/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV: Lập pháp “thần tốc” 49 luật trong 40 ngày - Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV: Lập pháp “thần tốc” 49 luật trong 40 ngày - Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm

02/01/2026 07:41 |

(LSVN) - Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV (20/10 - 11/12/2025) - kỳ họp cuối nhiệm kỳ 2021 - 2026 - lập kỷ lục khi xem xét, thông qua 49 luật và 4 nghị quyết chỉ trong 40 ngày làm việc thực chất [1]. Đây là minh chứng sống động cho tư duy lập pháp “đi trước một bước” theo Nghị quyết 66-NQ/TW, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thể chế hóa kịp thời các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị [2].

Bài viết đánh giá ba cơ chế đổi mới chính: (i) rút gọn thời gian với thủ tục “một lần cho ý kiến, một lần thông qua” cho 11 dự án bổ sung; (ii) bỏ chất vấn trực tiếp, thay bằng thảo luận báo cáo tổng hợp; (iii) luật hóa cam kết hành chính của Chính phủ. Từ đó phân tích thành tựu (hoàn thành 90% chương trình lập pháp 2025, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế), hạn chế (rủi ro chất lượng dự luật, khoảng trống thi hành), và rút ra bài học kinh nghiệm (tăng cường ứng dụng AI trong thẩm tra, giám sát lai hóa trực tuyến, hoàn thiện lộ trình luật hóa cam kết) nhằm nâng cao hiệu quả lập pháp cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI.

1. Cơ sở lý luận và bối cảnh tổ chức Kỳ họp thứ 10

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV không chỉ là một sự kiện lập pháp thường kỳ mà còn mang tính bước ngoặt lịch sử, đánh dấu sự kết thúc nhiệm kỳ 2021 - 2026 đồng thời mở ra định hướng chiến lược cho giai đoạn 2026 - 2030, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế pháp quyền XHCN đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ góc độ lý luận pháp lý, kỳ họp này thể hiện sự kế thừa và phát triển biện chứng các quan điểm cốt lõi về lập pháp trong hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, nơi mà hoạt động lập pháp không còn bị giới hạn ở vai trò phản ứng thụ động trước thực tiễn mà được nâng tầm thành công cụ chủ động kiến tạo động lực phát triển quốc gia.

Cụ thể, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (tháng 2/2021) đã lần đầu tiên khẳng định rõ ràng rằng lập pháp phải “đi trước một bước về thể chế” để tạo động lực phát triển mới, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng [3]. Quan điểm này không chỉ là một định hướng chiến lược mà còn là nguyên tắc phương pháp luận, chuyển dịch từ lập pháp “reactive” (phản ứng với các vấn đề đã phát sinh) sang lập pháp “anticipatory” (dự báo và định hướng tương lai), nhằm khắc phục tình trạng hệ thống pháp luật thường xuyên phải sửa chữa, bổ sung do “chạy theo sau thực tiễn”.

Tiếp nối và cụ thể hóa quan điểm trên, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” đã phê phán sâu sắc những bất cập trong công tác lập pháp truyền thống, như tình trạng “luật khung vừa ban hành đã lỗi thời, luật chi tiết vừa ban hành đã phải sửa đổi”, và yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng pháp luật theo hướng “chủ động, kịp thời, đi trước một bước, tạo đột phá về thể chế phát triển” [4]. Nghị quyết này đã nâng cao vị thế của Quốc hội từ cơ quan “phê chuẩn thể chế” sang cơ quan “kiến tạo thể chế”, nhấn mạnh trách nhiệm chủ trì xây dựng chương trình lập pháp mang tính chiến lược dài hạn, không còn thụ động tiếp nhận “đơn đặt hàng” từ Chính phủ.

Đây chính là nền tảng lý luận để Kỳ họp thứ 10 áp dụng các cơ chế rút gọn, đảm bảo lập pháp không chỉ kịp thời mà còn mang tính dự báo, phù hợp với yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thể chế trong bối cảnh kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0.

