/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Một số vấn đề cần quan tâm trong chính sách và phạm vi điều chỉnh Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt

Một số vấn đề cần quan tâm trong chính sách và phạm vi điều chỉnh Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt

03/06/2026 10:33 |

(LSVN) - Vào ngày 03/6/2026, Sở Tư pháp, Hội Luật gia và Đoàn Luật sư TP. HCM đã tổ chức Hội thảo tham vấn lấy ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật góp ý Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt (“Dự thảo Luật”). Tại Hội thảo, có nhiều luật gia, luật sư, chuyên gia pháp luật đã tham gia đóng góp nhiều ý kiến có giá trị. Tạp chí Luật sư Việt Nam xin giới thiệu ý kiến đóng góp của Tiến sĩ, Luật sư Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam cho Dự thảo Luật.

1. Về phạm vi điều chỉnh, cách tiếp cận về kỹ thuật lập quy liên quan  đến chính sách Luật Đô thị đặc biệt

Trước hết, việc thiết kế, phạm vi điều chỉnh và cách tiếp cận của cơ quan soạn thảo khi xây dựng Dự thảo Luật nhấn mạnh đên yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một đạo luật có tính ổn định, lâu dài, đủ mạnh và mang tính đột phá để điều chỉnh toàn diện các vấn đề phát triển của đô thị đặc biệt theo các mục tiêu đã được nêu trong Tờ trình đề xuất dựng Dự án Luật.

Tuy nhiên, Dự thảo Luật chưa thể hiện quan điểm nêu trong Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 là “luật điều chỉnh các nội dung về kiến tạo phát triển chỉ quy định, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao cho Chính phủ, Bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với thực tiễn”. Cấu trúc của từng điều luật rất dài, nội dung quá chi tiết, mới dừng lại ở sự tích hợp các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước về phân cấp, phân quyền và tính chất đặc thù của đô thị đặc biệt như TP. HCM.

Dự thào Luật dồn trọng tâm vào việc đẩy mạnh phân quyền triệt để gắn với kiểm soát quyền lực; tăng thẩm quyền cho người đứng đầu; cho phép Thành phố chủ động ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, lựa chọn áp dụng cơ chế có lợi hơn cho các lĩnh vực đặc thù, thử nghiệm các chính sách mới, nhất là liên quan đến phát triển khoa học, công  nghệ, chuyển đổi số, tạo động lực tăng trưởng mới, góp phần tạo đột phá về năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư và phát triển Thành phố trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực.

Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo làm thể nào cân đối và thể chế hóa quan điểm được nêu trong Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP. HCM trong kỷ nguyên mới. Trong đó phải thể hiện được vai trò chủ thế của Nhân dân trong mọi quyết sách phát triển Thành phố. Nhân dân là người đầu tiên thụ hưởng thành quả của sự phát triển bền vững của Thành phố; lấy sự hài lòng, cuộc sống ẩm no và hạnh phúc của Nhân dân là thước đo hiệu quả lãnh đạo.

Đồng thời, cần chú trọng yếu tố xây dựng chỉ số an bình, hạnh phúc của người dân và cơ chế để người dân có cơ hội nói lên tiếng nói của mình nhằm phản biện chính sách, pháp luật, có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp trong mối quan hệ với lợi ích quốc gia, dân tộc và Thành phố.

Một số vấn đề cần quan tâm trong chính sách và phạm vi điều chỉnh Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt - 1

 

2. Dự thảo Luật trong xu hướng phân quyền, cần đảm bảo khả năng cân bằng quyền lực chính quyền Trung ương và địa phương, hình thành sắc thái riêng của “đô thị đặc biệt”

Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, đô thị lại trở thành hình thức cư trú phổ biến như hiện nay. Tất cả các tâm điểm cuộc sống của người dân đều diễn ra tại các thành phố. Ông Edouard Herriot, Thị trưởng lâu nhất của Lyon (Pháp) đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chính quyền thành phố trong việc quản lý môi trường đô thị nói chung và cải thiện cuộc sống của dân cư đô thị.

