/ Kinh nghiệm - Thực tiễn
/ Nghị quyết 80-NQ/TW và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW và yêu cầu hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ trong chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa

15/02/2026 08:16 |

(LSVN) - Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập một bước ngoặt mang tính định hướng chiến lược: chuyển định vị văn hóa từ lĩnh vực tinh thần thuần túy sang trụ cột kinh tế dựa trên nền tảng sáng tạo. Trong cấu trúc mới này, sở hữu trí tuệ (SHTT) không chỉ dừng lại ở vai trò công cụ bảo hộ mà đã trở thành hạ tầng pháp lý cốt lõi của thị trường văn hóa. Thông qua việc phân tích mức độ tương thích của pháp luật hiện hành trước các yêu cầu đột phá của Nghị quyết 80-NQ/TW, bài viết gợi mở những định hướng hoàn thiện thể chế nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.

Sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đánh dấu bước chuyển mình căn bản trong tư duy hoạch định chính sách quốc gia. Văn hóa hiện nay không còn được tiếp cận đơn lẻ như một lĩnh vực thực hành tinh thần, mà được khẳng định là nguồn lực nội sinh, là động lực tăng trưởng và "sức mạnh mềm" cốt lõi trong chiến lược phát triển bền vững. Điểm đột phá mang tính thời đại của Nghị quyết 80 chính là việc đặt công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo vào vị trí trung tâm của cấu trúc kinh tế mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045. Theo đó, các giá trị di sản và sáng tạo không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn mà phải được chuyển hóa thành các giá trị kinh tế thực chất, thông qua việc thiết lập thị trường và chuỗi giá trị sáng tạo chuyên nghiệp.

Trong tiến trình chuyển dịch này, pháp luật SHTT giữ vai trò là "hạ tầng của mọi hạ tầng", bởi lẽ mọi sản phẩm văn hóa từ điện ảnh, âm nhạc, nội dung số đến các thiết kế và thương hiệu sáng tạo về bản chất đều là sự hiện diện của các tài sản trí tuệ. Khả năng vốn hóa văn hóa phụ thuộc trực tiếp vào tính dự liệu và hiệu quả của cơ chế bảo hộ pháp lý. Mặc dù Luật SHTT đã được cập nhật qua các đợt sửa đổi, gần đây nhất là Luật số 131/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/04/2026), thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong việc thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số nhưng khi đặt hệ thống quy định này dưới lăng kính chiến lược của Nghị quyết 80-NQ/TW, vẫn có thể nhận diện những khoảng trống nhất định. Đó là sự thiếu hụt các cơ chế pháp lý đặc thù để khai thác tài sản trí tuệ như một nguồn lực kinh tế động, thách thức trong việc bảo vệ chủ quyền văn hóa số và những vướng mắc khi định danh các hình thức sáng tạo dựa trên công nghệ mới.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet. 

Trên cơ sở phân tích các quan điểm chỉ đạo của Đảng về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế, bài viết tập trung đánh giá mức độ tương thích của hành lang pháp lý SHTT hiện hành. Từ đó, đề xuất các định hướng hoàn thiện thể chế theo tinh thần kiến tạo, nhằm khơi thông các điểm nghẽn và tạo bệ phóng vững chắc cho nền công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Quan điểm của Đảng về phát triển văn hoá và vai trò của sở hữu trí tuệ

Nghị quyết 80-NQ/TW đã xác lập một cách tiếp cận mới đối với phát triển văn hoá ở Việt Nam, trong đó văn hoá không còn được nhìn nhận thuần tuý như một lĩnh vực tinh thần, mà được xác định là nguồn lực nội sinh và động lực của tăng trưởng kinh tế xã hội. Quan điểm này phản ánh sự chuyển dịch căn bản trong tư duy phát triển, phù hợp với xu thế toàn cầu, nơi các quốc gia ngày càng coi công nghiệp văn hoá và kinh tế sáng tạo là một khu vực kinh tế đặc thù dựa trên tri thức, sáng tạo và bản sắc[i].

Việc đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp khoảng 7% GDP cho thấy Đảng và Nhà nước đã nhìn nhận rõ vai trò của văn hoá trong cấu trúc nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, mục tiêu này không thể đạt được nếu văn hoá tiếp tục được tiếp cận theo mô hình quản lý hành chính truyền thống, mà phải được vận hành theo logic của thị trường, nơi giá trị sáng tạo được bảo hộ, lưu thông và khai thác một cách minh bạch. Trong bối cảnh đó, SHTT trở thành hạ tầng pháp lý của thị trường văn hoá, bởi mọi sản phẩm văn hoá từ tác phẩm nghệ thuật, nội dung số cho đến thiết kế, thương hiệu đều tồn tại trước hết như là tài sản trí tuệ.

Từ góc độ này, có thể khẳng định rằng không thể hình thành một “thị trường văn hoá” đúng nghĩa nếu thiếu cơ chế pháp lý để xác lập, bảo vệ và khai thác các quyền SHTT. Khi quyền sáng tạo không được bảo vệ hiệu quả hoặc không thể chuyển hoá thành giá trị kinh tế, động lực đầu tư cho công nghiệp văn hoá sẽ suy giảm, kéo theo nguy cơ làm đứt gãy chuỗi giá trị sáng tạo. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về SHTT không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là điều kiện tiên quyết để thể chế hoá quan điểm của Đảng về phát triển văn hoá gắn với kinh tế.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu “tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế” và xây dựng “hệ sinh thái số” cho phát triển văn hoá[ii]. Trong kỷ nguyên số, không gian mạng đã trở thành môi trường chủ đạo của sáng tạo, phân phối và tiêu dùng sản phẩm văn hoá. Tuy nhiên, đây cũng là không gian nơi ranh giới lãnh thổ bị xoá mờ, trong khi hành vi sao chép, xâm phạm và khai thác trái phép các giá trị văn hoá diễn ra với tốc độ và quy mô chưa từng có. Trong bối cảnh đó, SHTT không chỉ còn là công cụ bảo vệ quyền lợi kinh tế của chủ thể sáng tạo, mà còn trở thành cơ chế bảo vệ chủ quyền văn hoá trên không gian mạng. Việc bảo đảm các sản phẩm văn hoá Việt Nam được khai thác một cách hợp pháp, công bằng và có lợi cho chủ thể trong nước có ý nghĩa trực tiếp đối với việc nâng cao sức cạnh tranh, củng cố bản sắc và khẳng định vị thế của văn hoá Việt Nam trong dòng chảy toàn cầu.

Từ thực tiễn quốc tế có thể thấy, những quốc gia thành công trong phát triển công nghiệp văn hoá đều đặt hệ thống bảo hộ quyền sáng tạo vào vị trí trung tâm của chính sách kinh tế. Việc bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ không chỉ nhằm bảo đảm quyền lợi của cá nhân sáng tạo, mà còn góp phần hình thành các chuỗi giá trị sáng tạo, trong đó mỗi khâu từ sáng tác, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng đều được gắn với lợi ích kinh tế cụ thể. Đặt trong bối cảnh đó, quan điểm của Đảng về phát triển văn hoá theo Nghị quyết 80 có thể được hiểu như một yêu cầu tái cấu trúc mối quan hệ giữa văn hoá và kinh tế. Văn hoá không chỉ là mục tiêu phát triển, mà còn là phương tiện để tạo ra tăng trưởng. Quyền SHTT với tư cách là công cụ pháp lý không thể chỉ dừng lại ở chức năng bảo hộ, mà phải được thiết kế như công cụ kiến tạo thị trường và thúc đẩy sáng tạo, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của công nghiệp văn hoá trong thời kỳ mới.

Thể chế hóa Nghị quyết 80-NQ/TW: Hoàn thiện pháp luật Sở hữu trí tuệ đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam

Nghị quyết 80-NQ/TW xác định rõ yêu cầu hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá, đồng thời nhấn mạnh phải xây dựng các luật về bản quyền, công nghiệp văn hoá theo hướng kiến tạo, gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, khi đối chiếu với Luật SHTT hiện hành[iii], có thể nhận thấy vẫn còn một số điểm bất cập khi các điều luật vẫn chủ yếu được xây dựng theo tư duy bảo hộ quyền truyền thống, chưa thiết kế được cơ chế pháp lý đủ mạnh để quyền SHTT vận hành như một loại tài sản kinh doanh có khả năng tạo dòng vốn và tích luỹ giá trị.

