Kinh tế xanh – Xu hướng tất yếu để hội nhập và phát triển
Kinh tế xanh (Green economy) được định nghĩa là nền kinh tế phát thải carbon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm tính bao trùm xã hội. Trong nền kinh tế xanh, tăng trưởng việc làm và thu nhập được thúc đẩy bởi các khoản đầu tư công và tư vào các hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng và tài sản giúp giảm phát thải carbon và ô nhiễm, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, đồng thời ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái”. Hiểu một cách đơn giản, kinh tế xanh là mô hình phát triển bền vững, trong đó tăng trưởng kinh tế gắn liền với trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Trên thế giới, đã có nhiều quốc gia tiên phong trong việc thiết lập và thúc đẩy kinh tế xanh như Đan Mạch, Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc… thông qua các biện pháp như áp dụng chính sách thuế đặc biệt và ban hành các đạo luật liên quan, chuyển đổi ứng dụng công nghiệp năng lượng tái tạo, hỗ trợ tài chính ở quy mô lớn, sử dụng Bộ chỉ số về phát triển kinh tế xanh để đánh giá và kiểm soát nền kinh tế xanh… Điều này cho thấy kinh tế xanh đang là vấn đề chung toàn cầu và có xu hướng trở thành “chuẩn mực mới” của nền kinh tế thế giới.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Không chỉ dừng lại ở phạm vi từng quốc gia hay khu vực, một số chính sách kinh tế xanh còn tạo ra những ảnh hưởng đáng kể đến các quốc gia khác trên toàn cầu. Điển hình là Cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới (CBAM) được Liên minh châu Âu (EU) chính thức áp dụng kể từ năm 2026. Cơ chế này vận hành dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó EU sẽ áp đặt một khoản phí đối với một số loại hàng hóa nhất định nhập khẩu vào EU căn cứ vào khối lượng khí nhà kính phát thải ròng ra môi trường trong quá trình sản xuất liên quan tới hàng hóa đó ở nước xuất khẩu. Điều này khiến chi phí carbon trở thành một yếu tố cấu thành trong giá thành của sản phẩm khi doanh nghiệp tiếp cận thị trường EU. Khi đó, nếu doanh nghiệp không kiểm soát và cắt giảm phát thải, hàng hóa xuất khẩu sẽ phải gánh thêm chi phí, làm giảm lợi nhuận và suy giảm lợi thế cạnh tranh. Có thể thấy, kinh tế xanh lúc này không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay.
Việt Nam nhập cuộc – Thích ứng khi “luật chơi” thay đổi và thách thức mới cho doanh nghiệp
Việt Nam cũng không đứng ngoài cuộc trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường và cơ chế định giá carbon đang định hình lại thương mại toàn cầu nói trên. Khi những yêu cầu về phát thải và quản trị bền vững dần trở thành chuẩn mực chung, thì việc chủ động thích ứng là bước đi cần thiết để tránh nguy cơ bị thu hẹp thị phần và suy giảm vai trò trong chuỗi giá trị quốc tế.
Theo dữ liệu gần nhất (2024), Việt Nam xếp hạng 79 trên 160 quốc gia về chỉ số kinh tế xanh toàn cầu, cho thấy nền kinh tế xanh của nước ta đang trên đà chuyển mình tích cực, song vẫn còn cần cải thiện để đáp ứng các chuẩn mực quốc tế ngày càng cao.
Trên thực tế, Việt Nam đã có những bước đi cụ thể, khởi đầu bằng cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050 tại Hội nghị các Bên tham gia Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về HYPERLINK "https://laodong.vn/the-gioi/su-suy-giam-ozone-tang-trung-luu-dong-vai-tro-gi-trong-bien-doi-khi-hau-945261.ldo" \o "Biến đổi khí hậu" \t "https://moit.gov.vn/bao-ve-moi-truong/_blank" Biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26) tổ chức ở Glasgow (Vương Quốc Anh) vào cuối năm 2021. Đầu năm 2022, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050”, đặt nền tảng cho việc lồng ghép mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững vào các chính sách ngành. Kể từ thời điểm đó đến nay, các bộ, ngành liên quan tiếp tục ban hành chương trình hành động, kế hoạch thực hiện và từng bước cụ thể hóa các cam kết đã đề ra. Song song đó, hệ thống pháp luật cũng được rà soát, sửa đổi và bổ sung theo hướng đồng bộ với định hướng tăng trưởng xanh, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi trong dài hạn.

