/ Bút ký Luật sư
/ Sự tương đồng về tính “đối đáp” trong dân ca Quan họ và tranh tụng tại chốn pháp đình

Sự tương đồng về tính “đối đáp” trong dân ca Quan họ và tranh tụng tại chốn pháp đình

20/02/2026 16:54 |

(LSVN) - Khi nói đến dân ca Quan họ, chúng ta không thể không nhắc đến các địa danh đã từng đi vào nhiều làn điệu Quan họ cổ như Sông Cầu (hay còn gọi là Dòng sông Quan họ) là sợi dây kết nối văn hóa giữa hai bờ Bắc (Bắc Giang) và Nam (Bắc Ninh) mà trong các làn điệu cổ thường được gọi là “Quan họ bờ bắc” và “Quan họ bờ nam” Sông Cầu; Làng Diềm - được coi là “thủy tổ” của dân ca Quan họ, nơi có đền thờ Vua Bà, người sáng tạo ra các làn điệu Quan họ; Đồi Lim - nơi diễn ra Hội Lim nổi tiếng vào ngày 13 tháng Giêng hàng năm, là trung tâm sinh hoạt văn hóa Quan họ lớn nhất vùng và địa danh là các làng Quan họ cổ, là nơi duy trì lối hát đối đáp và tục kết chạ giữa các làng, trong đó phải nhắc đến làng Thổ Hà gắn với câu nói dân gian “Về Thổ Hà mới ra Quan họ”.

Có lẽ nét đặc sắc của dân ca Quan họ không chỉ nằm ở làn điệu mượt mà, sâu lắng nhưng  vẫn giữ được khí phách “Vang - Rền - Nền - Nảy”, mà còn ở cả ca từ với thứ ngôn ngữ vừa mộc mạc, gần gũi như hơi thở làng quê, vừa uyên bác, sang trọng. Quan họ là hình thức hát giao duyên, đầy chất trữ tình  giữa các “liền anh”, “liền chị” nhưng lại không thể thiếu tính “đối đáp”, tức bên kia đưa ra một câu hát (hát ra), bên kia phải đáp lại (hát đối) sao cho đúng làn điệu, đúng lời và đúng ý nghĩa. Cấu trúc  đối đáp “bên mời - bên khinh” trong dân ca Quan họ làm chúng ta liên tưởng đến sự đối quyền trong việc tranh tụng tại chốn pháp định khi mà một bên đưa ra câu hỏi/chất vấn thì bên kia có quyền và nghĩa vụ phải đáp trả bằng các lập luận sắc bén kèm theo chứng cứ chứng minh.

Vượt khỏi ranh giới của nghệ thuật, thì Quan họ không chỉ còn là hát, mà nó còn là cuộc đấu trí về ngôn từ. Nếu liền anh hát về “trăng” thì liền chị phải đáp lại bằng hình ảnh tương xứng như “gió”, “mây” hay một góc nhìn khác về “trăng”. Hay nếu liền chị hát ẩn dụ về “cối”, thì liền anh phải đối đáp lại bằng hình tượng phồn thực tương xứng là “chày” nhưng trong mọi hoàn ảnh luôn phải giữ đúng khuôn khổ luật quế của làn điệu. Điều này cũng tương đồng với việc tranh tụng, bởi phản biện không phải là nói át đi, mà là phản hồi trực diện vào vấn đề. Nếu một bên đưa ra bằng chứng A, bên kia phải dùng logic hoặc bằng chứng B để phủ nhận hoặc làm suy yếu bằng chứng A đó. Cả hai đều đòi hỏi sự nhạy bén và khả năng "bắt bẻ" tinh tế.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Dù là hát giao duyên, nhưng rõ ràng kỹ thuật thanh nhạc trong dân ca Quan họ luôn được đề cao. Một người hát Quan họ hay phải hội tụ đủ bốn yếu tố đó là: Vang, Rền, Nền, Nảy. Vang, tức tiếng hát phải sáng, rõ, có sức lan tỏa trong không gian. Đây cũng là một trong các yêu cầu quan trọng trong việc thể hiện lập luận, đối đáp của người tranh tụng tại chôn pháp đình. Rền, là giọng hát có độ rung, sự đầy đặn và liên tục như tiếng sấm rền vang xa. Độ rền trong tranh tụng tạo ra hiệu ứng cao khi thể hiện sự nhất quán, tính uy quyền trong tư duy lập luận. Nền, là cách hát chậm rãi, chắc chắn, giữ được nhịp điệu và âm sắc ổn định. Điều này luôn giữ cho người tranh trụng tại chốn pháp đình giữ được chiến thuật “ru ngủ” và “thao túng tâm lý” đối với đối tụng, đồng thời cũng tạo ra các giọt mật để rót vào tai Hội đồng xét xử/Bồi thẩm đoàn. Và Nảy, một kỹ thuật luyến láy đặc sắc, đặc trưng nhất của dân ca Quan họ nhằm tạo ra những hạt âm thanh nhỏ, giòn và tinh tế ngay trong cổ họng. Ai hát Quan họ dù có chất giọng mượt mà, sâu lắng đến đâu đi chăng nữa nhưng không Nảy thì chưa được coi là biết hát. Trong văn hóa chốn pháp đình, tính Nảy được coi như đòn quyết định để “hạ gục” đối tụng  và reo lòng trắc ẩn một cách ngọt ngào vào Hội đồng xét xử/Bồi thẩm đoàn nhằm tạo ra kết quả tốt nhất cho thân chủ của mình.