Trước hết, Luật SHTT đã xác lập hệ thống quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và chủ thể của quyền liên quan, bao gồm quyền sao chép, phân phối, truyền đạt tới công chúng, cho thuê và làm tác phẩm phái sinh (Điều 20, Điều 29 Luật SHTT). Đồng thời, các quyền này có thể được chuyển giao thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc cho phép sử dụng (Điều 45, 46 đối với quyền tác giả và Điều 44a, 44b Luật SHTT đối với quyền liên quan. Tuy nhiên, sự thừa nhận này mới dừng ở mức cho phép chuyển giao quyền, trong khi thiếu các thiết chế pháp lý để quyền đó được định giá, ghi nhận, quản trị rủi ro và khai thác như một loại tài sản trong các quan hệ đầu tư và tín dụng. Khoảng trống giữa sự thừa nhận về mặt pháp lý và khả năng vận hành trên thực tiễn có thể nhận diện rõ hơn qua thực trạng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp dựa trên tài sản trí tuệ.

Thực tiễn cho thấy, mặc dù pháp luật không cấm việc sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm nhưng các tổ chức tín dụng vẫn tỏ ra thận trọng do thiếu thị trường thứ cấp, rủi ro thanh khoản cao và khó xử lý tài sản khi phát sinh nợ xấu. Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, ngân hàng gần như không thể nhanh chóng phát mại các quyền như sáng chế, phần mềm hay nhãn hiệu do khó định giá và khó tìm bên nhận chuyển nhượng, khác biệt căn bản so với tài sản hữu hình. Bên cạnh đó, thiếu đội ngũ định giá chuyên nghiệp và dữ liệu thị trường minh bạch khiến việc thẩm định phải phụ thuộc vào các đơn vị tư vấn riêng lẻ, làm gia tăng chi phí, thời gian và rủi ro. Vì vậy, quyền SHTT hiện vẫn kém hấp dẫn hơn tài sản hữu hình trong vai trò bảo đảm tín dụng, làm suy giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sáng tạo[iv]. Điều này cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành chưa hình thành được một cơ chế đồng bộ để quyền SHTT có thể thực sự tham gia vào thị trường vốn, khiến tài sản trí tuệ dù là “linh hồn” của sản phẩm văn hoá vẫn khó trở thành nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp sáng tạo.

Trong môi trường số, Luật đã mở rộng phạm vi quyền truyền đạt tác phẩm tới công chúng thông qua mạng thông tin điện tử (Điều 20) và ghi nhận các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền và thông tin quản lý quyền (Điều 4 khoản 10b, 10c và 10d) [v]. Tuy nhiên, cấu trúc pháp lý hiện hành vẫn đặt trọng tâm vào cơ chế ngăn chặn và xử lý vi phạm, trong khi chưa thiết lập khuôn khổ pháp lý để bảo đảm việc phân chia giá trị kinh tế một cách minh bạch giữa các chủ thể tham gia thị trường nội dung số. Pháp luật hiện chưa có quy định buộc các nền tảng số phải công khai doanh thu từ khai thác nội dung hay nghĩa vụ chia sẻ lợi ích với chủ thể quyền, khiến thị trường văn hoá số khó hình thành theo đúng nghĩa kinh tế. Tuy nhiên, cấu trúc pháp lý hiện hành vẫn đặt trọng tâm vào cơ chế ngăn chặn và xử lý vi phạm, trong khi chưa thiết lập được khuôn khổ pháp lý nhằm bảo đảm phân chia giá trị kinh tế một cách minh bạch giữa các chủ thể tham gia thị trường nội dung số. Thực tiễn cho thấy, pháp luật hiện chưa có quy định buộc các nền tảng số phải công khai doanh thu từ việc khai thác nội dung hoặc thiết lập nghĩa vụ chia sẻ lợi ích với chủ thể quyền. Khoảng trống này đã được phản ánh qua các ý kiến tại diễn đàn nghị trường và báo chí chính thống, trong đó nêu rõ tình trạng các nền tảng xuyên biên giới thu lợi lớn từ nội dung báo chí trong nước (quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí) nhưng chưa có cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm chia sẻ giá trị với người sáng tạo[vi]. Sự thiếu vắng các nghĩa vụ này khiến thị trường văn hoá số khó hình thành theo đúng nghĩa kinh tế, làm suy giảm động lực sáng tạo và đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá.

