/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Thành tựu về bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam: Sự thật không thể phủ nhận

Thành tựu về bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam: Sự thật không thể phủ nhận

27/02/2026 07:35 |

(LSVN) - Ở Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu phấn đấu xuyên suốt của công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực dưới sự lãnh đạo của Đảng.

1. Đặt vấn đề

Quyền con người (nhân quyền) là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung bởi nền văn minh nhân loại, thể hiện ước mơ, khát vọng cháy bỏng và sự quyết tâm đấu tranh để dành và giữ lấy của con người xuyên suốt chiều dài lịch sử. Giá trị xã hội cao quý nhất đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực của con người, có tính phổ quát, không thể phân chia, không thể chuyển nhượng, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và các bảo đảm khác. Bảo đảm, bảo vệ quyền con người đã và đang trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại, là thước đo đánh giá sự dân chủ, tiến bộ, văn minh của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người là mục tiêu phấn đấu xuyên suốt của công cuộc đổi mới, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại một số luận điệu sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận về thành tựu nhân quyền mà Việt Nam đã đạt được. Những quan điểm đó không phản ánh đúng thực tế khách quan, không thấy được những nỗ lực cố gắng và sự quyết tâm không ngừng nghỉ của Nhà nước Việt Nam trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Do đó, việc hiểu và nhận thức đúng đắn về thành tựu bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam thời gian qua có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

2. Thực tiễn bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Nhận thức rõ ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người Đảng và Nhà nước ta thời gian qua luôn đặc biệt quan tâm và coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt phải thực hiện hiệu quả. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện rất rõ trong các Chỉ thị, Nghị quyết, kết luận, chương trình quan trọng như: Chỉ thị số 12/CT-TW của Ban Bí thư ngày 12/7/1992 về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”; Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 về “Công tác nhân quyền trong tình hình mới”; Kết luận số 46-TB/TW ngày 06/02/2018 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật...

Trong Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” một trong 10 nhiệm vụ và giải pháp được nhấn mạnh thực hiện là “bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Trong Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[1] đồng thời nhấn mạnh: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013...”.

Quan điểm trên tiếp tục được quán triệt trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng. Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh quan điểm “dân là gốc”, “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; lấy hạnh phúc, sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”.

Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và phát động nhiều chính sách, chương trình nhằm bảo đảm, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người như: Nghị quyết số 88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 của Quốc hội về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Quyết định số 338/QĐ-TTg, ngày 043/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030”; Quyết định số 539/QĐ-TTg, ngày 19/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025”... Kết quả Việt Nam đã xóa được 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát với tổng kinh phí gần 50.000 tỉ đồng được triển khai trong chương trình. Với sự nỗ lực, cố gắng tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1.3% năm 2025[2]. Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục tập trung phấn đấu thực hiện 17 mục tiêu Phát triển bền vững đã đề ra trong Chương trình Nghị sự 2030 trong đó tập trung vào việc xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh và bảo đảm sự thịnh vượng cho mọi người.

Về hệ thống pháp luật: Việt Nam đã nỗ lực từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, pháp luật quốc tế, thực tiễn phát triển của đất nước, cụ thể: Chỉ tính từ năm 2019 đến tháng 11/2023 đã có hơn 56 luật và văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013[3]. Riêng năm 2025, Quốc hội đã thông qua 89 luật, 91 nghị quyết cùng hàng trăm văn bản hướng dẫn khác. Những văn bản quy phạm pháp luật này đã góp phần quan trọng tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý ngày càng đầy đủ, minh bạch cho việc thực thi các quyền con người. Đáng chú ý, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và Luật Thi hành án hình sự hiện hành đã mở rộng quyền được bảo vệ thân thể, quyền có luật sư ngay từ khi bị tạm giữ, quyền tiếp cận thông tin, quyền khiếu nại, tố cáo. Điều kiện giam giữ được cải thiện, bảo đảm quyền gặp thân nhân, luật sư... được cải thiện hơn. Đây là sự thay đổi rất tiến bộ, thể hiện sự nhân văn, lòng yêu thương con người sâu sắc.

Các quyền dân sự, chính trị được nhà nước quan tâm, chăm lo, bảo đảm, bảo vệ hơn. Các quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội luôn được phát huy. Tại cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tỉ lệ nữ tham gia Quốc hội khóa XIV đạt 26,72% và khóa XV là 30.26%[4]. Với tỉ lệ 30.26% Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực châu Á và trên thế giới. Các quyền tiếp cận thông tin, tự do ngôn luận, hội họp, lập hội, đình công được bảo đảm. Theo số liệu thống kê hiện nước ta có hơn 80 triệu người dùng Internet, xếp thứ 12 thế giới, mỗi người Việt dành khoảng 7 giờ mỗi ngày cho các hoạt động trực tuyến [5]. Người dân có nhiều kênh phản hồi, góp ý chính sách, pháp luật, tiếp cận thông tin và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo. Báo chí, mạng xã hội trở thành công cụ quan trọng để tiếp nhận ý kiến phản hồi và thúc đẩy công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình.

