/ Kết nối
/ Sơn La thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhờ chuyển giao khoa học và công nghệ

Sơn La thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhờ chuyển giao khoa học và công nghệ

20/05/2026 09:34 |

(LSVN) - Trong những năm qua, việc triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo ra những chuyển biến tích cực trên địa bàn tỉnh Sơn La. Giai đoạn từ năm 2016 đến nay,các dự án thuộc Chương trình không chỉ góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mà còn từng bước làm thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao đời sống người dân, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Trồng Thông Caribe cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Sơn La.

Trồng Thông Caribe cung cấp gỗ lớn tại tỉnh Sơn La.

Các dự án thuộc Chương trình được triển khai trên địa bàn tỉnh Sơn La cơ bản bám sát quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phù hợp với định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của địa phương. Thông qua việc lựa chọn các mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái và tiềm năng sẵn có, Chương trình đã từng bước khai thác hiệu quả lợi thế vùng miền.

Nhiều mô hình sản xuất mang lại giá trị kinh tế cao đã được hình thành và nhân rộng như sản xuất cà phê chè bền vững, phát triển cây ăn quả (xoài, bơ), chăn nuôi dê lai hay trồng rừng gỗ lớn. Không chỉ tạo thu nhập, các mô hình còn góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi tập quán canh tác truyền thống của người dân theo hướng khoa học, bền vững, qua đó góp phần thay đổi diện mạo nông thôn miền núi.

Một trong những kết quả nổi bật của Chương trình là góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp. Các tiến bộ khoa học và công nghệ được chuyển giao đã giúp hình thành quy trình sản xuất đồng bộ, kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Thông qua các dự án, nhiều sản phẩm nông nghiệp của Sơn La từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường khoa học và công nghệ, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Việc liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ đã góp phần xây dựng chuỗi giá trị, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.

Bên cạnh đó, Chương trình còn huy động được các nguồn lực xã hội tham gia phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương. Việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ được chú trọng. Thông qua quá trình triển khai các dự án, năng lực quản lý, tổ chức thực hiện và tiếp nhận công nghệ của các đơn vị tham gia được nâng lên rõ rệt.

Đến nay, Chương trình đã đào tạo được 80 kỹ thuật viên cơ sở, giúp hình thành lực lượng nòng cốt có khả năng hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức sản xuất và xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tế. Đồng thời, 1.405 lượt người dân đã được tham gia tập huấn theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”, gắn lý thuyết với thực hành tại hiện trường. Nhờ đó, nhiều hộ dân không chỉ áp dụng thành công các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất mà còn chủ động nhân rộng mô hình, góp phần lan tỏa hiệu quả của Chương trình ra cộng đồng.

Các dự án triển khai tại Sơn La đã từng bước hình thành chuỗi hoạt động khoa học và công nghệ tương đối hoàn chỉnh, từ khảo sát, tiếp nhận công nghệ, đào tạo nhân lực, xây dựng mô hình đến tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Việc chuyển giao công nghệ không dừng lại ở lý thuyết mà được gắn chặt với mô hình thực tế, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu thị trường. Qua đó, khoa học và công nghệ được “hiện thực hóa” thành sản phẩm cụ thể, vùng sản xuất mới và năng lực nội sinh của địa phương. Đây chính là yếu tố quan trọng bảo đảm tính bền vững của các dự án sau khi kết thúc hỗ trợ.

Lĩnh vực trồng trọt là điểm sáng trong triển khai Chương trình với nhiều dự án mang lại hiệu quả rõ rệt. Dự án phát triển cà phê chè bền vững đã chuyển giao 11 quy trình công nghệ, xây dựng 4 mô hình sản xuất từ giống, trồng mới đến thu hoạch, chế biến. Kết quả đã sản xuất được hơn 300 nghìn cây giống đạt tiêu chuẩn, 100 tấn cà phê nhân đạt chuẩn xuất khẩu. Đáng chú ý, năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình cao hơn lần lượt 14,9 tấn và 16,04% so với phương thức canh tác truyền thống. Dự án phát triển giống xoài mới đã xây dựng hệ thống vườn đầu dòng, vườn ươm, triển khai mô hình trồng theo tiêu chuẩn VietGAP và hỗ trợ hàng trăm hộ dân tham gia sản xuất. Từ quy mô ban đầu, mô hình đã được nhân rộng lên gần 100 ha, tạo nền tảng cho phát triển vùng chuyên canh xoài chất lượng cao. Trong khi đó, dự án phát triển cây bơ đã hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ giống đến tiêu thụ, với tỷ lệ sống của cây đạt trên 95%, đồng thời bước đầu xây dựng được thị trường tiêu thụ ổn định.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, dự án dê lai được đánh giá là mô hình tiêu biểu. Dự án đã xây dựng trại giống quy mô lớn, mô hình chăn nuôi tập trung và các mô hình nông hộ, tạo ra hơn 700 con dê lai, góp phần phát triển sinh kế cho người dân. Đặc biệt, dự án còn gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm cho học viên tại cơ sở điều trị nghiện ma túy, mang lại ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, dự án trồng thông Caribe đã mở ra hướng phát triển rừng gỗ lớn, vừa mang lại giá trị kinh tế lâu dài, vừa góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Đặc biệt, trong quá trình triển khai chú trọng gắn sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Các mô hình sản xuất cà phê, xoài, bơ, dê lai đều được liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã, hệ thống phân phối như siêu thị, nhà hàng, khách sạn.

Việc xây dựng hợp đồng tiêu thụ, quảng bá sản phẩm qua nền tảng trực tuyến đã giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tạo đầu ra ổn định. Chương trình đã mang lại hiệu quả toàn diện trên nhiều phương diện. Về khoa học và công nghệ, địa phương đã tiếp nhận và làm chủ 32 quy trình công nghệ, gópphần nâng cao năng lực ứng dụng và đổi mới sáng tạo.

Về kinh tế, nhiều mô hình cho hiệu quả cao, tăng thu nhập cho người dân. Về xã hội, Chương trình góp phần tạo việc làm, nâng cao trình độ sản xuất và thay đổi tư duy của người dân. Đặc biệt, các mô hình sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP, phát triển rừng gỗ lớn đã góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Một số dự án đã hình thành rõ nét chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu và các chủ thể tham gia. Qua đó, năng lực tổ chức sản xuất, quản lý dự án và phối hợp liên ngành của các đơn vị được nâng cao. Mạng lưới liên kết giữa cơ quan quản lý, đơn vị khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân ngày càng được củng cố, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông nghiệp bền vững.

Việc triển khai Chương trình đã không chỉ dừng lại ở những kết quả trước mắt mà còn tạo dựng nền tảng lâu dài cho phát triển nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Sơn La theo hướng hiện đại, bền vững. Những mô hình hiệu quả, những quy trình công nghệ được làm chủ và đội ngũ nhân lực kỹ thuật được hình thành chính là “hạt nhân” để tiếp tục lan tỏa tri thức, nâng cao giá trị sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm địa phương.

Trong thời gian tới, việc tiếp tục nhân rộng các mô hình thành công, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ sẽ là hướng đi then chốt, góp phần đưa kinh tế nông thôn, miền núi Sơn La phát triển nhanh, bền vững và thích ứng tốt với yêu cầu của thị trường.

THƯƠNG NGUYỄN

Các tin khác