Đối với giá trị văn hoá truyền thống như tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, Điều 23 Luật SHTT chỉ yêu cầu tổ chức, cá nhân khi sử dụng phải dẫn chiếu xuất xứ và giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm dân gian[vii]. Tuy nhiên, quy định này không xác lập chủ thể quyền, cũng không thiết kế cơ chế phân chia lợi ích cho cộng đồng - những chủ thể sáng tạo tập thể. Việc thiếu khung pháp lý cụ thể để bảo vệ và phân bổ lợi ích đối với di sản khiến hoạt động khai thác thương mại các giá trị văn hoá truyền thống chưa gắn với nguyên tắc công bằng và phát triển bền vững, chưa phù hợp với tinh thần mà Nghị quyết 80 hướng tới.

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) tiếp tục bộc lộ những giới hạn của khuôn khổ pháp luật SHTT hiện hành. Theo Điều 12a và Điều 13 Luật SHTT, tác giả là người trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình. Cách tiếp cận này chưa dự liệu trường hợp sản phẩm do hệ thống AI tạo ra mà không có sự can thiệp sáng tạo đáng kể của con người. Khoảng trống này làm phát sinh những bất định về chủ thể quyền, trách nhiệm pháp lý và khả năng thương mại hoá sản phẩm sáng tạo trong kỷ nguyên số.

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tiếp tục bộc lộ những giới hạn của khuôn khổ pháp luật SHTT hiện hành. Theo Điều 12a và Điều 13 Luật SHTT, tác giả được xác định là con người trực tiếp sáng tạo tác phẩm bằng lao động trí tuệ của mình. Cách tiếp cận này, kể cả trong Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Luật SHTT (có hiệu lực từ ngày 01/4/2026), vẫn được xây dựng trên giả định trung tâm là con người và không dự liệu trường hợp sản phẩm được tạo ra chủ yếu bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo. Trong thực tiễn, đã xuất hiện quan điểm cho rằng trí tuệ nhân tạo chỉ là công cụ hỗ trợ sáng tạo, và người sử dụng công cụ này vẫn có thể được xem là tác giả. Tuy nhiên, Luật SHTT hiện hành chưa chính thức hoá cách tiếp cận này cũng như chưa thiết lập tiêu chí pháp lý để xác định mức độ can thiệp của con người đủ để hình thành “lao động trí tuệ trực tiếp”. Do đó, địa vị pháp lý của các sản phẩm do AI tạo ra vẫn chưa được làm rõ, làm phát sinh những bất định về chủ thể quyền, trách nhiệm pháp lý và khả năng thương mại hoá sản phẩm sáng tạo trong kỷ nguyên số.

Khoảng trống này càng trở nên rõ nét khi tham chiếu đến kinh nghiệm quốc tế trong tiếp cận vấn đề quyền tác giả trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo. Ở nhiều quốc gia, các thảo luận về vị thế pháp lý của sản phẩm do AI tạo ra, cũng như yêu cầu cân bằng giữa bảo hộ quyền sáng tạo và quyền tiếp cận công nghệ, đang được đặt ra ngày càng rõ nét. Trong một số hệ thống pháp luật, quyền tác giả đối với sản phẩm do máy tính tạo ra được xác định dựa trên vai trò của con người trong việc sắp xếp và kiểm soát quá trình sáng tạo, qua đó nhấn mạnh yếu tố “tác giả là người đóng vai trò quyết định trong sáng tạo” như điều kiện để được bảo hộ[viii]. Những thực tiễn này cho thấy, ngay cả trong những khuôn khổ pháp luật tiên tiến, việc điều chỉnh quyền SHTT liên quan đến AI vẫn đang đặt ra nhiều câu hỏi về phạm vi bảo hộ, minh bạch và phân chia lợi ích, đồng thời cho thấy các quốc gia đang từng bước tìm kiếm những giải pháp pháp lý toàn diện hơn để xử lý các thách thức mà công nghệ mới đặt ra.