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: Đây là quyền hiến định được quy định tại Điều 24, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025), và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để các tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp trí tuệ vào sự phát triển của đất nước. Theo số liệu thống kê của Bộ Dân tộc và tôn giáo hiện nay cả nước có trên 27 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số), nhà nước đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 04 tổ chức, 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo[6] với hơn 54.000 chức sức, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự.

Về quyền sống, quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác: Các quyền này được ghi nhận tại các điều 19, 20,  Hiến pháp hiện hành và cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Gần đây, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được Quốc hội khóa XV thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, tiếp tục bỏ hình phạt tử hình đối với 8 tội danh. Trong thi hành án phạt tù, chế độ, chính sách đối với phạm nhân được bảo đảm tốt hơn, phạm nhân được hỗ trợ kinh phí, định hướng nghệ nghiệp, tìm kiếm việc làm... chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Đặc biệt, phạm nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người nếu phạm tội lần đầu (bị kết án về tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng), bảo đảm sức khỏe chấp hành án sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể.

Về quyền chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong sử dụng dịch vụ y tế, việc làm, bảo hiểm xã hội…: Thời gian qua, hệ thống y tế, bảo hiểm xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực này được nhà nước quan tâm, đầu tư. Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tính đến năm 2025 đạt 95,2%. Chất lượng khám bệnh, chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế có nhiều chuyển biến tích cực. Tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 tuổi, trong đó số năm sống khỏe khoảng 67 năm[7]. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam có xu hướng tăng đều và khá ổn định, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước có chỉ số phát triển con người cao. Về chỉ số hạnh phúc, năm 2025 theo xếp hạng của Liên hợp quốc, Việt Nam tiếp tục tăng, xếp thứ 46/143 quốc gia. Nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt.

Về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; quyền bảo vệ danh dự, uy tín: Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình trong các văn bản quy phạm pháp luật, điển hình như: Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật dân sự, Luật dữ liệu, Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân... Những văn bản này không chỉ thiết lập cơ sở pháp lý để bảo vệ thông tin cá nhân, lợi ích cộng đồng, mà còn kết nối với chuẩn mực quốc tế, tạo nền tảng cho quản trị quốc gia minh bạch và công bằng. 

Về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội: Đảng ta chủ trương xây dựng nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, nỗ lực bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, tiếp thu các giá trị văn hóa tiên tiến của thế giới đồng thời quan tâm phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam đã giúp nâng cao đời sống tinh thần của người dân, khẳng định nỗ lực của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền tham gia và hưởng thụ đời sống văn hóa cho người dân, đồng thời khuyến khích, cổ vũ tự do sáng tạo nghệ thuật...  Bên cạnh đó, Nhà nước luôn ưu đãi, khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho mọi người thực hiện quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu. Với những cố gắng, nỗ lực của Đảng và Nhà nước, trong giai đoạn từ năm 1989 tới năm 2023, GDP bình quân đầu người đã tăng 40 lần[8]. Tính đến năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực, thế giới. Quy mô GDP đạt hơn 514 tỉ USD[9]. Việt Nam nằm trong top 20 về quy mô thương mại quốc tế và top 15 về thu hút FDI. Với những tiền đề, điều kiện này Việt Nam sẽ bảo vệ, bảo đảm thúc đẩy quyền con người tốt hơn trong kỷ nguyên mới.

Về bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền của nhóm dễ bị tổn thương: Nhà nước có nhiều chính sách hiệu quả trong bảo vệ trẻ em, người cao tuổi, thúc đẩy bình đẳng giới; phòng, chống bạo lực gia đình; chính sách dành cho người dân tộc thiểu số, người nghèo, người cao tuổi; hỗ trợ người khuyết tật; bảo vệ nạn nhân mua bán người; bảo đảm quyền của người di cư và người lao động. Ngân sách chi cho các chính sách an sinh xã hội lên đến 1,1 triệu tỉ đồng[10]. Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chăm lo cho phụ nữ, trẻ em, gia đình thương binh, liệt sĩ, người dân tộc thiểu số. Từ năm 2012 đến nay, 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số đã được đưa vào giảng dạy tại nhiều tỉnh, thành. tỉ lệ học sinh đi học và hoàn thành chương trình tiểu học đạt 92,08%, đứng ở tốp đầu của khối ASEAN[11]. Đối với trẻ mầm non và học sinh phổ thông trên cả nước, Nhà nước miễn học phí trên phạm vi cả nước. Riêng tại Hà Nội, học sinh tiểu học được hỗ trợ bữa ăn trưa bán trú từ ngân sách nhà nước.