Hội nghị COP26. (Ảnh: REUTERS/TTXVN).
Những thay đổi này tác động trực tiếp đến cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam và dự kiến sẽ còn xuất hiện nhiều chuyển biến trong thời gian tới. Trong bối cảnh “luật chơi” mới được thiết lập, doanh nghiệp có thể sẽ phải đối mặt với một số thách thức đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, chi phí tuân thủ gia tăng và áp lực tái cấu trúc mô hình kinh doanh.
Khi các quy định về môi trường và phát thải ngày càng chặt chẽ, doanh nghiệp phải đầu tư vào hệ thống xử lý chất thải, công nghệ năng lượng, thiết bị đo lường – kiểm kê khí nhà kính, cũng như xây dựng quy trình báo cáo và công bố thông tin theo chuẩn mực mới. Bên cạnh đó là chi phí tư vấn, vận hành, chi phí đào tạo nhân sự…. Việc gia tăng chi phí đầu vào có thể làm giảm biên lợi nhuận, đồng thời tạo áp lực điều chỉnh giá thành sản phẩm hoặc tái cơ cấu hoạt động sản xuất. Quá trình chuyển đổi sang sản xuất sạch hơn và mô hình kinh tế tuần hoàn này đòi hỏi nguồn lực tài chính, nhân sự và năng lực quản trị đáng kể, đặt ra yêu cầu cao về tầm nhìn chiến lược và khả năng thích ứng dài hạn.
Thứ hai, rủi ro mất lợi thế cạnh tranh nếu chậm chuyển đổi.
Những doanh nghiệp không kịp thích ứng với các yêu cầu về phát thải và minh bạch chuỗi cung ứng có thể bị hạn chế tiếp cận thị trường xuất khẩu, bị loại khỏi chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia hoặc khó thu hút vốn đầu tư. Về dài hạn, sự chậm trễ trong chuyển đổi còn có thể làm gia tăng khoảng cách công nghệ so với đối thủ, khiến doanh nghiệp mất dần vị thế trên thị trường cả trong và ngoài nước.
Thứ ba, các rủi ro pháp lý tiềm ẩn gia tăng.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập hệ thống chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và cả truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh định hướng phát triển kinh tế xanh ngày càng rõ nét và tiêu chuẩn về môi trường ngày càng được nâng cao, việc Nhà nước mở rộng phạm vi điều chỉnh và tăng nặng chế tài là hoàn toàn có thể xảy ra. Khi đó, mức độ rủi ro pháp lý sẽ cao hơn, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực tuân thủ, rà soát quy trình nội bộ, cập nhật kịp thời các quy định mới và tích hợp yếu tố môi trường – bền vững vào chiến lược quản trị ngay từ đầu, thay vì chỉ xử lý khi rủi ro đã phát sinh nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại có thể phát sinh.
Luật sư Việt Nam – Vai trò và cơ hội trước làn sóng kinh tế xanh
Trong bối cảnh khu vực công đang tích cực hoàn thiện thể chế và tăng cường hiệu lực thực thi, đồng thời khu vực tư nhân phải nhanh chóng thích ứng và bảo đảm tuân thủ các tiêu chuẩn mới, luật sư – với vị thế là chủ thể đứng giữa hỗ trợ pháp lý – ngày càng giữ vai trò then chốt, từ đó mở ra nhiều cơ hội nghề nghiệp. Một số vai trò và cơ hội mới của luật sư có thể kể đến như sau:
Trước hết, luật sư đảm nhiệm vai trò hỗ trợ xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý “xanh”, từ đó có cơ hội nâng cao vị thế nghề nghiệp và năng lực cạnh tranh.