Không chỉ dừng lại ở câu hỏi về chủ thể sáng tạo trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, sự phát triển của công nghệ số còn làm xuất hiện những hình thức tài sản văn hoá mới, trong đó nổi bật là các Token không thể thay thế (Non-Fungible Token - NFT). NFT là một dạng mã định danh số được ghi nhận trên nền tảng blockchain, hệ thống cho phép xác lập tính duy nhất và khả năng truy vết quyền sở hữu đối với một đối tượng số, thường được gắn với tác phẩm nghệ thuật, nội dung số hoặc các sản phẩm sáng tạo trong môi trường trực tuyến. Trong công nghiệp văn hoá, NFT được xem như một phương thức mới để thương mại hoá giá trị của tài sản trí tuệ và mở rộng không gian thị trường cho các chủ thể sáng tạo. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay chưa thừa nhận NFT như một đối tượng quyền độc lập, cũng chưa có quy định cụ thể điều chỉnh việc xác lập quyền, giao dịch, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan đến loại tài sản này. NFT hiện chỉ tồn tại như một dữ liệu số gắn với giao dịch trên blockchain, trong khi mối quan hệ pháp lý giữa NFT và quyền SHTT đối với tác phẩm gốc vẫn chưa được làm rõ. Khoảng trống này dẫn đến nguy cơ nhầm lẫn giữa quyền sở hữu token và quyền đối với tác phẩm được gắn với token, từ đó làm phát sinh tranh chấp và rủi ro pháp lý trong hoạt động khai thác, đầu tư và chuyển nhượng tài sản văn hoá số.

Thực tiễn cho thấy, việc nắm giữ NFT không đồng nghĩa với việc có quyền tác giả hoặc quyền khai thác thương mại đối với nội dung số, trừ khi có thoả thuận chuyển giao quyền kèm theo. Tuy nhiên, do pháp luật hiện chưa có quy định điều chỉnh trực tiếp mối quan hệ này, nhiều giao dịch NFT đang diễn ra trong “vùng xám” pháp lý làm gia tăng nguy cơ tranh chấp và suy giảm niềm tin của thị trường đối với các mô hình kinh doanh dựa trên tài sản văn hoá số. Khoảng trống này tiếp tục cho thấy sự cần thiết phải tiếp cận pháp luật SHTT theo hướng linh hoạt và thích ứng hơn với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ[ix].

Bên cạnh quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp giữ vai trò then chốt trong cấu trúc của công nghiệp văn hoá, bởi giá trị kinh tế của sản phẩm văn hoá được tích luỹ không chỉ từ nội dung sáng tạo mà còn từ dấu hiệu thương mại và hình ảnh nhận diện gắn với sản phẩm. Nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý không đơn thuần là công cụ phân biệt mà đã trở thành tài sản vô hình có giá trị thương mại cao, quyết định khả năng cạnh tranh của các ngành dựa trên sáng tạo như: thời trang, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hoá và quảng cáo. Tuy nhiên, pháp luật sở hữu công nghiệp hiện hành vẫn được thiết kế chủ yếu theo tư duy đăng ký - bảo hộ - xử lý vi phạm mà chưa hình thành các cơ chế pháp lý nhằm kết nối quyền sở hữu công nghiệp với chuỗi giá trị của công nghiệp văn hoá. Hệ thống quy định hiện nay tập trung vào thủ tục xác lập và bảo vệ quyền mà thiếu đi các công cụ hỗ trợ thương mại hoá, xây dựng thương hiệu văn hoá và quản trị tài sản trí tuệ như một nguồn lực phát triển.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, nhiều sản phẩm thủ công, văn hoá có giá trị cao về bản sắc nhưng vẫn chưa hình thành được thương hiệu mạnh trên thị trường do thiếu chiến lược pháp lý gắn quyền sở hữu công nghiệp với khai thác kinh tế. Chẳng hạn các làng nghề lụa, gốm, mây tre đan hoặc sản phẩm thủ công phục vụ du lịch văn hoá… phần lớn mới dừng ở quy mô hộ gia đình, sử dụng dấu hiệu nhận diện phân tán, chưa được đăng ký và quản trị nhãn hiệu một cách hệ thống, dẫn đến tình trạng sao chép kiểu dáng, chiếm đoạt tên gọi và khai thác không công bằng. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thiếu cơ chế hỗ trợ xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý gắn với câu chuyện văn hoá địa phương đã làm hạn chế đáng kể khả năng nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm văn hoá Việt Nam[x].

Đáng lưu ý, hệ thống pháp luật hiện cũng chưa thiết kế các cơ chế liên kết giữa quyền sở hữu công nghiệp và chính sách phát triển công nghiệp văn hoá như cơ chế ưu đãi đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng cho doanh nghiệp sáng tạo nhỏ và vừa; cơ chế gắn nhãn hiệu với chương trình quảng bá du lịch, văn hoá quốc gia; hay chính sách khai thác chỉ dẫn địa lý như một tài sản văn hoá. Việc thiếu các công cụ này khiến các dấu hiệu thương mại chưa được phát huy như tài sản văn hoá mang giá trị kinh tế bền vững, qua đó cho thấy khoảng cách giữa thiết kế pháp luật hiện hành và yêu cầu phát triển công nghiệp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW.

Định hướng hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ trong phát triển công nghiệp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW

Từ những phân tích ở trên có thể thấy, việc hoàn thiện thể chế về SHTT trong phát triển công nghiệp văn hoá không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp, mà còn gắn với yêu cầu đổi mới tư duy tiếp cận pháp luật theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh kinh tế sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý mang tính kiến tạo, vừa bảo đảm bảo hộ quyền, vừa khơi thông khả năng khai thác tài sản trí tuệ như một nguồn lực phát triển. Trên cơ sở đó, có thể gợi mở một số trục định hướng lớn cho quá trình hoàn thiện pháp luật SHTT trong thời gian tới.

Trước hết, cần kiến tạo cơ chế pháp lý cho khai thác tài sản văn hoá số và tài sản trí tuệ trong môi trường số. Nghị quyết 80 nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và xây dựng hệ sinh thái số cho công nghiệp văn hoá, coi đây là động lực then chốt để mở rộng không gian thị trường. Trong bối cảnh đó, các hình thức tài sản mới như sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo ra hay tác phẩm được gắn với NFT đang trở thành mắt xích quan trọng của kinh tế sáng tạo. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành (kể cả sau lần sửa đổi mới nhất năm 2025) vẫn chưa thiết lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ để xác lập địa vị pháp lý, cơ chế giao dịch và bảo hộ đối với các dạng tài sản này. Việc hoàn thiện pháp luật vì vậy cần được tiếp cận theo hướng xây dựng từng bước các cơ chế định giá, ghi nhận, giao dịch và quản trị rủi ro đối với tài sản trí tuệ trong môi trường số, nhằm tạo điều kiện để giá trị sáng tạo có thể lưu thông và tích luỹ trong nền kinh tế.

Thứ hai, cần thiết lập hành lang pháp lý cho các mô hình kinh doanh văn hoá mới dựa trên hợp tác công - tư. Một trong những định hướng quan trọng của Nghị quyết 80 là huy động nguồn lực xã hội cho phát triển công nghiệp văn hoá, đặc biệt thông qua việc khai thác các không gian văn hoá, di tích và thiết chế công lập. Trên thực tế, các mô hình “đầu tư công, quản lý tư” hay “nhà nước giữ quyền, tư nhân khai thác” đang ngày càng phổ biến trong lĩnh vực bảo tồn và kinh doanh di sản. Tuy nhiên, pháp luật SHTT hiện nay chưa có quy định riêng điều chỉnh việc phân chia quyền SHTT, quyền khai thác thương mại và nghĩa vụ chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân trong các mô hình này. Do đó, có thể cân nhắc hoàn thiện dần các cơ chế đặc thù về chuyển giao, cấp phép và quản trị quyền SHTT trong các dự án hợp tác công - tư, nhằm bảo đảm hài hoà giữa lợi ích công cộng và động lực đầu tư.

Thứ ba, cần hoàn thiện cơ chế thực thi quyền SHTT trong môi trường xuyên biên giới. Công nghiệp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết 80 không chỉ hướng tới thị trường trong nước mà còn đặt mục tiêu xuất khẩu “sức mạnh mềm” ra thế giới. Điều này đòi hỏi pháp luật SHTT phải có mức độ tương thích cao hơn với các chuẩn mực và cam kết quốc tế, đồng thời thiết lập các cơ chế bảo vệ hiệu quả đối với sản phẩm văn hoá Việt Nam trên không gian mạng toàn cầu. Việc nâng cao hiệu quả thực thi không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của chủ thể quyền, mà còn góp phần gìn giữ bản sắc và nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị sáng tạo.

