nguyên lãnh đạo chủ chốt [22]. Các vụ lớn như Việt Á (tham nhũng kit xét nghiệm Covid-19), FLC (chứng khoán, đất đai), Vạn Thịnh Phát (bất động sản, tài chính) được xử lý nghiêm, thu hồi hàng nghìn tỉ đồng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực (trách nhiệm nêu gương, kiểm soát tài sản, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ số) [23]. Từ đầu nhiệm kỳ XIII, kỷ luật hơn 2.300 tổ chức đảng, hơn 97.400 đảng viên, xử lý hình sự 66 cán bộ; khởi tố 3.325 vụ/8.516 bị can về tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ [24]. Thành tựu nâng cao ý thức liêm chính, nhận được ủng hộ mạnh mẽ từ nhân dân (niềm tin cao nhất nhiều năm), được quốc tế đánh giá cao với CPI cải thiện (từ 39/100 năm 2021 lên 42/100 năm 2022, dù giảm nhẹ 40/100 năm 2024 theo Transparency International), khẳng định PCTN thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, môi trường đầu tư lành mạnh, nâng vị thế quốc gia [25].

Tuy nhiên, với tinh thần biện chứng, khách quan và tự phê bình của đảng cầm quyền Marxist-Leninist, tư duy “chủ yếu kiểm soát quyền lực” dù hiệu quả phòng ngừa tha hóa vẫn lộ giới hạn cấu trúc, đặc biệt khi đất nước cần bứt phá chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu. Trọng tâm phòng ngừa sai phạm, chế tài nghiêm, giám sát chặt khiến một bộ phận cán bộ rơi vào “an toàn hóa quyền lực”, né tránh trách nhiệm, sợ quyết định lớn, dẫn đến “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm cũng không sai” - biểu hiện tiêu cực được lãnh đạo Đảng chỉ ra [26]. Hậu quả giảm năng động, sáng tạo hệ thống chính trị, kìm hãm đổi mới đột phá ở cải cách thể chế, thu hút đầu tư, ứng phó CMCN 4.0 và chuyển đổi số, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, địa chính trị phức tạp. Nếu chỉ kiểm soát để “không sai”, quyền lực thiếu sức sống sáng tạo, không làm động lực phát triển, nguy cơ chậm tăng trưởng, bỏ lỡ cơ hội trở thành nước phát triển, thu nhập cao [27]. Giới hạn càng rõ nét trong chuyển đổi số: tư duy quản lý cũ, mệnh lệnh cứng nhắc, đùn đẩy trách nhiệm gây trì trệ triển khai nền tảng số, chậm xây dựng chính phủ điện tử, né rủi ro ứng dụng AI, giảm hiệu quả khai thác nguồn lực số và lan tỏa kinh tế số [28].

Thực tiễn đặt yêu cầu cấp thiết chuyển hóa tư duy cầm quyền căn bản: từ kiểm soát chống tha hóa sang chủ động kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân, giải phóng năng lượng sáng tạo hệ thống chính trị, khuyến khích cán bộ dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, bảo vệ đổi mới đột phá. Chuyển hóa kế thừa, phát triển biện chứng thành tựu kiểm soát, như đồng chí Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết công tác 2025, triển khai 2026 (tháng 1/2026): PCTN phải quyết liệt, hiệu quả, bền vững hơn, kết hợp xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, thúc đẩy đổi mới tư duy, hành động, chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, chấm dứt đùn đẩy, né tránh [29]. Đây là yêu cầu thực tiễn để quyền lực thành nguồn lực phục vụ nhân dân hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu Đại hội XIV: định hình tầm nhìn chiến lược, đổi mới lãnh đạo, cầm quyền, đưa Việt Nam vào kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng [30]. Kiến tạo quyền lực số đòi hỏi thiết kế cơ chế số (e-governance, chính phủ điện tử) minh bạch quyết định, dự báo rủi ro qua AI, phát huy dân chủ trực tuyến, giải phóng sáng tạo, thúc đẩy kinh tế số (dự kiến chiếm 30% GDP năm 2030 theo Chiến lược quốc gia, tăng trưởng gấp 2-3 lần GDP chung, nâng năng suất lao động bình quân ~8,5%/năm) [31]. Chuyển hóa này đáp ứng kỷ nguyên chuyển đổi số, khẳng định tầm vóc lý luận và bản lĩnh chính trị của Đảng, góp phần xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân hiệu quả trong hội nhập toàn cầu.