Đỉnh cao của quá trình nhận thức lý luận này là Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về “Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” - văn kiện chuyên đề đầu tiên trong lịch sử Đảng ta tập trung riêng vào lĩnh vực lập pháp và thi hành pháp luật, với tầm nhìn chiến lược đến năm 2045 [2]. Nghị quyết đã nâng khái niệm “đi trước một bước” lên thành nguyên tắc phương pháp luận mang tính cách mạng, yêu cầu chuyển căn bản từ mô hình lập pháp “theo đơn đặt hàng” (demand-driven) sang mô hình “định hướng chiến lược” (strategy-driven); chấp nhận nguyên tắc “khoảng trống pháp lý có kiểm soát” (controlled legal vacuum) trong giai đoạn đầu để thử nghiệm các thể chế tiên phong; và ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn cùng mô phỏng chính sách trong dự báo tác động pháp luật. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng các đạo luật khung (framework laws) và đạo luật nền tảng (foundational laws) cho những lĩnh vực phi truyền thống như trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử, tài chính xanh và kinh tế tuần hoàn - những lĩnh vực mà thực tiễn Việt Nam chưa hình thành hoặc mới ở giai đoạn phôi thai [2].

Từ góc độ chuyên ngành luật học, Nghị quyết 66-NQ/TW không chỉ là kim chỉ nam cho Kỳ họp thứ 10 mà còn đánh dấu sự chuyển biến từ lập pháp hình thức sang lập pháp dựa trên bằng chứng (evidence-based legislation), nơi mà chất lượng luật pháp được đo lường không chỉ bằng số lượng văn bản mà bằng tác động thực tiễn đến năng suất quốc gia và quyền con người.

Bối cảnh tổ chức Kỳ họp thứ 10 xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19 và các biến động địa chính trị toàn cầu, đòi hỏi phải tháo gỡ nhanh chóng các điểm nghẽn thể chế để duy trì đà tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm và thu hút FDI kỷ lục 48 tỷ USD năm 2025 [5]. Với khối lượng nội dung kỷ lục - 66 nội dung chính, bao gồm 49 dự án luật và 4 nghị quyết thuộc công tác lập pháp, cùng 13 nhóm nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác - kỳ họp được thiết kế theo tinh thần “thần tốc hành quân” để hoàn thành sớm chương trình lập pháp năm 2025, đồng thời thể chế hóa kịp thời các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị [1].

Nổi bật là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về “Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, yêu cầu nâng phụ cấp ưu đãi nghề giáo viên lên tối thiểu 70%, phổ cập kỹ năng số và AI trong chương trình giáo dục, đồng thời xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026 - 2035 [6]. Tương tự, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về “Một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” nhấn mạnh nâng phụ cấp ưu đãi nghề y tế cơ sở lên 70%, ứng dụng AI và blockchain trong quản lý dữ liệu y tế, miễn viện phí dịch vụ dự phòng cơ bản, và thu hút FDI y tế chất lượng cao [7]. Những nghị quyết này, được ban hành chỉ cách kỳ họp vài tháng, đòi hỏi Quốc hội phải hành động “siêu tốc” để luật hóa, tránh tình trạng “chính sách trên giấy” - một bất cập thường thấy trong lập pháp Việt Nam trước đây.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, trong phát biểu khai mạc Diễn đàn xây dựng pháp luật quốc gia ngày 21/11/2025 (diễn ra song song với tuần làm việc thứ 5 của kỳ họp), đã khẳng định rõ ràng: “Kỳ họp thứ 10 là minh chứng sống động cho tinh thần ‘thần tốc hành quân’ trong lập pháp, chuyển từ tư duy chữa cháy sang tư duy kiến tạo tương lai, từ lập pháp phản ứng sang lập pháp dẫn dắt, thực hiện nghiêm quy trình lập pháp để kiên quyết phòng, chống tiêu cực, lợi ích nhóm” [8]. Phát biểu này không chỉ tổng kết thành tựu nhiệm kỳ mà còn định hướng cho Kỳ họp thứ 10, nhấn mạnh việc đổi mới tư duy lập pháp theo Nghị quyết 66-NQ/TW, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế để đất nước vươn mình phát triển bứt phá, giàu mạnh, hùng cường.

Cơ sở pháp lý trực tiếp cho các cơ chế rút gọn thời gian trong kỳ họp nằm ở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đặc biệt tại Điều 75 quy định về trình tự, thủ tục rút gọn: cho phép “một lần cho ý kiến, một lần thông qua” đối với các dự án luật “đã chín muồi, đã rõ ràng, đã được thực tiễn kiểm nghiệm và không còn ý kiến khác biệt lớn” [9]. Việc sơ kết, đánh giá thực thi các quy định này đã được Bộ Tư pháp báo cáo năm 2024, trong đó nhấn mạnh việc mở rộng phạm vi áp dụng rút gọn để khắc phục tình trạng trì trệ trong lập pháp, phù hợp với yêu cầu “đột phá thể chế” của Nghị quyết 27-NQ/TW [10]. Từ lý luận pháp lý, cơ chế này thể hiện sự cân bằng giữa hiệu quả và dân chủ, nơi mà rút gọn không phải là buông lỏng mà là tối ưu hóa quy trình để lập pháp trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Toàn cảnh Phiên bế mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Ảnh: Quốc hội.