Từ góc độ tiếp cận tổng thể, có thể thấy pháp luật SHTT chỉ phát huy đầy đủ vai trò khi được đặt trong mối liên hệ liên ngành với các lĩnh vực pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ. Sự phối hợp chính sách này sẽ góp phần hình thành một môi trường pháp lý đồng bộ, qua đó hỗ trợ tốt hơn cho mục tiêu phát triển công nghiệp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW.

KẾT LUẬN

Nghị quyết 80-NQ/TW đã khẳng định vai trò của văn hoá như một nguồn lực nội sinh quan trọng và đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp văn hoá trở thành ngành kinh tế có đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng quốc gia. Trong bối cảnh đó, pháp luật SHTT giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành thị trường sáng tạo và chuyển hoá giá trị văn hoá thành nguồn lực kinh tế. Thực tiễn cho thấy, mặc dù Luật SHTT đã có những bước sửa đổi quan trọng nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển công nghiệp văn hoá trong môi trường số và hội nhập quốc tế. Việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng linh hoạt, gắn kết với các chính sách văn hoá - kinh tế và chuyển đổi số sẽ là điều kiện để nâng cao hiệu quả khai thác tài sản trí tuệ.

Từ tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, có thể khẳng định rằng: chỉ khi quyền SHTT được đặt trong tư duy phát triển và kiến tạo, văn hoá mới thực sự trở thành sức mạnh mềm và trụ cột bền vững của quốc gia trong giai đoạn mới.

[i] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam.

[ii] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hoá Việt Nam, tr.5.

[iii] Quốc hội, Luật SHTT số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (được sửa đổi bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 và 2025 - Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội ngày 09/9/2025).

[iv] Tín dụng cho tài sản trí tuệ, báo Nhân Dân (04/12/2025), https://nhandan.vn/tin-dung-cho-tai-san-tri-tue-post927765.html, truy cập ngày 03/02/2026.

[v] Quốc hội, Luật SHTT số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 được sửa đổi bổ sung các năm 2009, 2019, 2022 và 2025 - Văn bản hợp nhất số 155/VBHN-VPQH của Văn phòng Quốc hội ngày 09/9/2025).

[vi] Xem: “Các nền tảng số phải chia sẻ doanh thu với báo chí”, các ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội về nghĩa vụ chia sẻ doanh thu của nền tảng số với chủ thể nội dung, Báo Thanh Niên (25/11/2025), https://thanhnien.vn/cac-nen-tang-so-phai-chia-se-doanh-thu-voi-bao-chi-185251125000343231.htm, truy cập ngày 03/02/2026

[vii] Điều 23 Luật SHTT.

[viii] Xem: Pháp luật bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm do AI tạo ra ở một số quốc gia – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Công Thương (bản điện tử), https://tapchicongthuong.vn/phap-luat-bao-ho-quyen-tac-gia-doi-voi-tac-pham-ai-o-mot-so-quoc-gia-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-viet-nam-131175.htm, truy cập ngày 02/02/2026

[ix] Quyền sở hữu trí tuệ nội dung số do AI sáng tạo - Thực trạng pháp lý và giải pháp phát triển kinh tế số tại Việt Nam, phaply.net.vn (01/02/2026), https://phaply.net.vn/quyen-so-huu-tri-tue-noi-dung-so-do-ai-sang-tao-thuc-trang-phap-ly-va-giai-phap-phat-trien-kinh-te-so-tai-viet-nam-a260397.html, truy cập ngày 03/02/2026.

[x] Một số kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương tại thị trường quốc tế, Tạp chí Công thương (16/11/2022),

https://tapchicongthuong.vn/mot-so-kinh-nghiem-quoc-te-trong-xay-dung-thuong-hieu-cho-dac-san-dia-phuong-tai-thi-truong-quoc-te-101683.htm#:~:text=Vi%E1%BB%87c%20s%E1%BB%AD%20d%E1%BB%A5ng%20%C4%91%E1%BB%8Ba%20danh,%C4%91%E1%BB%93%20n%C3%B4ng%20s%E1%BA%A3n%20th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi, truy cập ngày 01/02/2026.

Thạc sĩ VŨ CHI MAI

Trường Đại học Văn hoá TP. HCM