4. Đại hội XIV - Dấu mốc lịch sử chuyển hóa tư duy cầm quyền

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, khai mạc ngày 19/01/2026 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với 1.586 đại biểu đại diện hơn 5,6 triệu đảng viên, là sự kiện chính trị trọng đại nhất năm 2026 và dấu mốc lịch sử chuyển tiếp giữa hai giai đoạn phát triển lớn lao của dân tộc, khẳng định bản lĩnh lý luận và tầm nhìn chiến lược của đảng cầm quyền Marxist-Leninist trong kỷ nguyên chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu [32]. Đại hội diễn ra khi đất nước cơ bản hoàn thành mục tiêu Đại hội XIII, với thành tựu toàn diện sau 40 năm Đổi mới (1986 - 2026) và 35 năm Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011), tạo nền tảng vững chắc để đẩy mạnh CNH, HĐH hiện đại, phát triển kinh tế số, xã hội số, chính phủ số, công dân số, hướng tới năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng XHCN [33]. Với chủ đề “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH” và phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, Đại hội tổng kết bài học nhiệm kỳ XIII, kiểm điểm lãnh đạo Trung ương, đồng thời định hướng chiến lược dài hạn, đưa ra quyết sách đột phá đáp ứng thời đại mới [34]. Đại hội đối mặt thách thức chưa từng có: CMCN 4.0 đòi hỏi đổi mới mô hình tăng trưởng; biến đổi khí hậu ảnh hưởng an ninh lương thực, tài nguyên; cạnh tranh địa chính trị gay gắt; rủi ro suy thoái kinh tế hậu đại dịch, già hóa dân số, an ninh phi truyền thống [35]. Những thách thức đòi hỏi Đảng có tầm nhìn vượt trước, bản lĩnh vững vàng, năng lực lãnh đạo sáng tạo để biến thách thức thành cơ hội, đưa dân tộc vào “kỷ nguyên vươn mình”, “kỷ nguyên phát triển hùng cường, thịnh vượng” [36].

Từ góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng, Đại hội XIV tập trung định hướng giai đoạn mới với trọng tâm chuyển hóa tư duy cầm quyền: từ phòng ngừa, kiểm soát tha hóa quyền lực (thành tựu đột phá nhiệm kỳ XII-XIII) sang chủ động tổ chức, thiết kế, vận hành quyền lực chiến lược, hệ thống phục vụ phát triển nhanh, bền vững, vì hạnh phúc và phồn vinh nhân dân. Dự thảo Văn kiện, đặc biệt Báo cáo chính trị do đồng chí Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc, thể hiện thông điệp lịch sử với tính hành động cao: đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực trung tâm; kiến tạo hệ thống quyền lực năng động, hiệu quả, khuyến khích dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung [37]. Văn kiện nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt tăng trưởng, nâng năng suất, cạnh tranh, hiệu quả quản trị, tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng an ninh, tạo mô hình kinh doanh, việc làm, giá trị gia tăng mới [38]. Sự chuyển hóa đòi hỏi đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị, phân bổ nguồn lực, biến quyền lực thành nguồn lực kiến tạo phát triển thay vì chỉ phòng ngừa sai phạm [39]. Đây là bước tiến lịch sử - chính trị sâu sắc, khẳng định Đảng với gần 96 năm lãnh đạo cách mạng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền phù hợp thời đại, đặt lợi ích nhân dân và dân tộc lên trên hết, làm phong phú lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong CNXH và hội nhập quốc tế [40]. Đại hội XIV củng cố niềm tin nhân dân vào Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, khẳng định Đảng là “nhà kiến trúc sư số” của hệ thống quyền lực trong kỷ nguyên mới [41].

5. Mô hình quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân trong điều kiện kiến tạo quyền lực số

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ là nền tảng bất biến, cốt lõi của hệ thống chính trị Việt Nam theo định hướng XHCN, được khẳng định xuyên suốt từ Cương lĩnh (1991, bổ sung 2011) đến Văn kiện Đại hội XIII và Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV [42]. Nguyên tắc này phản ánh bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN, đồng thời thể hiện triết lý nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: quyền lực thuộc về nhân dân, Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay, không bao cấp, mà thông qua đường lối đúng đắn, cơ chế phù hợp để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, biến sức mạnh nhân dân thành động lực phát triển đất nước [43]. Trong gần 40 năm Đổi mới, đặc biệt nhiệm kỳ Đại hội XIII, nguyên tắc được cụ thể hóa qua hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, đẩy mạnh dân chủ hóa, tăng cường giám sát quyền lực và xây dựng cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, góp phần vào thành tựu toàn diện [44]. Khi tư duy cầm quyền chuyển lên kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân - bước phát triển biện chứng tất yếu tại Đại hội XIV -, mối quan hệ ba chủ thể được nâng tầm căn bản, sâu sắc: từ phòng ngừa tha hóa, kiểm soát lạm quyền sang tổ chức, thiết kế, vận hành quyền lực chủ động, hệ thống, biến quyền lực thành nguồn lực sáng tạo mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, mang lại hạnh phúc thực chất cho nhân dân. Sự nâng tầm giữ nguyên bản chất nguyên tắc, làm nguyên tắc sống động, thực chất hơn, phù hợp giai đoạn cách mạng mới - đẩy mạnh CNH, HĐH, chuyển đổi số và kinh tế độc lập, tự chủ gắn hội nhập sâu rộng [45].

Trước hết, Đảng lãnh đạo bằng đường lối đúng đắn, khoa học, sát thực tiễn; tuyển chọn, bố trí cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực nổi bật, tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chủ động thiết kế cơ chế vận hành quyền lực số hướng tới nhân dân, xuất phát từ nhân dân, phục vụ nhân dân. Trong tư duy kiến tạo, Đảng trở thành “nhà kiến trúc sư số”: xây dựng thể chế khuyến khích sáng tạo, bảo vệ cán bộ đột phá, ràng buộc trách nhiệm để quyền lực trong sạch, liêm chính [46]. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo, hoàn thiện cơ chế để Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước, không bao biện xã hội, tập trung định hướng chiến lược, giám sát quyền lực, phát huy dân chủ [47]. Thứ hai, Nhà nước quản lý phải chuyên nghiệp hóa, hiệu quả hóa, trở thành Nhà nước phục vụ nhân dân, kiến tạo phát triển: bộ máy tinh gọn, hành chính hiện đại, ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ, công khai minh bạch, tạo môi trường thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng chính sách và giám sát thực thi quyền lực. Trong kiến tạo quyền lực số, Nhà nước là “cầu nối” thực chất giữa Đảng và nhân dân, biến đường lối thành chính sách cụ thể, khả thi, mang lợi ích thiết thực; tạo điều kiện nhân dân tham gia quản lý qua Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, hội đồng nhân dân các cấp và nền tảng dân chủ trực tuyến [48]. Chuyển hóa đòi hỏi vượt tư duy “quản lý kiểu cũ”, hướng tới quản trị hiện đại, lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo, như mô hình Chính phủ số Việt Nam đang triển khai [49]. Thứ ba, Nhân dân là trung tâm thực sự của thiết kế và vận hành quyền lực số: không chỉ thụ hưởng mà là chủ thể sáng tạo, tham gia trực tiếp, thực chất vào xây dựng đường lối, thực thi và giám sát quyền lực qua kênh dân chủ mở rộng. Trong tư duy kiến tạo, vị trí nhân dân được nâng tầm: không chỉ giám sát mà đồng sáng tạo quyền lực, khơi dậy khát vọng cống hiến, phát huy đại đoàn kết, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, khởi nghiệp, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc [50]. Đây là cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh “dân là gốc”, quyền lực của dân, do dân, vì dân; chỉ khi nhân dân thực sự làm chủ, quyền lực mới thành nguồn năng lượng vô tận cho phát triển [51].

So với mô hình phân quyền phương Tây (cân bằng quyền lực giữa các nhánh để hạn chế lạm quyền nhưng dễ trì trệ, thiếu thống nhất), mô hình Việt Nam nổi bật ở tính thống nhất lãnh đạo dưới Đảng Cộng sản, kết hợp hài hòa tập trung dân chủ và dân chủ rộng rãi, mang tính nhân văn sâu sắc: quyền lực phục vụ nhân dân, mục tiêu chung dân tộc, hạnh phúc và phồn vinh mọi người [52]. Tính thống nhất đảm bảo hành động nhanh chóng, quyết liệt khi cần thiết; tính nhân văn - lấy con người làm trung tâm, mục tiêu phát triển - giúp tránh bất cập của mô hình khác, khẳng định bản sắc CNXH khoa học ở quốc gia đang phát triển [53]. Ví dụ, Singapore thành công với e-governance qua Sáng kiến Smart Nation (từ 2014), Văn phòng Quốc gia Thông minh và Chính phủ số (SNDGO) dẫn dắt, tập trung hạ tầng số, dữ liệu, bảo mật, tạo chính phủ số hiệu quả, minh bạch; Việt Nam có thể học hỏi để xây dựng Chính phủ số, kinh tế số nhưng giữ vững bản sắc XHCN, đảm bảo quyền lực số phục vụ nhân dân, không rơi vào tay nhóm lợi ích [54]. Tóm lại, trong tư duy kiến tạo quyền lực số mà Đại hội XIV định hướng, mô hình quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân được nâng tầm thành hệ thống quyền lực năng động, sáng tạo, thống nhất và nhân văn, góp phần quan trọng thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới [55].