Chủ thể tham gia vào các làn điều Quan họ là các “liền anh”, “liền chị” mà theo Quan họ cổ thì các  liền anh, liền chị khi đã kết chạ thì không được lấy nhau. Mối quan hệ của họ đã đạt đến độ “tri kỷ” để giữ cho sự thanh tao, gắn bó, thấu hiểu nhau tuyệt đối hòng nuôi dưỡng tâm hồn luôn đồng điệu với nghệ thuật. Sự độc lập về chủ thể của “liền anh”, “liền chị” luôn tạo ra sự đối đáp vừa có “tình”, có “lý” trong “phiên tòa nghệ thuật” bởi khi liền chị “nảy” một điển tích để “cáo buộc”, để thử thách thì liền anh phải có nghĩa vụ giải mã và đáp lại đúng lề lối. Nếu không đáp lại được thì “vụ kiện” nghệ thuật đó coi như thất bại.

Ngoài ra, chủ thể hát Quan họ còn chia ra ngôi thứ bậc như “liền chị” thì có “chị cả”, “chị hai”, còn “liền anh” thì có “anh cả”. “anh hai”. “Anh cả”, “chị cả” được coi là người hát dẫn, là người cất giọng đầu tiên để định hướng cuộc đối đáp, còn “anh hai”, “chị hai” được coi là người hát luồn, hát theo sát để nếu người hát dẫn quên lời hoặc hụt hơi thì người hát luồn phải ngay lập tức bù đắp để câu hát không bị gián đoạn. Điều này làm chúng ta liên tưởng đến việc một trong các chủ thể tranh tụng tại chốn pháp đình khi “anh cả”, “chị cả” chính là các luật sư chính, công tố viên chính nắm giữ vai trò và đưa ra chiến thuật lập luận trong việc tranh tụng, còn “anh hai”, “chị hai” là luật sư cộng sự, công tố viên giữ vai trò “thư ký” để chuẩn bị hồ sơ cũng như lập luận làm rõ các tình tiết, cung cấp chứng cứ để khẳng định lại quan điểm lập luận của luật sư chính, công tố viên chính.

Sự hòa quyện giữa các làn điệu Quan họ được bao bọc và thẩm thấu từ không gian dòng chảy Sông Cầu đến Núi Thiên Thai - một địa danh có thực nhưng luôn bao phủ bởi huyền thoại về sự thoát tục thuộc xứ Kinh Bắc làm chúng ta liên tưởng đến một phiên tòa tại chốn pháp đình giống như một dòng sông, nơi các luồng chứng cứ và lập luận được tuôn chảy. Sự đối đáp của các “liền anh”, “liền chị” trên sông Cầu đòi hỏi sự nhịp nhàng, "đúng lề lối" giống như việc tranh tụng phải tuân thủ trình tự pháp lý để tìm đến bến bờ của công lý. Nếu coi dòng sông Quan họ (sông Cầu) là quá trình đối đáp sắc sảo, dạt dào cảm xúc bởi ngôn từ mềm mại (tranh tụng động) thì Núi Thiên Thai chính chính là biểu tượng của tính uy nghiêm dựa trên đạo lý và pháp luật tối thượng để đưa phán quyết (tĩnh) có lý, có tình buộc các bên tâm phục thi hành theo.

Có lẽ sự liên tưởng giữa dân ca Quan họ và tranh tụng chốn pháp đình tạo nên một thông điệp thật đẹp và đầy chất thơ. Sự kết hợp giữa cái "tình" của Quan họ và cái "lý" của pháp luật chính là hình mẫu lý tưởng cho một nền tư pháp hiện đại và nhân văn.

Hy vọng rằng tinh thần dân ca Quan họ nói riêng và các làn điệu dân ca nói chung trong dải đất hình chữ S này sẽ luôn là một trong các nguồn cảm hứng để những người làm luật xây dựng một nền tranh tụng cao như Núi Thiên Thai để: Vang về uy tín, Rền về sự đồng thuận, Nền về đạo đức và Nẩy về sự tinh tế để cái đúng được bảo vệ, cái sai được chuyển hóa và tình người luôn là một sợi dây cốt lõi gắn kết mọi phán quyết, để mỗi phiên tòa không chỉ là nơi thực thi quyền lực nhà nước, mà còn là nơi lòng nhân ái và sự thượng tôn pháp luật được tôn vinh, như cách người Quan họ vẫn thường hát: "Người ơi người ở đừng về".

Luật sư PHAN KHẮC NGHIÊM

Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế