/ Trao đổi - Ý kiến
/ Nâng mức phạt về hành vi mua dâm, bán dâm có đủ sức răn đe?

Nâng mức phạt về hành vi mua dâm, bán dâm có đủ sức răn đe?

28/05/2021 09:44 |

(LSVN) - Theo Luật sư mức phạt hành chính đối với hành vi mua dâm, bán dâm theo quy định hiện nay cũng như là với nội dung dự thảo sửa đổi chỉ có tính chất cảnh báo, “nhắc nhở” chứ chưa đủ sức răn đe.

Bộ Công an đang dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống bạo lực gia đình, thay thế Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013. Trong đó, dự thảo Nghị định đề xuất tăng mức phạt hành chính, thêm hình thức phạt bổ sung đối với hành vi mua dâm và bán dâm.

Cụ thể, đối với hành vi mua dâm, theo Điều 22 Dự thảo quy định phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi mua dâm. Hiện hành, theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp mua dâm nhiều người một lúc. Mức phạt này giữ nguyên so với hiện hành, quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi giúp sức, lôi kéo, xúi giục, ép buộc hoặc cưỡng bức người khác cùng mua dâm. So với hiện hành, bổ sung hành vi giúp sức, xúi giục, cưỡng bức người khác cùng mua dâm.

Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu số tiền, tài sản dùng để mua dâm đối với các hành vi vi phạm. Đây là nội dung mới được đề xuất, bổ sung.

Đối với hành vi bán dâm, theo Điều 23 Dự thào quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi bán dâm. Hiện hành, theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp bán dâm cho nhiều người cùng một lúc. Hiện hành, theo khoản 2 Điều 23 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.

Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu số tiền có được do bán dâm đối với hành vi vi phạm nêu trên. Đây là nội dung mới được đề xuất.

Người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định nêu trên, thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo Điều 24 dự thảo đã bổ sung mới mức phạt đối với hành vi mua, bán khiêu dâm, kích dục, theo đó, phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng.

- Che giấu, bảo kê cho các hành vi mua dâm, bán dâm phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng. Hiện theo điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

- Giúp sức, lôi kéo, xúi giục, ép buộc hoặc cưỡng bức người khác mua dâm, bán dâm: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Quy định này cũng tăng so với hiện nay tại điểm a khoản 3 Điều 24 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đang phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

- Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm; Góp tiền, tài sản để sử dụng vào mục đích hoạt động mua dâm, bán dâm; Môi giới mua dâm, bán dâm: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hiện khoản 4 Điều 24 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định phạt 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng. Hiện khoản 5 Điều 24 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP đang phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Đánh giá về đề xuất này trong Dự thảo, Luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp cho biết Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội và bạo lực gia đình được áp dụng từ năm 2013, quy định về các hành vi vi phạm hành chính bị xử phạt với các mức chế tài hành chính khác nhau. Nghị định này được áp dụng gần 10 năm nay, trong khi đó nhiều hành vi trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội đã được bổ sung trong các văn bản pháp luật khác, đồng thời mức chế tài được đưa ra đối với các hành vi vi phạm đến nay cũng không còn phù hợp.

Bởi vậy việc sửa đổi bổ sung nghị định này là tất yếu. Tuy nhiên cần xem xét, cân nhắc đối với mức phạt của một số hành vi vi phạm để đảm bảo tính hiệu quả trong việc áp dụng pháp luật, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Trong đó, chế tài hành chính đối với hành vi mua dâm và hành vi bán dâm theo quy định của nghị định đang áp dụng hiện nay cũng như trong dự thảo là chưa đủ sức răn đe, chưa đạt hiệu quả cao trong việc đấu tranh phòng và chống mại dâm.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi bán dâm bị xử phạt với mức thấp nhất là 100.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng còn hành vi mua dâm có mức phạt thấp nhất là 500.000 đồng, cao nhất là 10.000.000 đồng. Trong khi đó, cơ quan điều tra phát hiện nhiều vụ mua bán dâm có giá lên đến 25.000 USD một lần mua dâm. Những trường hợp mua bán dâm với giá 8.000USD - 10.000USD diễn ra tương đối nhiều. Nếu các giao dịch này thành công thì số tiền thu lợi bất chính cũng như tiền sử dụng vào mục đích trái pháp luật rất lớn, người ta sẽ không vì sợ nộp phạt mất khoảng vài trăm ngàn, thậm chí vài triệu đồng mà không dám vi phạm. Bởi vậy, chế tài xử phạt hành chính về hành vi mua dâm cũng như hành vi bán dâm trong thời gian qua cho thấy chỉ là có tính chất “nhắc nhở”, “cảnh báo” về hành vi vi phạm hành chính chứ không ảnh hưởng nhiều đến thu nhập, đời sống cũng như là những thiệt hại về kinh tế của người vi phạm.

Theo quy định của Dự thảo Nghị định mới, bổ sung thay thế Nghị định 167/2013/NĐ-CP mà Bộ Công an vừa đưa ra đã bổ sung quy định xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm mới và đề xuất tăng mức xử phạt hành chính một số hành vi so với Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Về cơ bản thì mức chế tài hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về mại dâm có tăng lên so với quy định của nghị định hiện nay. Tuy nhiên với mức chế tài này cũng chỉ thể hiện tính chất trượt giá của đồng tiền so với giá trị 10 năm trước đây, lúc ban hành nghị định Nghị định 167/2013/NĐ-CP. Những người có ý định vi phạm quy định của pháp luật phòng chống mại dâm không về mức chế tài hình này mà không dám vi phạm. Trong các hành vi vi phạm với mại dâm thì hiện nay chỉ có hành vi môi giới mại dâm và chứa mại dâm là bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn các hành vi vi phạm pháp luật phòng chống mại dâm khác thì chỉ bị phạt hành chính với mức phạt không cao, đặc biệt là hành vi mua dâm và bán dâm.

Tuy nhiên, Luật sư Cường cho biết cũng cần nhìn nhận rằng khi pháp luật Việt Nam còn cấm hoạt động mại dâm thì đồng nghĩa với việc các hành vi vi phạm quy định về phòng chống mại dâm sẽ bị áp dụng chế tài hành chính hoặc hình sự. Việc áp dụng chế tài đối với hành vi vi phạm về phòng chống mại dâm chỉ là giải pháp cuối cùng khi các giải pháp phòng ngừa không đạt hiệu quả. Về mặt lý luận thì để đấu tranh phòng và chống tội phạm, phòng chống vi phạm pháp luật hiệu quả thì phải thực hiện tốt các giải pháp phòng ngừa. Dù chế tài có nghiêm khắc, nghiêm minh đến đâu nhưng giải pháp phòng ngừa thực hiện kém hiệu quả, không khoa học, không triệt để thì dù có áp dụng các chế tài hình sự hà khắc cũng chưa chắc đã quản lý được xã hội, kiểm soát được tình trạng vi phạm.

Luật sư Đặng Văn Cường - Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp.

Bởi vậy để phòng chống mại dâm hiệu quả thì phải thực hiện tốt các giải pháp phòng được chứ không chỉ ỷ lại vào việc áp dụng chế tài hành chính hoặc hình sự. Các giải pháp phòng ngừa hành vi vi phạm về mại dâm cần phải thực hiện bao gồm:

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật sao cho khoa học, đồng bộ, phù hợp, dễ áp dụng, có tính khả thi để có thể vận dụng áp dụng đối với các hành vi vi phạm về phòng chống mại dâm, trong đó có thể áp dụng đối với cá nhân, tổ chức, các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực quản lý, thực hiện các hành vi có liên quan đến phòng chống mại dâm;

- Kiểm soát được số lượng người bán dâm trên mỗi khu vực, địa bàn để có những giải pháp hỗ trợ về việc làm, về tâm lý, về sức khỏe, về nhận thức để giảm bớt số lượng người bán dâm và bảo vệ họ, giúp họ “hoàn lương”;

- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt là người lao động trẻ, những trường hợp rơi vào hoàn cảnh éo le, khó khăn, bất hạnh để họ không tìm đến con đường “bán thân” để kiếm sống;

- Tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách cho thế hệ trẻ để giảm bớt những hiện tượng sống thực dụng, du nhập những lối sống thác loạn, sa đoạ, không phù hợp với đạo đức và thuần phong mỹ tục;

- Đấu tranh và tẩy chay đối với các hiện tượng mua bán dâm trá hình, các trào lưu xấu như hợp đồng tình dục, chào lưu sugar baby sugar dady;

- Nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân, gin giữ văn hóa đạo đức truyền thống, tăng cường mối liên kết trong gia đình để giảm bớt những người sống thực dụng, sa doạ, trụy lạc, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.

- Nâng cao trách nhiệm, vai trò của các cơ quan, đoàn thể, gắn trách nhiệm đối với vai trò người đứng đầu đối với các khu vực, địa bàn để xảy ra tình trạng mại dâm diễn biến phức tạp;

- Tăng cường cơ chế, chính sách trong việc phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan đoàn thể, các bộ phận chức năng trong việc tuyên truyền và đấu tranh phòng chống mại dâm;

- Đầu tư cơ sở vật chất, kĩ thuật, nghiệp vụ, kinh phí cho hoạt động phòng chống mại dâm;

Đấu tranh với tệ nạn mại dâm là vô cùng khó khăn, phức tạp. Đối với các chế tài hành chính hoặc hình sự về hành vi vi phạm phòng chống mại dâm thì sẽ là giải pháp cuối cùng khi các giải pháp trên chưa đạt hiệu quả. Mức chế tài có nghiêm khắc đến đâu thì cũng không phải là giải pháp tích cực để phòng chống vi phạm, phòng chống tội phạm. Bởi vậy cần áp dụng đồng bộ, đầy bộ đủ, kịp thời các giải pháp phòng chống mại dâm thì hoạt động phòng chống mại dâm, kiểm soát tình hình mại dâm mới đạt hiệu quả, Luật sư Cường kiến nghị.

HỒNG HẠNH

Đề xuất tăng mức phạt, tịch thu tiền mua dâm, bán dâm

Lưu ý khi lựa chọn ngành nghề kinh doanh

(LSVN) - Lựa chọn ngành nghề kinh doanh là một trong những bước đầu của quá trình thành lập doanh nghiệp. Về nguyên tắc, pháp luật cho phép doanh nghiệp được tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề kinh doanh đặc thù doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện nhất định thì mới được phép kinh doanh.

Ngành, nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp được định nghĩa tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 69/2014/NĐ-CP về tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước như sau: “ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp là ngành nghề được xá lập từ mục đích đầu tư thành lập và chiến lược phát triển doanh nghiệp, do chủ sở hữu quy định và giao cho doanh nghiệp thực hiện khi thành lập và trong suất quá trình haotj động của doanh nghiệp”

Ngành nghề kinh doanh trước đây được ghi đầy đủ trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng từ khi Luật Doanh nghiệp mới được sửa đổi năm 2015 thì đã bỏ ghi ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Thay vào đó, các thông tin đăng ký của doanh nghiệp được công bố công khai trên trang web của Bộ kế hoạch và đầu tư, bất kỳ ai cũng có thể tra cứu.

Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp khi thành lập công ty là việc làm bắt buộc bởi doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh trong phạm vi những ngành nghề đã đăng ký. Chủ doanh nghiệp có quyền tùy ý lựa chọn ngành nghề mình muốn (hoặc dự định trong tương lai sẽ) kinh doanh.

Tuy nhiên nếu bạn mới khởi nghiệp thì không cần đăng ký quá nhiều ngành nghề vì bạn sẽ không kiểm soát được những lĩnh vực công ty được phép hoạt động nên dễ sai phạm trong việc xuất hóa đơn hoặc dù doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh ngành nghề đó nhưng chưa đủ điều kiện để kinh doanh… thì cũng bị coi là sai phạm.

Hiện nay việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg quy định về hệ thống ngành kinh tế việt nam. Để thực hiện đúng các quy định nêu trên, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp trước khi thành lập doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần lưu ý một số nội dung chính sau đây:

1. Không lựa chọn các ngành nghề kinh doanh pháp luật cấm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020: “Doanh nghiệp được tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm”. Điều 6 Luật Đầu tư 2020 quy định cấm các hoạt động đầu tư kinh doanh sau đây: 

- Kinh doanh các chất ma túy quy định tại Phụ lục I của Luật này;

- Kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật quy định tại Phụ lục II của Luật này;

- Kinh doanh mẫu vật các loài thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục III của Luật này;

- Kinh doanh mại dâm;

- Mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người, bào thai người;

- Hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người;

- Kinh doanh pháo nổ;

- Kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

Doanh nghiệp cần lưu ý không được phép kinh doanh những ngành nghề nêu trên, bởi ngoài việc không được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nếu như các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh đối với các ngành nghề bị cấm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như: đối với hành vi kinh doanh mại dâm với nhiều hành vi khác nhau như chứa mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm,… với mức phạt cao nhất có thể lên đến 7 -15 năm tù (tội “Môi giới mại dâm”) hoặc chung thân (tội “Chứa mại dâm”). 

Đối với hành vi kinh doanh dịch vụ đòi nợ sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, đồng thời bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm. Đối với hành vi kinh doanh pháo nổ, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự, theo đó mức hình phạt cao nhất đối với người có hành vi buôn bán pháo nổ là 15 năm tù, đặc biệt, pháp nhân thương mại vi phạm cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt cao nhất là phạt tiền đến 5.000.000.000 đồng, bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. 
 
2. Ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Theo khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư 2020: “Ngành nghề kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Hiện nay Luật Đầu tư 2020 quy định 227 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do vậy khi lựa chọn ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp phải chú ý ngành nghề đó có thuộc danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện không? các điều kiện đó là gì? cần đáp ứng đủ điều kiện mới được phép kinh doanh ngành nghề đó. Một số điều kiện điển hình như điều kiện về vốn pháp định, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia, đạo đức xã hội hay sức khỏe của cộng đồng….

Ví dụ: Doanh nghiệp đăng ký ngành nghề xuất khẩu lao động thuộc mã ngành 7830: Cung ứng và quản lý nguồn lao động. Đối với ngành nghề này, doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện khi đăng ký thành lập doanh nghiệp là vốn pháp định không thấp hơn 5.000.000.000 đồng; Và khi hoạt động ngành nghề này, doanh nghiệp phải được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao động theo quy định tại Nghị định 38/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Người lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng.

Ngoài ra, có một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện như: Kinh doanh bất động sản (có vốn pháp định là 20 tỉ đồng); Sản xuất mỹ phẩm (Có giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm), Kinh doanh dịch vụ ăn uống (Có giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm); Dịch vụ môi giới bất động sản (người có chức danh quản lý phải có chứng chỉ môi giới)….

Một lưu ý đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện là trong quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp, bên cạnh việc ghi mã ngành, tên ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp phải ghi chi tiết văn bản pháp luật quy định về điều kiện đối với ngành nghề kinh doanh đó, tránh trường hợp bị trả hồ sơ đăng ký kinh doanh. Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh có điều kiện sẽ rất khó khăn nếu như doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện của ngành nghề được kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ nên đăng ký ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong trường hợp đó là ngành nghề bắt buộc hay ngành nghề chính mà doanh nghiệp phải lựa chọn trong hoạt động kinh doanh của mình. Trường hợp nếu đó là ngành nghề doanh nghiệp dự tính có thể phát sinh hoạt động kinh doanh sau này thì không nên đăng ký đối với ngành nghề có điều kiện. Khi đăng ký các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài giấy đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch Đầu tư cấp cấp, thì bắt buộc phải có thêm một loại giấy tờ quan trọng được gọi là Giấy phép con, hay giấy phép kinh doanh. 

Luật sư Nguyễn Đức Hoàn, Giám đốc Công ty luật TNHH HOK.

3. Ngành nghề kinh doanh chính

Ngành nghề kinh doanh chính là một trong những nội dung bắt buộc phải đăng ký khi thành lập doanh nghiệp. Ý nghĩa của việc đăng ký ngành nghề kinh doanh chính là căn cứ để chi cục thuế cấp mã chương, loại, khoản cho doanh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước. Do vậy ngành nghề kinh doanh chính là nội dung được quy định để thống kê, phân loại doanh nghiệp, nó không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, đối với vai trò giới thiệu công ty thì thì ngành nghề kinh doanh chính giúp đối tác nhận biết nhanh chóng về lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp một cách rõ ràng, và đầy đủ. Vì vậy, các doanh nghiệp cần phải thật sự chắc chắn quyết định, cân nhắc kỹ lưỡng lĩnh vực kinh doanh chính của công ty mình.

Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp khi thành lập công ty là việc quan trọng, bởi doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh trong phạm vi những ngành nghề đã đăng ký. Tuy nhiên doanh nghiệp không cần đăng ký quá nhiều ngành nghề vì sẽ không kiểm soát được những lĩnh vực công ty được phép hoạt động nên dễ sai phạm trong việc xuất hóa đơn hoặc dù doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh ngành nghề đó nhưng chưa đủ điều kiện để kinh doanh… thì cũng bị coi là sai phạm. Khi doanh nghiệp phát triển tốt mà muốn mở rộng kinh doanh thêm các lĩnh vực khác thì doanh nghiệp có thể làm thủ tục thay đổi, bổ sung ngành nghề đăng ký kinh doanh sau. Việc này rất đơn giản, không tốn quá nhiều thời gian và công sức. Đối với thủ tục bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định của luật, thủ tục này chỉ mất 03 ngày kể từ ngày doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ hợp lệ.

Luật sư NGUYỄN ĐỨC HOÀN

Giám đốc Công ty luật TNHH HOK

Những việc cần thực hiện ngay sau khi thành lập công ty

Đoàn Luật sư TP. Hà Nội kêu gọi hưởng ứng ủng hộ phòng, chống đại dịch Covid-19

(LSVN) - Đoàn Luật sư TP. Hà Nội vừa ban hành Công văn số 269/CV-ĐLSHN về việc kêu gọi ủng hộ phòng, chống đại dịch Covid-19 gửi đến các tổ chức hành nghề Luật sư, các Luật sư thành viên. 

Hiện nay, dịch Covid-19 tái bùng phát và đang diễn biến rất phức tạp tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Thực hiện Công văn số 158/LĐLSVN ngày 26/5/2021 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam; với truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. Hà Nội kêu gọi các Tổ chức hành nghề Luật sư, các Luật sư thành viên và tổ chức, cá nhân cùng chung tay giúp đỡ ủng hộ nhân dân các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và các tỉnh thành khác trong cả nước, giúp Chính phủ cùng nhân dân các tỉnh đẩy lùi dịch bệnh. 

Mọi đóng góp của các tổ chức hành nghề Luật sư, Luật sư thành viên và các tổ chức, cá nhân xin gửi về Đoàn Luật sư TP. Hà Nội theo thông tin và số tài khoản sau: 

Tên chủ tài khoản: Đoàn Luật sư TP. Hà Nội; 
Số tài khoản: 1231 0000 688 988 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) Chi nhánh Quang Trung; 
Nội dung chuyển khoản: Tên tổ chức hành nghề/Luật sư/tổ chức/cá nhân ủng hộ.

Thời gian ủng hộ từ ngày 26/5/2021 đến hết ngày 25/6/2021. 

Số tiền ủng hộ sẽ cập nhật tại Website của Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và được Ban Chủ nhiệm chuyển đến địa phương chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 thông qua Liên đoàn Luật sư Việt Nam. 

PV


 

Admin