6. Kết luận

Tư duy kiến tạo quyền lực số phục vụ nhân dân mà Đại hội XIV định hướng là bước chuyển biến chiến lược quan trọng, đáp ứng yêu cầu giai đoạn cách mạng mới, đồng thời mang giá trị lý luận lâu dài, làm phong phú thêm lý luận xây dựng đảng cầm quyền kiểu mới trong điều kiện xây dựng CNXH và hội nhập quốc tế.

Sự phát triển biện chứng từ kiểm soát quyền lực (phòng ngừa tha hóa, tham nhũng, tiêu cực) sang kiến tạo quyền lực số - chủ động thiết kế, tổ chức và vận hành quyền lực bằng công nghệ số (AI, blockchain, dữ liệu lớn) để trở thành nguồn lực sáng tạo, minh bạch, dân chủ, hiệu quả - khẳng định bản lĩnh lý luận sắc bén, tầm nhìn chiến lược sâu rộng và năng lực tự đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng cầm quyền Marxist-Leninist chân chính trong kỷ nguyên chuyển đổi số và CMCN 4.0.

Đại hội XIV tái định vị mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Nhân dân, lấy nhân dân làm trung tâm thiết kế quyền lực số: Đảng là nhà kiến trúc sư số lãnh đạo đường lối, Nhà nước là chính phủ số phục vụ minh bạch, hiệu quả, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và giám sát thực chất. Sự chuyển hóa này kế thừa, nâng tầm thành tựu kiểm soát quyền lực, giải phóng năng lượng sáng tạo hệ thống chính trị, khuyến khích cán bộ dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, bảo vệ đột phá đổi mới, biến thách thức thành cơ hội để Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên vươn mình hùng cường, thịnh vượng.

Với tư duy cầm quyền mới, Đảng tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong, bản lĩnh chính trị và trí tuệ lãnh đạo, củng cố niềm tin nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc. Trong kỷ nguyên Đại hội XIV, tư duy kiến tạo quyền lực số sẽ là động lực mạnh mẽ để Việt Nam thực hiện khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích nhân dân và vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại, góp phần phong phú lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH khoa học ở quốc gia đang phát triển.

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội.

[2] Báo Nhân Dân (2025). Thành tựu 40 năm đổi mới khẳng định tầm vóc Việt Nam.

[3] Tạp chí Cộng sản (2025). Kiên trì - Quyết tâm - Đồng thuận - Toàn diện - Đột phá trong PCTN, lãng phí, tiêu cực.

[4] Báo Thanh tra Việt Nam (2025). Phát biểu kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực.

[5] Báo Nhân Dân (2026). Trực tiếp phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. NXB CTQGST, Hà Nội.

[7] Tạp chí Cộng sản (2026). Bảo đảm văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.

[8] Tạp chí Cộng sản (2025). Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số.

[9] Tạp chí Cộng sản (2022). Tác động của cuộc CMCN 4.0 đến thế giới, khu vực và Việt Nam.

[10] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 5, NXB CTQGST, Hà Nội.

[11] Tạp chí Cộng sản (2007). Quan điểm của V.I. Lê-nin về nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

[12] Tạp chí Cộng sản (2020). Quan điểm của V.I. Lê-nin về nhà nước kiểu mới và ý nghĩa đối với Việt Nam.

[13] Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập, Tập 5, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về cán bộ là công bộc của dân).

[14] Báo Nhân Dân (2025). Tư tưởng “trọng dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

[15] Tạp chí Cộng sản (2022). Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “vị thế công bộc” của người cán bộ lãnh đạo và giá trị tham khảo trong công tác cán bộ hiện nay.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, NXB CTQGST, Hà Nội (phần về kiểm soát quyền lực và đổi mới phương thức lãnh đạo).

[17] Báo Tuổi Trẻ (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm: PCTN, lãng phí, tiêu cực tuyệt đối không làm kiểu phong trào.