Thế kỷ XXI được gọi là “thế kỷ của đô thị”, bởi tính đến nay, phần lớn nhân loại đều đang sống ở các thị trấn và thành phố. Trên thực tế, đô thị chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử nói chung và lịch sử văn hóa nói riêng. Là một kiểu tổ chức đặc biệt của các không gian, chính nhờ thực hiện chức năng của các không gian đó mà đô thị đã trở thành trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa hay kinh tế. Gắn liền với điều đó là con người - con người thị dân với văn hóa thị dân và văn minh đô thị, một mặt là sản phẩm của đời sống đô thị, mặt khác lại chính là nguyên nhân tạo nên diện mạo độc đáo của đô thị, nhất là không gian TP. HCM sau hợp nhất trở thành “siêu đô thị” mang tầm vóc khu vực và quốc tế.

Theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung, quản trị một quốc gia liên quan đến việc cân bằng giữa các quyền lực của chính quyền Trung ương với chính quyền địa phương cần được quan tâm đặc biệt. Trong thể chế phi tập trung, chính quyền địa phương được coi như như là nơi tốt nhất để để đáp ứng các nhu cầu của chính cộng đồng của họ. Chính quyền địa phương thường được phân bổ các quyền lực lớn hơn và được trao nhiều quyền tự chủ để đưa ra các quyết định và ưu tiên các chính sách khác nhau. Tuy nhiên, trong các thể chế tập trung/tập quyền các chính quyền địa phương ít có quyền tự chủ hơn và phần lớn được thành lập ra để thực hiện các quyết định do chính quyền Trung ương đưa ra[1].

Một trong những quan điểm xây dựng Dự án Luật này là quy định cơ chế phân cấp, phân quyền triệt để. Trong đó cho phép Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội mà khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quyết định thí điểm cơ chế, chính sách mới, khác với luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc đối với những vấn đề chưa được pháp luật quy định để áp dụng tại Thành phố (trừ nội dung thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại quốc gia, tôn giáo và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia theo quy định của pháp luật).

Vấn đề đặt ra là làm thế nào giải quyết được bài toán giữa việc cho phép TP. HCM được ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong các trường hợp trên, hoặc thí điểm cơ chế, chính sách mới, với việc yêu cầu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cơ chế bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người thực thi chính sách mới, thí điểm. Khó khăn nhất là khi thực thi cơ chế thí điểm hoặc chính sách mới phải đảm bảo yêu cầu cấp thiết là xây dựng một đạo luật có tính ổn định, lâu dài, đủ mạnh và mang tính đột phá để điều chỉnh toàn diện các vấn đề phát  triển của đô thị đặc biệt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn đến các mốc năm 2030, 2047 và 2075, thay thế cách tiếp cận thí điểm, cục bộ hiện nay.

Một số vấn đề cần quan tâm trong chính sách và phạm vi điều chỉnh Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt - 2

 

Theo chúng tôi, để có thể đáp ứng yêu cầu rất cao nêu trên, ngoài các nội dung thuộc về quan diểm và nguyên tắc, Dự thảo Luật cần thể hiện một trong những “sắc thái” của đô thị đặc biệt, chính là xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đô thị đặc biệt đóng vai trò nền tảng của toàn bộ hệ sinh thái pháp luật, hướng đến bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và khả thi, đồng thời có khả năng thích ứng với các biến đổi nhanh của môi trường phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo.