Toàn cảnh Phiên bế mạc Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Ảnh: Quốc hội. 

2. Các cơ chế đổi mới tổ chức kỳ họp: Rút gọn thời gian, bỏ chất vấn trực tiếp và luật hóa cam kết hành chính

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV không chỉ lập kỷ lục về khối lượng lập pháp mà còn đổi mới căn bản cơ chế tổ chức, chuyển từ quy trình truyền thống cứng nhắc, kéo dài sang cơ chế linh hoạt, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu “thần tốc” của bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay.

2.1. Cơ chế rút gọn thời gian lập pháp

Để xử lý khối lượng lập pháp khổng lồ - 49 luật và 4 nghị quyết - trong chỉ 40 ngày làm việc thực chất (từ 20/10 đến 11/12/2025), Quốc hội khóa XV áp dụng hệ thống rút gọn toàn diện theo Nghị quyết 125/2025/UBTVQH15 ngày 15/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bổ sung 11 dự án vào chương trình 2025 và điều chỉnh thời hạn trình, thông qua [11].

Cơ chế này tối ưu hóa toàn bộ quy trình: gộp thảo luận nội dung cùng lĩnh vực để tránh dàn trải (nhóm luật giáo dục và y tế trong một phiên); rút ngắn trình bày tờ trình từ 15 phút xuống 10 phút/dự án; lồng ghép báo cáo; điều chỉnh lịch linh hoạt, họp cả thứ Bảy và dùng ứng dụng “Quốc hội số” để đại biểu nghiên cứu trực tuyến với AI tóm tắt [12].

Ví dụ, Luật Trí tuệ nhân tạo (thảo luận 21/11/2025, dự kiến thông qua 11/12/2025) chỉ qua một lần ý kiến dựa trên RIA bằng AI của Văn phòng Quốc hội, dự báo rủi ro pháp lý và tác động kinh tế - xã hội 5 năm với độ chính xác 85% [13]. Theo Ủy ban KHCN&MT, cơ chế rút ngắn thời gian từ 6 tháng xuống 2 tháng cho dự án ưu tiên, tăng đồng thuận đại biểu lên 92% nhờ dự thảo chuẩn hóa [14].

Tuy nhiên, Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh nhấn mạnh: “Rút gọn chỉ thành công với chuẩn bị kỹ từ Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ít nhất 3 đợt thẩm tra độc lập để tránh luật vội dẫn đến sửa chữa” [15]. Thực tế, đến 23/11/2025, 25/49 luật thông qua sơ bộ không khác biệt lớn, chứng tỏ hiệu quả “thần tốc” tuân thủ pháp quyền [16].

2.2. Bỏ chất vấn trực tiếp: Thay thế bằng thảo luận báo cáo tổng hợp

Kỳ họp thứ 10 lần đầu tiên bỏ hẳn phiên chất vấn trực tiếp tại nghị trường Quốc hội - thường kéo dài 3-4 ngày - thay bằng thảo luận báo cáo tổng hợp về thực hiện nghị quyết giám sát và câu hỏi chất vấn từ các kỳ họp trước [17]. Cơ chế này được quy định tại Nghị quyết 94/2025/UBTVQH15 [18].

Lý do chính là ưu tiên thời gian cho lập pháp cốt lõi. Từ lý luận pháp lý, cơ chế mới vẫn bảo đảm quyền giám sát tối cao theo Điều 84 Hiến pháp 2013, chuyển từ đối đáp trực tiếp sang giám sát văn bản hóa, tăng tính hệ thống [19]. Đại biểu Lê Thị Nga nhận định việc bỏ chất vấn trực tiếp giúp tránh dàn trải nhưng cần bảo đảm báo cáo minh bạch và có phản hồi trực tuyến [20].

Đến 23/11/2025, báo cáo tổng hợp nhận hơn 5.000 câu hỏi từ 499 đại biểu qua ứng dụng số [21]. Theo Văn phòng Quốc hội, cơ chế mới giải quyết 75% kiến nghị từ kỳ họp thứ 9, tỷ lệ hài lòng đại biểu đạt 88% [22].

2.3. Luật hóa cam kết hành chính: Từ cam kết Chính phủ sang VBQPPL

Kỳ họp thứ 10 đưa ra đổi mới cốt lõi là cơ chế luật hóa cam kết hành chính, biến các cam kết của Chính phủ từ văn bản chỉ đạo hành chính thành VBQPPL có giá trị pháp lý cao hơn, theo Văn bản 974/TTg-PL ngày 13/8/2025 của Thủ tướng [23].

Cơ chế này tập trung luật hóa các cam kết cấp bách: Luật Quản lý nợ công (sửa đổi) giữ nợ công dưới 60% GDP; Luật Thuế thu nhập cá nhân (sửa đổi) giảm mức khấu trừ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa [24]. Tổng cộng 70% trong 49 luật (34 luật) là sửa đổi toàn diện, trực tiếp luật hóa cam kết từ Nghị quyết 57-NQ/TW về khoa học công nghệ [25] và Nghị quyết 68-NQ/TW về kinh tế tư nhân [26].

Điển hình, Luật An ninh mạng (sửa đổi) bổ sung Điều 26a về giám sát rủi ro AI, hiệu lực từ 01/01/2026 [27]. Từ lý luận pháp lý, đây là chuyển dịch từ lập pháp “ngoại sinh” sang lập pháp “nội sinh”, tăng tính pháp quyền [28]. Báo cáo Bộ Tư pháp cho thấy số khiếu nại hành chính giảm 25% nhờ tính minh bạch cao hơn [29].

3. Thành tựu nổi bật của lập pháp “thần tốc”

Thứ nhất, hoàn thành vượt 90% chương trình lập pháp năm 2025. Đến 23/11/2025, 25/49 luật đã được thông qua sơ bộ [16]. Các luật bao quát đa lĩnh vực: kinh tế, xã hội (Luật Giáo dục đại học sửa đổi, Luật Khám bệnh, chữa bệnh mới), và an ninh (Luật PCTN sửa đổi, Luật An ninh mạng sửa đổi) [24]. Nhờ hiệu lực sớm của 15 luật ưu tiên, dự kiến GDP quý IV/2025 đạt 7,2% [30].

Thứ hai, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Vốn FDI đăng ký 9 tháng đầu năm 2025 đạt 28,5 tỷ USD [31]. Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 tạo hành lang pháp lý cho sandbox 5 năm đối với công nghệ lõi [32], góp phần đưa Việt Nam xếp hạng 44/139 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) 2025 [33]. Thành tựu này khẳng định vai trò của luật pháp như “chất xúc tác” cho tăng trưởng TFP theo mục tiêu Đại hội XIII [3].

Thứ ba, nâng cao dân chủ - minh bạch với 8,2 triệu lượt ý kiến trực tuyến, vượt 15% tổng nhiệm kỳ trước [22]. AI “Lập pháp hỗ trợ” đã giúp phân loại ý kiến hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia của nhân dân theo Điều 70 Hiến pháp 2013 [19]. Thảo luận báo cáo tổng hợp cũng giải quyết được 80% kiến nghị kỳ trước [34].

4. Hạn chế và thách thức

Thứ nhất, rủi ro suy giảm chất lượng dự luật. 65% luật giao Chính phủ quy định chi tiết, gây “khoảng trống pháp lý” kéo dài [29]. Luật Trí tuệ nhân tạo thiếu nghị định hướng dẫn khiến doanh nghiệp khó áp dụng sandbox [35]. Việc lạm dụng rút gọn dễ dẫn đến tình trạng “luật vội sửa lặp lại” như cảnh báo của đại biểu Lê Thị Nga [36]. Điển hình như Luật Đất đai 2024 từng phải sửa đổi sớm do thiếu đồng bộ [37].

Thứ hai, giảm tương tác giám sát. Việc bỏ chất vấn trực tiếp làm giảm sức ép trách nhiệm thời gian thực. Báo cáo giám sát cho thấy 37% địa phương chậm ban hành hướng dẫn luật hiệu lực từ 01/7/2025 do thiếu chỉ đạo, dẫn đến tình trạng “luật trên giấy” [38]. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng với Luật Đất đai khi hơn 1.200 câu hỏi liên quan chưa được giải quyết triệt để [21].

Thứ ba, luật hóa cam kết hành chính chưa đồng bộ. Dù có văn bản chỉ đạo của Thủ tướng, nhưng một số cam kết như phân cấp y tế chưa được hướng dẫn chi tiết về nguồn ngân sách, dẫn đến 28% tỉnh/thành chậm lập kế hoạch [39]. Tâm lý “sợ trách nhiệm” khiến việc triển khai Luật Đầu tư công mới gặp khó khăn tại địa phương [40]. Đây là “khoảng trống thực thi” cần được khắc phục bằng cách tăng cường trách nhiệm giải trình theo Luật PCTN [41].

5. Bài học kinh nghiệm và kiến nghị

Bài học từ kỳ họp cho thấy phối hợp chặt chẽ Quốc hội - Chính phủ là chìa khóa, như kinh nghiệm từ Kỳ họp thứ 9 đã chứng minh [42]. Các bài học cốt lõi bao gồm: (i) Rút gọn thời gian phải song hành thẩm tra kỹ bằng AI; (ii) Bù đắp giám sát trực tiếp bằng mô hình lai hóa trực tuyến; (iii) Luật hóa cam kết phải có lộ trình thi hành rõ ràng và tăng trách nhiệm giải trình [43].

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng nhấn mạnh việc phối hợp qua họp liên tịch là yếu tố quyết định thành công [44].

Kiến nghị: (i) Sửa Luật Ban hành VBQPPL để luật hóa “sandbox pháp lý” thường trực, thay vì thí điểm riêng lẻ [45]. (ii) Ban hành Bộ chỉ số đánh giá chất lượng lập pháp (Legislative Quality Index) với các tiêu chí cụ thể về dự báo và tham gia của nhân dân [46]. (iii) Tăng cường đào tạo cán bộ lập pháp qua hợp tác quốc tế về mô phỏng chính sách [47]. (iv) Áp dụng AI toàn diện cho Kỳ họp khóa XVI qua hệ thống “AI Lập pháp Quốc gia” [48].

Kết luận

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV là đỉnh cao của tư duy lập pháp “thần tốc”, khẳng định vai trò kiến tạo thể chế của Quốc hội. Với 49 luật được thông qua, kỳ họp đã tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, những hạn chế về chất lượng dự luật và khoảng trống thi hành đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện quy trình, ứng dụng công nghệ và tăng cường giám sát trong nhiệm kỳ tới, hướng đến khát vọng Việt Nam hùng cường.

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

[1] VietnamPlus (2025), “Danh sách 49 luật, 4 nghị quyết sẽ được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10”.

[2] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 176-177; 214-215.

[4] Bộ Chính trị (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới.

[5] Tổng cục Thống kê (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2025, Hà Nội, ngày 29/9/2025.

[6] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[7] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

[8] Trần Thanh Mẫn (2025), Phát biểu khai mạc Diễn đàn xây dựng pháp luật quốc gia, ngày 21/11/2025.

[9] Quốc hội (2020), Văn bản hợp nhất số 23/VBHN-VPQH Luật Ban hành VBQPPL (hợp nhất Luật 2015 và Luật sửa đổi 2020).

[10] Bộ Tư pháp (2024), Báo cáo sơ kết thi hành Luật Ban hành VBQPPL và định hướng sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết 27-NQ/TW, Hà Nội.

[11] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 125/2025/UBTVQH15 ngày 15/10/2025 về bổ sung 11 dự án luật vào chương trình xây dựng luật năm 2025 và điều chỉnh thời hạn trình, thông qua.

[12] Văn phòng Quốc hội (2025), Báo cáo số 245/BC-VPQH ngày 20/11/2025 về tổ chức kỳ họp thứ 10 với ứng dụng Quốc hội số.

[13] Bộ Khoa học và Công nghệ (2025), Báo cáo đánh giá tác động (RIA) dự án Luật Trí tuệ nhân tạo sử dụng mô hình AI, Cổng thông tin điện tử Bộ KH&CN.

[14] Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội (2025), Báo cáo thẩm tra về việc rút ngắn thời gian lập pháp tại Kỳ họp thứ 10, tháng 11/2025.

[15] Lê Quang Mạnh (2025), Phát biểu tại Hội thảo chuẩn bị nội dung Kỳ họp thứ 10, ngày 17/10/2025.

[16] Văn phòng Quốc hội (2025), Báo cáo số 256/BC-VPQH ngày 23/11/2025 về tiến độ lập pháp Kỳ họp thứ 10.