Quá trình “xanh hóa” nền kinh tế quốc gia tất yếu kéo theo nhu cầu sửa đổi, bổ sung và ban hành hàng loạt quy định mới trong các lĩnh vực như môi trường, doanh nghiệp, đầu tư, tài chính… theo hướng rõ ràng, khả thi và sát với thực tiễn hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Để đạt được mục tiêu đó, sự tham gia của các chủ thể có cả kiến thức pháp luật và am hiểu thị trường là hết sức cần thiết, đặc biệt là đội ngũ luật sư. Với vai trò là người thường xuyên tư vấn, đồng hành pháp lý cùng doanh nghiệp, luật sư có điều kiện thấu hiểu những khó khăn, vướng mắc và nhu cầu tuân thủ thực tế của thị trường. Nhờ góc nhìn này, luật sư có thể đóng góp ý kiến thiết thực trong quá trình xây dựng và sửa đổi chính sách, giúp quy định mới đảm bảo tính khả thi, tránh gây “cú sốc” chính sách dẫn đến thiệt hại không cần thiết cho doanh nghiệp và tăng khả năng đồng thuận từ phía khu vực tư nhân; từ đó, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật và giúp quá trình chuyển đổi sang kinh tế xanh diễn ra ổn định, hiệu quả và bền vững hơn.

Thạc sĩ, Luật sư Lê Ngô Hoài Phong, Trưởng Văn phòng Luật sư Phong & Partners.
Trong vai trò đó, luật sư có cơ hội tham gia định hình các quy định pháp luật thông qua hoạt động góp ý dự thảo, phản biện chính sách và tham gia các diễn đàn liên quan đến pháp luật môi trường. Quá trình này giúp luật sư từng bước mở rộng mạng lưới nghề nghiệp, khẳng định tiếng nói chuyên môn, nâng cao vị thế và uy tín trong cộng đồng pháp lý cũng như trong mắt doanh nghiệp.
Đồng thời, khi am hiểu sâu sắc định hướng chính sách và tư duy lập pháp, luật sư sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt trong hoạt động tư vấn. Việc nắm bắt được “tinh thần” của nhà làm luật và xu hướng điều chỉnh pháp lý giúp luật sư không chỉ giải thích quy định hiện hành, mà còn dự liệu được những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai. Trong bối cảnh pháp luật vận động nhanh và ngày càng phức tạp, năng lực này trở thành một giá trị gia tăng quan trọng, giúp luật sư có thể cung cấp cho doanh nghiệp các giải pháp mang tính chiến lược và dài hạn.
Bên cạnh đó, luật sư với vai trò phổ biến và hướng dẫn thực thi pháp luật do doanh nghiệp có thể đem đến cơ hội mở rộng phạm vi hành nghề.
Trong bối cảnh các quy định và cơ chế “xanh” liên tục được bổ sung và hoàn thiện, vai trò phổ biến và hướng dẫn thực thi pháp luật của luật sư ngày càng được khẳng định. Khi Nhà nước ban hành thêm các tiêu chuẩn về môi trường hay quy định về quản trị theo hướng phát triển bền vững, doanh nghiệp không chỉ cần nắm được nội dung văn bản mà còn phải hiểu cách áp dụng phù hợp với đặc thù hoạt động của mình.
Mặc dù cơ quan nhà nước cũng có chức năng hướng dẫn và giải thích pháp luật, song trên thực tế, việc hỗ trợ thường mang tính khái quát và áp dụng chung cho nhiều đối tượng. Do hạn chế về nguồn lực và phạm vi quản lý rộng, cơ quan quản lý khó có thể đi sâu vào từng mô hình kinh doanh cụ thể hoặc phản hồi kịp thời trước các tình huống phát sinh đa dạng trong thực tiễn.