Muốn đạt được yêu cầu trên, yếu tố quyết định là việc chuyển hóa các quy định pháp luật trong thực tiễn, xây dựng các thiết chế gồm hệ thống cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp, các tổ chức hỗ trợ pháp lý và các cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực trong quản trị, vận hành, kiểm tra, giám sát đối với đô thị đặc biệt. Một hệ sinh thái pháp luật cho đô thị đặc biệt chỉ thực sự hiệu quả khi các thiết chế thực thi hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao. Cùng với đó là có chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao là yếu tố bảo đảm cho việc thiết kế, vận hành và phát triển hệ sinh thái pháp luật trong đô thị đặc biệt. Đội ngũ này bao gồm Đoàn Đại biểu Quốc hội TP. HCM, cán bộ thực thi pháp luật, thẩm phán, luật sư, chuyên gia pháp lý và các nhà nghiên cứu.

Trong bối cảnh mới, nguồn nhân lực pháp lý không chỉ cần có kiến thức chuyên môn sâu mà còn phải có tư duy liên ngành, năng lực số và khả năng thích ứng với môi trường pháp lý toàn cầu[2]. Dự thảo Luật cần hướng đến trọng tâm là đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý theo hướng hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức pháp luật với kinh tế, công nghệ, quản trị và các lĩnh vực liên quan; nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật, hướng tới chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đội ngũ chuyên gia pháp lý. Đồng thời, cần chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia pháp lý chất lượng cao, có năng lực tham gia hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập; tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, chính sách đãi ngộ và trọng dụng nhân tài pháp luật, xây dựng môi trường làm việc liêm chính, chuyên nghiệp, khuyến khích sáng tạo và cống hiến; nâng cao đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ.

Hiện nay, Dự thảo Luật Luật sư và các chính sách về luật sư cũng đang được sửa đổi, nên Dự thảo Luật đô thị đặc biệt cần tạo hành lang pháp lý nhằm phát triển và mở rộng thị trường pháp lý trên địa bàn TP. HCM, xây dựng mô hình tổ chức công ty luật có quy mô lớn, có cơ chế và khả năng tích lũy vốn, chính sách tín dụng và chính sách thuế ưu đãi, để có thể đóng vai trò đầu tàu, dẫn dắt, đủ sức cạnh tranh trên thị trường dịch vụ pháp lý trong nước và quốc tế, gắn với trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng và theo tiêu chuẩn hành nghề quốc tế, có trách nhiệm xã hội và trách nhiệm cộng đồng, hỗ trợ pháp lý, có chính sách và cơ chế công khai minh bạch đánh giá năng lực hành nghề và đề cao tính chuyên sâu khi sử dụng vai trò của các tổ chức hành nghề tại TP. HCM trong bảo vệ lợi ích công[3].

3. Dự thảo Luật cần xây dựng được “không gian phòng thủ”, tạo môi trường an toàn thông qua thiết kế đô thị trong các dự án nhà ở xây mới tại TP. HCM

Mặc dù cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm đạt rất nhiều kết quả, lực lượng Công an và hệ thống chính quyền hai cấp ở TP. HCM đã hết lòng chăm lo và bảo vệ cuộc sống của người dân, nhưng dù đã đẩy lùi được tội phạm, trên địa bàn đang phát sinh nhiều loại tội phạm mới, diễn biến phức tạp, khó lường hơn.

Có một thực tế thấy rõ là phần lớn các đô thị, kể cả các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giao lưu quốc tế lớn như Hà Nội, TP. HCM chưa gắn được quy hoạch và phân định ranh giới rõ ràng giữa không gian kiến trúc phục vụ cho công cộng và cho nhu cầu riêng tư của cá nhân. Hạ tầng cơ sở cho việc lưu thông an toàn và hệ thống chiếu sáng của TP. HCM sau hợp nhất chưa hoàn toàn được phủ kín đường phố ban đêm đã tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn của tội phạm trên đường phố. Đó không chỉ là tình hình tai nạn giao thông, mà còn là các hành vi lợi dụng không gian vắng vẻ, tối tăm để kẻ phạm tội ra tay cướp giật, trộm cắp tài sản, giết người, cố ý gây thương tích.

