/ Luật sư - Bạn đọc
/ Những quy định mới về khiếu nại từ ngày 01/7

Những quy định mới về khiếu nại từ ngày 01/7

05/06/2026 07:53 |

(LSVN) - Ngày 15/5/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 155/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, trong đó đã bổ sung nhiều quy định mới về khiếu nại đông người, đối thoại, tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại, xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật, xử lý trách nhiệm người giải quyết khiếu nại và ban hành nhiều biểu mẫu mới.

Bài viết nêu rõ những nội dung người dân cần nắm rõ để thực hiện quyền khiếu nại đúng quy định và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ nhất, Nghị định mới không thay thế mà sửa đổi, bổ sung Nghị định 124/2020/NĐ-CP.

Người dân cần lưu ý, Nghị định số 155/2026/NĐ-CP không phải là văn bản thay thế toàn bộ Nghị định số 124/2020/NĐ-CP mà chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định này. Do đó, các quy định của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP không bị sửa đổi hoặc bãi bỏ vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành.

Thứ hai, lần đầu tiên quy định cụ thể thế nào là vụ việc khiếu nại phức tạp.

Nghị định bổ sung Điều 3a quy định các trường hợp được xác định là vụ việc phức tạp trong giải quyết khiếu nại.

Đó là những vụ việc phải xác minh tại nhiều địa điểm; có nhiều nội dung cần xác minh; liên quan đến nhiều người; có yếu tố nước ngoài; liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan hoặc có chứng cứ, tài liệu mâu thuẫn cần thời gian đánh giá, xác minh.

Việc xác định vụ việc phức tạp phải được lập thành văn bản và lưu trong hồ sơ giải quyết khiếu nại.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. 

Thứ ba, quy định chặt chẽ hơn đối với khiếu nại đông người.

Đối với trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung, việc cử người đại diện phải thực hiện theo quy định của pháp luật về tiếp công dân.

Khi thụ lý giải quyết, cơ quan có thẩm quyền chỉ xem xét nếu đơn khiếu nại có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện hợp lệ.

Quy định này giúp bảo đảm tính minh bạch và tránh phát sinh tranh chấp về tư cách đại diện.

Thứ tư, bổ sung quy định về rút khiếu nại trong vụ việc đông người.

Nếu chỉ một hoặc một số người rút khiếu nại thì việc giải quyết vẫn tiếp tục đối với những người còn lại.

Người đã rút khiếu nại sẽ không tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong vụ việc đó.

Trường hợp tất cả những người khiếu nại cùng rút đơn thì người giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại.

Thứ năm, đối thoại được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn.

Người giải quyết khiếu nại phải thông báo bằng văn bản về việc tổ chức đối thoại trước ít nhất 5 ngày làm việc.

Thông báo phải ghi rõ thời gian, địa điểm và nội dung đối thoại. Đặc biệt, trong giải quyết khiếu nại lần hai, việc tổ chức đối thoại là bắt buộc.

Đối với những vụ việc đông người, phức tạp, có nhiều ý kiến khác nhau hoặc được dư luận xã hội quan tâm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải trực tiếp đối thoại với người khiếu nại.

Thứ sáu, không tham gia đối thoại không có lý do chính đáng, việc giải quyết vẫn tiếp tục.

Theo quy định mới, nếu người khiếu nại đã được mời đối thoại hợp lệ nhưng không tham gia mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc.

Lý do chính đáng được hiểu là trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan như thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, ốm đau hoặc các hoàn cảnh khách quan khác làm cho người khiếu nại không thể tham gia đối thoại.

Thứ bảy, bổ sung cơ chế tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết khiếu nại.

Đây là một trong những nội dung mới quan trọng của Nghị định 155/2026/NĐ-CP. Người giải quyết khiếu nại có thể ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết khiếu nại khi xuất hiện các sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Một số trường hợp được nêu trong nghị định gồm thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn, ốm đau, đi công tác xa hoặc hồ sơ, tài liệu liên quan đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong.

Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì phải ban hành quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại theo quy định.

Thứ tám, người dân có thêm cơ chế bảo vệ quyền lợi khi việc giải quyết khiếu nại có sai phạm.

Nghị định sửa đổi các quy định về xem xét lại việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật. Theo đó, khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì người có thẩm quyền cấp trên có thể yêu cầu kiểm tra, xem xét lại.

Thủ tướng Chính phủ có thể yêu cầu kiểm tra hoặc giao Tổng Thanh tra Chính phủ kiểm tra việc giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh cũng được giao thẩm quyền kiểm tra, xem xét lại các quyết định giải quyết khiếu nại thuộc phạm vi quản lý khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Đây là cơ chế quan trọng giúp tăng cường kiểm soát quyền lực và hạn chế các quyết định giải quyết khiếu nại trái pháp luật.

Thứ chín, xử lý nghiêm người giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật.

Nghị định sửa đổi toàn diện các quy định về xử lý kỷ luật đối với người được giao xác minh nội dung khiếu nại và người giải quyết khiếu nại.

Các hành vi vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật gồm:

- Sách nhiễu, gây khó khăn hoặc phiền hà cho người khiếu nại;

- Bao che cho người bị khiếu nại;  

- Đe dọa, trả thù hoặc trù dập người khiếu nại;

- Cố ý không thụ lý vụ việc đủ điều kiện giải quyết;

- Cố ý bỏ qua chứng cứ hoặc làm sai lệch hồ sơ;

- Cố ý không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại;

- Cố ý ban hành quyết định giải quyết khiếu nại trái pháp luật.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm có thể bị khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm hoặc buộc thôi việc.

Trường hợp có dấu hiệu tội phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, Nghị định cũng bổ sung quy định xử lý đối với người có hành vi can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết khiếu nại.

Thứ mười, ban hành và thay thế nhiều biểu mẫu quan trọng.

Nghị định số 155/2026/NĐ-CP thay thế nhiều biểu mẫu đang được sử dụng theo Nghị định số 124/2020/NĐ-CP. Trong đó, người dân cần đặc biệt quan tâm đến: Mẫu số 01 về đơn khiếu nại; Mẫu số 02 về Giấy ủy quyền khiếu nại; Mẫu số 03 và Mẫu số 04 về việc cử người đại diện trong trường hợp nhiều người cùng khiếu nại; Mẫu số 14 về Biên bản đối thoại.

Ngoài ra, Nghị định còn bổ sung Mẫu số 14a về Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết khiếu nại; Mẫu số 14b về Quyết định tiếp tục giải quyết khiếu nại.

Người dân thực hiện quyền khiếu nại từ ngày 01/7/2026 cần lưu ý sử dụng các biểu mẫu mới để bảo đảm hồ sơ phù hợp với quy định hiện hành.

Ngoài ra, người dân cũng cần lưu ý về việc ủy quyền khiếu nại. Theo đó, Nghị định quy định văn bản ủy quyền khiếu nại của cá nhân phải được công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, đây là quy định chuyển tiếp và chỉ có hiệu lực đến hết ngày 31/12/2026. Kể từ ngày 01/01/2027, quy định này sẽ hết hiệu lực theo chính nội dung của Nghị định số 155/2026/NĐ-CP. Người dân có nhu cầu ủy quyền khiếu nại trong khoảng thời gian từ ngày 01/7/2026 đến ngày 31/12/2026 cần lưu ý thực hiện đúng quy định để tránh ảnh hưởng đến việc thụ lý hồ sơ.

Với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng, Nghị định số 155/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền, đồng thời bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình thực hiện quyền khiếu nại.

Luật sư NGUYỄN HỒNG HÀ