[18] Tạp chí Cộng sản (2025). Công tác tổ chức xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trước yêu cầu chuyển đổi số.

[19] Tạp chí Cộng sản (2026). Bảo đảm văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.

[20] Tạp chí Cộng sản (2022). Tác động của cuộc CMCN 4.0 đến thế giới, khu vực và Việt Nam.

[21] Báo Nhân Dân (2026). Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[22] Tạp chí Cộng sản (2025). Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng.

[23] Báo Lào Cai (2025). Dấu ấn công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực.

[24] Báo Quân đội Nhân dân (2025). Công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực phải quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn.

[25] Transparency International (2025). Corruption Perceptions Index 2024: Vietnam.

[26] Báo Nhân Dân (2025). Một số cán bộ có tư tưởng ‘làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít’.

[27] Tạp chí Lý luận chính trị (2025). Xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam: Thuận lợi và khó khăn, thách thức.

[28] Tạp chí Quản lý nhà nước (2026). Công tác phòng, chống quan liêu theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ.

[29] Báo Chính phủ (2026). Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc Chính phủ và chính quyền địa phương.

[30] Báo Hải quân Việt Nam (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm: Chuyển mạnh và thực chất tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”, chấm dứt đùn đẩy, né tránh.

[31] Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Việt Nam đặt mục tiêu kinh tế số chiếm tỉ trọng 30% GDP vào 2030.

[32] Báo Tiền Phong (2026). Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[33] Báo Chính phủ (2026). TRỰC TIẾP: Long trọng khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[34] Báo Tin tức (2026). Khai mạc Đại hội XIV của Đảng: Quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược đối với tương lai và vận mệnh của dân tộc.

[35] VietnamPlus (2026). Khai mạc Đại hội XIV của Đảng: Quyết định những vấn đề mang tầm chiến lược.

[36] Báo Quân đội Nhân dân (2026). Ý nghĩa, giá trị của phương châm Đại hội XIV của Đảng.

[37] VnExpress (2026). Tổng Bí thư Tô Lâm báo cáo về các văn kiện trình Đại hội Đảng XIV.

[38] Tạp chí Cộng sản (2026). Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[39] Báo Lai Châu (2026). Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển.

[40] Đại hội Đảng (2026). Ngày 20/1/2026, Khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

[41] Vietnam.vn (2025). Góp ý văn kiện Đại hội XIV: Cơ hội lớn từ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

[42] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011). NXB CTQGST, Hà Nội.

[43] Tạp chí Cộng sản (2025). Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân trong kỷ nguyên mới.

[44] Luật sư Việt Nam (2025). Từ kiểm soát quyền lực đến kiến tạo quyền lực phục vụ Nhân dân.

[45] Bộ Nội vụ (2025). Kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền.

[46] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2025). Về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

[47] Đại biểu Nhân dân (2025). Bài 3: Phương thức cầm quyền dân chủ, linh hoạt, tập trung, thống nhất, hiệu quả của Đảng.

[48] Tạp chí Quản lý nhà nước (2025). Kinh nghiệm chuyển đổi số quốc gia của Estonia, Hàn Quốc, Singapore và hàm ý chính sách cho Việt Nam.

[49] Kinh tế và Dự báo (2025). Xu hướng tích hợp các giá trị công trong phát triển năng lực quản trị số - Một số gợi ý chính sách cho tiến trình chuyển đổi số tại Việt Nam.

[50] Viện Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại (2025). Đổi mới sáng tạo trong quản trị khu vực công trong thời đại số - Kinh nghiệm từ các nước phát triển và khuyến nghị cho Việt Nam.

[51] Tạp chí Khoa học chính trị (2025). Quản trị nhà nước tốt - nguồn gốc thành công của Singapore và những bài học cho Việt Nam.

[52] Bộ Tư pháp (2025). Khả năng áp dụng mô hình nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.

[53] VNU Journal of Science (2025). Developing Digital Government in Some Asian Countries and Lessons for Vietnam.

[54] Tạp chí Chính trị và Phát triển (2025). Kinh nghiệm xây dựng Chính phủ điện tử ở một số quốc gia trên thế giới - Bài học cho Việt Nam.

[55] Tạp chí Nghiên cứu Công nghiệp và Thương mại (2025). Mô hình kinh tế số tại Singapore và một số đề xuất cho Việt Nam.

LÊ HÙNG

BÙI QUỐC TUẤN

Học viện Chính trị khu vực I