Nghiên cứu tội phạm học cho thấy, ban đầu người xưa cho rằng nguyên nhân của tội phạm là do ma quỷ xúi giục, thiên văn tác động, hay bản chất kẻ phạm tội là có tính bẩm sinh. Dần dần người ta mới nhận ra rằng chính môi trường ở có vai trò lớn trong việc phát sinh tội phạm.

Các dự án bất động sản và khu nhà ở mới tại TP. HCM hiện được triển khai xây dựng gồm 2 dạng nhà chính: Nhà ở thấp tầng (Biệt thự, nhà liên kế) và chung cư cao tầng. Tuy nhiên, công tác thiết kế đô thị - một nội dung quan trọng của thiết kế môi trường ở tại TP. HCM qua nhiều thời kỳ tới nay vẫn chưa đạt trình độ hoàn chỉnh, chưa quan tâm tới vấn đề phòng chống ngăn ngừa tội phạm, thậm chí có ý kiến cho rằng việc phòng chống tội phạm là việc chủ yếu của lực lượng công an và các cơ quan pháp luật. Ai cũng biết việc phòng ngừa tội phạm phải được thực hiện một cách cơ bản ở cấp độ vĩ mô như phát triển kinh tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường vai trò của lực lượng công an, nhưng phòng ngừa tội phạm theo lãnh thổ môi trường bằng thiết kế đô thị lại có hiệu quả trực tiếp là một nội dung trọng yếu cần quan tâm.

Tiến sĩ, Luật sư Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Tiến sĩ, Luật sư Phan Trung Hoài, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Khách hàng của tôi là Kiến trúc sư, PGS. Trần Văn Khải là một trong những người đề xuất từ cách đây gần 12 năm trước về giải pháp phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi trường (Crime prevention through environmental design - CPTED) đã được nhiều nước áp dụng trong thiết kế đô thị[4]. Đáng tiếc, khái niệm CPTED ở nước ta còn xa lạ, bỏ qua một khả năng để tạo một môi trường sống an toàn trong đô thị đặc biệt.

Theo đó, trước tiên, để việc hoạch định các chính sách phòng chống, ngăn ngừa tội phạm mới một cách toàn diện và hiệu quả trong đô thị đặc biệt, cơ chế phạm tội cần được nhận diện trên các lý thuyết về “Tội phạm học” và “Nạn nhân học” mà nhiều nước trên thế giới đã áp dụng:

- Tội phạm học (Criminology) và Nạn nhân học (Victimology) cho rằng: Cơ hội phạm tội xuất hiện trong môi trường sẽ tạo điều kiện cho tội phạm phát sinh. CPTED chủ trương giải pháp thiết kế không gian đô thị, nhà cửa giảm thiểu cơ hội phạm tội trong đô thị. Vai trò của nạn nhân cũng rất quan trọng như: Phô trương tài sản, tự đưa mình vào thế bị cô lập, xa rời sự giúp đỡ của cộng đồng, nhà cửa hớ hênh, không có khả năng tự bảo vệ…

- “Thuyết sự lựa chọn duy lý” cho rằng những người có ý phạm tội đều phải cân nhắc khả năng được lợi hay bất lợi trước khi gây án, nên CPTED chủ trương làm nhụt chí kẻ định phạm tội bằng cách cho thấy khả năng can thiệp của cộng đồng và việc môi trường luôn được củng cố hiệu quả.

Vào năm 1968, S. Angel đã viết quyển sách: “Làm nản chí tội phạm bằng quy hoạch đô thị”. Năm 1971, mô hình CPTED đầu tiên được xây dựng bởi R. Jeffery. Năm 1972, O. Newman, một KTS đã viết cuốn sách: “Không gian phòng thủ: Phòng chống tội phạm thông qua thiết kế đô thị” đi cụ thể vào giải pháp thiết kế đô thị, nhằm làm cho mọi người cảm thấy an toàn, để rồi họ sẽ hợp tác với nhau ngăn cản, tố giác tội phạm. Phòng chống tội phạm thông qua thiết kế đô thị phát huy vai trò can thiệp của cộng đồng, tạo sự tự tin cho dân cư do luôn “nhìn thấy và được nhìn thấy”, khác với quan niệm cũ: Chỉ xây kín cổng cao tường, củng cố khóa cửa, tự cô lập mình.