Trong khi đó, luật sư – với vai trò đồng hành trực tiếp – có điều kiện nghiên cứu đặc thù hoạt động, cơ cấu tổ chức và chiến lược của từng doanh nghiệp để đưa ra hướng dẫn cụ thể và kịp thời hơn. Luật sư không chỉ diễn giải quy định mà còn giúp “cá thể hóa” việc áp dụng pháp luật. Chính sự khác biệt về mức độ chuyên sâu và tính linh hoạt này tạo ra cơ hội mở rộng phạm vi hành nghề cho luật sư. Khi các cơ chế “xanh” ngày càng nhiều và có tính kỹ thuật cao, nhu cầu về dịch vụ tư vấn, hướng dẫn thực thi chuyên biệt trong lĩnh vực pháp lý môi trường sẽ gia tăng, qua đó mở rộng không gian nghề nghiệp cho luật sư. Doanh nghiệp qua đó cũng sẽ có thể xây dựng được “vùng an toàn pháp lý” cần thiết để đội ngũ lãnh đạo yên tâm hoạt động trong quá trình chuyển đổi, từ đó tập trung nguồn lực cho chiến lược, đổi mới và phát triển bền vững thay vì phải phân tán sự chú ý vào những bất ổn pháp lý tiềm ẩn.
Kết luận
Có thể thấy, kinh tế xanh không chỉ là một xu hướng, mà là một cuộc tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững. Sự chuyển dịch này tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp, buộc họ phải thích ứng để duy trì năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự tồn tại lâu dài; và trong tiến trình đó, luật sư không thể đứng ngoài cuộc. Đối với luật sư Việt Nam, kinh tế xanh không chỉ tạo ra những thách thức về chuyên môn, mà còn đem đến cơ hội mở rộng phạm vi hành nghề. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động định hình, phổ biến và hướng dẫn thực thi các quy định mới, luật sư Việt Nam cũng đứng trước cơ hội nâng tầm vị thế nghề nghiệp, khẳng định mạnh mẽ hơn giá trị và vai trò của mình trong mắt cộng đồng, doanh nghiệp.
1. Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) (2018), “Kinh tế xanh”, HYPERLINK "https://www.unep.org/regions/asia-and-pacific/regional-initiatives/supporting-resource-efficiency/green-economy" https://www.unep.org/regions/asia-and-pacific/regional-initiatives/supporting-resource-efficiency/green-economy, ngày 31/1/2018.
2. Tạp chí Pháp lý (2026), “Pháp luật về phát triển kinh tế xanh của một số nước và gợi mở cho Việt Nam”, HYPERLINK "https://phaply.net.vn/phap-luat-ve-phat-trien-kinh-te-xanh-cua-mot-so-nuoc-va-nhung-goi-mo-cho-viet-nam-a257841.html" https://phaply.net.vn/phap-luat-ve-phat-trien-kinh-te-xanh-cua-mot-so-nuoc-va-nhung-goi-mo-cho-viet-nam-a257841.html, ngày 16/1/2026.
3. Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI, “Lộ trình thực hiện CBAM?”, HYPERLINK "https://trungtamwto.vn/xuat-khau-xanh/27938-lo-trinh-thuc-hien-cbam" https://trungtamwto.vn/xuat-khau-xanh/27938-lo-trinh-thuc-hien-cbam, truy cập ngày 26/2/2026.
4. Trung tâm WTO và Hội nhập - VCCI, “CBAM là gì?”, HYPERLINK "https://trungtamwto.vn/xuat-khau-xanh/27941-cbam-la-gi" https://trungtamwto.vn/xuat-khau-xanh/27941-cbam-la-gi, truy cập ngày 26/2/2026.
5. Báo điện tử VnExpress (2024), “Việt Nam đứng thứ 79 thế giới về kinh tế xanh”, HYPERLINK "https://vnexpress.net/viet-nam-dung-thu-79-the-gioi-ve-kinh-te-xanh-4763230.html" https://vnexpress.net/viet-nam-dung-thu-79-the-gioi-ve-kinh-te-xanh-4763230.html, ngày 27/6/2024.
6. Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), “Việt Nam triển khai các cam kết khí hậu tại COP26”, HYPERLINK "https://mae.gov.vn/viet-nam-trien-khai-cac-cam-ket-khi-hau-tai-cop26-19890.htm" https://mae.gov.vn/viet-nam-trien-khai-cac-cam-ket-khi-hau-tai-cop26-19890.htm, ngày 30/9/2025.
Thạc sĩ, Luật sư LÊ NGÔ HOÀI PHONG
VŨ THỊ LAN
Văn phòng Luật sư Phong & Partners.