[17] VnExpress (2025), “Kỳ họp thứ 10 Quốc hội bỏ chất vấn trực tiếp để ưu tiên lập pháp”, ngày 14/10/2025.

[18] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 94/2025/UBTVQH15 ngày 10/10/2025 về tổ chức thảo luận báo cáo tổng hợp chất vấn.

[19] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013.

[20] Lê Thị Nga (2025), Phát biểu tại phiên thảo luận tổ về công tác lập pháp Kỳ họp thứ 10, ngày 22/11/2025.

[21] Văn phòng Quốc hội (2025), Báo cáo tổng hợp câu hỏi chất vấn Kỳ họp thứ 10 gửi qua App Quốc hội số.

[22] Văn phòng Quốc hội (2025), Báo cáo số 267/BC-VPQH ngày 22/11/2025 về tổng hợp ý kiến nhân dân trực tuyến và hiệu quả cơ chế thảo luận mới.

[23] Thủ tướng Chính phủ (2025), Văn bản số 974/TTg-PL ngày 13/8/2025 về tháo gỡ vướng mắc đầu tư công, cải cách hành chính và bảo đảm chất lượng dự án luật.

[24] Quốc hội (2025), Hồ sơ dự án các Luật thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (bao gồm Luật Quản lý nợ công sửa đổi, Luật Thuế TNCN sửa đổi, Luật Giáo dục đại học sửa đổi).

[25] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[26] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

[27] Quốc hội (2025), Luật An ninh mạng (sửa đổi) số 75/2025/QH15.

[28] Nguyễn Văn Cường (2025), “Luật hóa cam kết hành chính tại Kỳ họp thứ 10”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11/2025.

[29] Bộ Tư pháp (2025), Báo cáo số 178/BC-BTP ngày 20/11/2025 về tình hình khiếu nại hành chính và chất lượng VBQPPL.

[30] Cục Thống kê (2025), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và ước tính quý IV/2025, ngày 20/11/2025.

[31] Cục Đầu tư nước ngoài (2025), Báo cáo tình hình thu hút FDI 9 tháng năm 2025, ngày 22/11/2025.

[32] Quốc hội (2025), Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15.

[33] Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới - WIPO (2025), Global Innovation Index 2025, Geneva, công bố ngày 16/9/2025.

[34] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Báo cáo số 189/BC-UBTVQH15 ngày 23/11/2025 về kết quả giải quyết kiến nghị cử tri và đại biểu Quốc hội.

[35] Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội (2025), Báo cáo thẩm tra dự án Luật Trí tuệ nhân tạo.

[36] Báo Thanh Niên (2025), “Đại biểu Lê Thị Nga lo ngại chất lượng dự luật rút gọn”, ngày 14/10/2025.

[37] Quốc hội (2024), Luật Đất đai số 31/2024/QH15.

[38] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Báo cáo giám sát việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội năm 2025.

[39] Bộ Y tế (2025), Báo cáo tình hình triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW và các quy định về phụ cấp y tế cơ sở, ngày 21/11/2025.

[40] Bộ Tài chính (2025), Báo cáo số 345/BC-BTC ngày 22/11/2025 về tình hình thực thi Luật Đầu tư công số 58/2024/QH15 tại địa phương quý IV/2025.

[41] Quốc hội (2018), Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14.

[42] Báo Nhân Dân (2025), “Kinh nghiệm phối hợp giữa Quốc hội và Chính phủ tại Kỳ họp thứ 9”, ngày 19/10/2025.

[43] Văn phòng Quốc hội (2025), Báo cáo tổng kết Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV, ngày 27/6/2025.

[44] Trần Thanh Mẫn (2025), Phát biểu bế mạc Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV, ngày 27/6/2025.

[45] Nguyễn Văn Cường (2025), “Cơ chế sandbox pháp lý - kinh nghiệm quốc tế và đề xuất sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2025, tr. 3-15.

[46] Bộ Tư pháp (2025), Báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Ban hành VBQPPL và đề xuất Bộ chỉ số chất lượng lập pháp, ngày 15/11/2025.

[47] Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (2025), Đề án hợp tác quốc tế về đào tạo kỹ năng lập pháp giai đoạn 2026 - 2035.

[48] Văn phòng Quốc hội (2025), Kế hoạch ứng dụng AI hỗ trợ hoạt động lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, ngày 20/11/2025.

Thạc sĩ NGUYỄN THỊ HỒNG THẮNG

Đại học Y Hà Nội

LÊ HÙNG

Học viện Chính trị khu vực I