Do đó, Dự thảo Luật có thể tính đến hoạch định chiến lược, tạo khung pháp lý cho việc thiết kế “không gian phòng thủ” cho đô thị đặc biệt TP. HCM, trên các phạm vi có thể xem xét khi quy hoạch và thiết kế đô thị (có thể đưa vào các văn bản hướng dẫn cụ thể hoặc tiêu chí quy hoạch, xây dựng đô thị) như sau:

- “Giám sát tự nhiên môi trường” cụ thể tối đa hóa khả năng “nhìn thấy và được nhìn thấy”, đặt cửa sổ, balcon nhìn ra vỉa hè, đường phố, tránh tạo các góc khuất, bị cô lập… làm tăng mối e sợ cho kẻ xấu bằng cách gây nhận thức rằng tội phạm, nạn nhân đều ở trong vòng giám sát, người tố giác cũng yên tâm vì được bảo vệ. Tránh quy hoạch đường xá khu ở quanh co có góc khuất, dùng hàng rào cho phép nhìn xuyên để nhiều người phát hiện việc đột nhập cậy cửa, dùng rào thưa ngăn với nhà liền kề để có mối quan hệ láng giềng. Bố trí camera, đèn chiếu sáng để nhận được mặt kẻ gian (trong cự ly 10m) nhưng tránh bố trí đèn sáng quá chói gây ra điểm mù. Hành lang khách sạn không nên có hốc lùi trước cửa phòng để tầm nhìn được thông suốt. Đa chức năng hóa môi trường vừa có nhà ở vừa có sinh hoạt công cộng để luôn có lưu lượng nhiều người đi bộ, bố trí các sinh hoạt công cộng, cửa hàng, đặt ghế ngồi ở vỉa hè để giám sát và cản trở việc tội phạm chạy thoát.

- “Kiểm soát tự nhiên việc xâm nhập môi trường”. Nguyên tắc là phân luồng, kiểm soát người đi lại, bằng cách bố trí các cổng ra vào, lối đi, hàng rào ở vị trí hợp lý, có biển báo hướng dẫn để làm bộc lộ hành vi cố ý xâm nhập trái phép. Khu vệ sinh công cộng dùng lối vào đi bẻ ngoặt hơn là đi qua 2 lớp cửa cách ly. Sảnh cao ốc, buồng chờ thang máy nên dùng vách kính cho phép nhìn xuyên suốt. Loại bỏ các cấu trúc tạo khả năng leo trèo lên các độ cao nhà, nhất là ở TP. HCM có nhiều KTS ưa thiết trí các lam ngang ở mặt tiền hay làm cổng, hàng rào có song ngang.

- “Củng cố tự nhiên lãnh thổ môi trường” được thực hiện bằng cách đẩy mạnh việc kiểm soát có tính chất xã hội thông qua việc phân định không gian rõ ràng. Cần có giải pháp quy hoạch, kiến trúc để phân định rõ ràng không gian riêng tư, công cộng hay trung dung. Tạo ra ý thức làm chủ hợp pháp trên bất động sản của mình từ đó tạo khả năng cho dân cư đối phó với những kẻ xâm nhập bất hợp pháp hoặc báo động cho cảnh sát. Chính việc pháp định không gian không rõ ràng, chung đụng quá nhiều đã gây ra bất cập trong việc quản lý các chung cư cao tầng .

- “Bảo trì môi trường” dựa theo “Lý thuyết Cửa sổ vỡ kính” của J. Wilson và G. Kelling cho rằng: “Nếu một cửa sổ kính bị vỡ mà không sửa chữa thì các cửa sổ khác rồi sẽ vỡ”. Bảo trì tốt để cho thấy là nơi được quản lý chặt chẽ. Môi trường quản lý kém sẽ dễ bị tội phạm chọn xâm nhập, đồng thời nhà cửa cấu tạo kiên cố sẽ làm nản chí hay ngăn chặn được kẻ xâm nhập trái phép.

Từ cách tiếp cận nêu trên, Dự thảo Luật cần định khung pháp lý cho TP. HCM và các đô thị đặc biệt khác nghiên cứu soạn thảo, ban hành “Bản hướng dẫn phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi trường CPTED” như Singapore và các thành phố khác trên thế giới đã làm. Nếu đề xuất này được chấp thuận, trên cơ sở áp dụng một số phương pháp điều tra xã hội học và thống kê tội phạm, có sự hỗ trợ của các chuyên gia pháp lý, sẽ đưa ra được một cách tiếp cận mới và đề xuất được các giải pháp gắn quy hoạch, xây dựng, kiến trúc với khả năng tự phòng thủ của người dân và phong trào phòng chống tội phạm của toàn xã hội.

4. Dự thào Luật phải định hướng và tạo khung pháp lý cho việc xây dựng văn hóa pháp quyền là nền tảng xã hội của hệ sinh thái pháp luật đối với đô thị đặc biệt

Khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật nêu rõ: “Bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa của vùng đô thị đặc biệt; không làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia, tôn trọng các quy luật thị trường”.

Tuy nhiên, Mục 2 của Dự thảo với đề mục: “Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội”, trong đó tại Điều 24 quy định về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, lại hoàn toàn thiếu vắng việc xây dựng văn hóa pháp quyền trong đời sống người dân đô thị đặc biệt.

Theo chúng tôi, đây là nội dung có ý nghĩa rất quan trọng, bởi văn hóa pháp quyền thể hiện ở ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của các chủ thể, niềm tin của xã hội vào công lý và sự công bằng, cũng như thói quen hành xử theo pháp luật trong đời sống. Tuy là yếu tố “mềm” nhưng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ sinh thái pháp luật trong đô thị đặc biệt. Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và củng cố văn hóa pháp quyền trong xã hội như một nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa[5].

Pháp luật về văn hoá và con người giữ vai trò nền tảng định hình giá trị phát triển, gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện trong đô thị đặc biệt. Đây là lĩnh vực trực tiếp thể chế hoá các giá trị như nhân phẩm, tự do, bình đẳng, khẳng định con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển, đồng thời bảo đảm quyền con người, kiểm soát quyền lực và củng cố niềm tin xã hội, qua đó tạo nền tảng cho phát triển bền vững và nhân văn[6].

Dự thảo Luật bên cạnh quy định khung về phát triển văn hoá, giáo dục, đạo đức xã hội, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người là cư dân đô thị đặc biệt; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc trong điều kiện mới, các chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm; thúc đẩy công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo vệ các nhóm yếu thế và bảo đảm tiếp cận bình đẳng đối với các cơ hội phát triển, cần quy định về giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và xây dựng văn hoá pháp luật trong xã hội. Trong đó, cần tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, củng cố tinh thần thượng tôn pháp luật; phát huy vai trò của cộng đồng, gia đình và các thiết chế xã hội trong việc thực hiện pháp luật về văn hoá và quyền con người.

Nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong đời sống người dân đô thị đặc biệt là giải pháp mang tính nền tảng, lâu dài trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật quốc gia nói chung và của TP. HCM nói riêng, nhằm hình thành môi trường xã hội thượng tôn pháp luật và hành xử theo pháp luật. Đây không chỉ là yêu cầu hỗ trợ thực thi pháp luật mà còn là điều kiện cốt lõi để bảo đảm tính ổn định, hiệu lực và tính bền vững của toàn bộ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của đô thị đặc biệt, lưu ý việc đổi mới nội dung, phương thức truyền thông pháp luật, gắn với ứng dụng công nghệ số, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật một cách thuận tiện, kịp thời cho người dân đô thị.

Bên cạnh đó, việc nâng cao văn hóa pháp luật cần gắn với xây dựng niềm tin xã hội vào công lý và pháp quyền, thông qua bảo đảm thực thi pháp luật công bằng, minh bạch, nghiêm minh; phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và các thiết chế xã hội trong hình thành thói quen, chuẩn mực hành xử theo pháp luật.

Tinh thần của khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật theo hướng tạo khung pháp lý cho việc bảo đảm quyền con người, nên hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp của đô thị đặc biệt như TP. HCM giữ vị trí đặc biệt trong việc bảo vệ công lý và quyền con người. Chính các cơ quan tư pháp là thiết chế có chức năng phân xử tranh chấp, kiểm soát việc áp dụng quyền lực nhà nước trong những trường hợp cụ thể và bảo đảm rằng mọi cá nhân, doanh nghiệp đều được đối xử công bằng trước pháp luật. Thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp TP. HCM, việc bảo vệ các quyền con người thường được kiểm nghiệm một cách trực tiếp và cụ thể nhất: Một người có thể bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị truy tố, bị xét xử, bị hạn chế tự do, bị buộc thi hành nghĩa vụ (và cả những người thực thi cơ chế thi điểm, chính sách mới mà gặp rủi ro), đồng thời cũng được bảo vệ, được phục hồi các quyền hợp pháp, được bồi thường và được tiếp cận công lý. Vì vậy, chất lượng bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ thực chất của đô thị đặc biệt trong nhà nước pháp quyền.

Tôi nghĩ ít nhất trong Dự thảo Luật phải đưa ra được quan điểm và cách tiếp cận để chuyển đổi từ tư duy “quản lý tố tụng” sang tư duy “bảo đảm quyền trong tố tụng”. Nếu pháp luật chỉ chú trọng hiệu quả xử lý vụ việc mà chưa chú ý đầy đủ đến quyền của cá nhân, của doanh nghiệp theo tinh thần mới của Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị, có thể dẫn đến nguy cơ lạm quyền, oan sai hoặc bất bình đẳng trong tiếp cận công lý sẽ khó được khắc phục triệt để. Nếu quyền con người được đặt ở trung tâm, hệ thống tư pháp TP. HCM sẽ được định hướng bởi các giá trị công bằng, nhân đạo, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phục hồi quyền khi có vi phạm.

[1] GS.TS Nguyễn Dăng Dung, Chính quyền đô thị trong công cuộc tinh gọn chính quyền 3 cấp, Tạp chí Người đô thị online, ngày 06/6/2025.

 [2] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới; Ngân hàng Thế giới, Việt Nam 2045: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ.

[3] Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2025, Việt Nam có 21.746 luật sư, trong đó 255 luật sư nước ngoài. Quy mô thị trường dịch vụ pháp lý của Việt Nam năm 2024 là 8.902,2 tỉ đồng (số liệu cả năm gần nhất đủ 12 tháng). Tham khảo: Luật sư Trần Tuấn Phong và nhóm nghiên cứu VILAF, Nghiên cứu thị trường pháp lý và góp ý chính sách dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).

 [4] Tham khảo: KTS.PGS Trần Văn Khải, Tạo môi trường an toàn thông qua thiết kế đô thị trong các Dự án nhà ở xây mới tại TP. HCM. Tạp chí Kiến trúc - Xã hội ngày 30/10/2014.

 [5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr. 99, Hà Nội, 2026; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[6] GS.TS Võ Khánh Vinh, Tư duy mới về thể chế phát triển và hoàn thiện thể chế pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Phiên toàn thể Đổi mới thể chế pháp luật tư pháp thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, Diễn dàn nghiên cứu tư pháp năm 2026, tr. 62-77.

                      Tiến sĩ, Luật sư PHAN TRUNG HOÀI

Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.