Về cam kết và hội nhập quốc tế  trên lĩnh vực quyền con người: Việt Nam là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế chủ chốt về quyền con người, phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), định kỳ nộp báo cáo theo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR), tích cực đối thoại nhân quyền song phương và đa phương, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc và là thành viên tích cực tham gia các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016; 2022-2024, 2026-2028.

Những số liệu trên là minh chứng sống động chứng minh cho những nỗ lực, cố gắng không ngừng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc  bảo vệ, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người. Sự nỗ lực ấy được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, điều này hoàn toàn trái ngược với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam vi phạm dân chủ và nhân quyền.

Bên cạnh những thành tựu  đã đạt được, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: (1) Hệ thống pháp luật về quyền con người ở Việt Nam hiện nay trong một số trường hợp còn chưa tiệm cận sát với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia; đối với các quyền con người mới nổi như: Quyền sáng tạo trong môi trường số; Quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền được lãng quên, quyền tiếp cận công nghệ công bằng, quyền được bảo vệ khỏi thông tin sai lệch... còn trống vắng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; (2) Nhận thức về quyền con người của người dân còn chưa đồng đều, đầy đủ; (3) Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về quyền con, pháp luật về quyền con người cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo còn gặp không ít khó khăn; (4) Việc giám sát bảo đảm, bảo vệ quyền con người còn chưa phát huy được hiệu quả như mong đợi; (5) Một số cán bộ nhà nước ý thức trách nhiệm còn chưa cao, kiến thức về quyền con người còn chưa đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, còn đùn đẩy trách nhiệm khi xảy ra mâu thuẫn với Nhân dân...

3. Một số giải pháp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, tình tình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, bất ổn, khó lường, khó dự báo, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, tác động tiêu cực của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đích thực thời gian tới việc tiếp tục nâng cao hiệu bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người sẽ gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Để bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người tốt hơn nữa trong kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc, thời gian tới nên tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về quyền con người, về vai trò, trách nhiệm của các cơ quan trong bộ máy nhà nước và cả hệ thống chính trị trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền công dân.

Để thực hiện hiệu quả các quy định pháp luật, tạo sự đồng thuận xã hội, người dân và các cơ quan chức năng cần nhận thức rõ, đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của công dân và những biện pháp bảo vệ. Điều này cần được thực hiện qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần được bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp, hấp dẫn với từng nhóm đối tượng cụ thể, tránh hình thức, lãng phí. Về nội dung không chỉ truyền đạt kiến thức pháp luật về quyền con người cho người dân mà còn cần chú ý quan tâm, lồng ghép các nội dung hướng tới bồi dưỡng lòng yêu nước, lòng khoan dung, vị tha, ý thức, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân với Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án “Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”, Đề án “truyền thông về quyền con người ở Việt Nam” và các kết luận của Thủ tướng tại Hội nghị toàn quốc về giáo dục quyền con người.

Hai là, chủ động nghiên cứu, tham mưu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành nhằm góp phần xây dựng và từng bước hoàn hiện hành lang pháp lý về bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp hiện hành.

Tiếp tục rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật đang bộc lộ vướng mắc, hạn chế như: Luật trẻ em, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Tiếp cận thông tin … Nhanh chóng banh hành Nghị định hướng dẫn các văn bản quy phạm pháp luật mới bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, tiệm cận sát hơn pháp luật quốc tế. Với quyết tâm đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “không để một số điều luật trở thành điểm nghẽn cản trở thực hiện quyền con người, quyền công dân và phát triển kinh tế - xã hội”. Đầu tư nghiên cứu hướng tới xây dựng hành lang pháp lý cho các quyền mới nổi như: Quyền sáng tạo trong môi trường số; Quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền được lãng quên, quyền tiếp cận công nghệ công bằng, quyền được bảo vệ khỏi thông tin sai lệch. Nên xây dựng Luật Trí tuệ nhân tạo, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện dự án Luật Biểu tình, Luật về hội với lộ trình phù hợp. Việc từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật cần chú ý bám sát các Nghị quyết, kết luận quan trọng của trung ương.

Ba là, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong công tác bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Nghiên cứu, xây dựng các chính sách, định hướng và lộ trình phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tiếp nhận, phân loại, xử lý về phản ánh vi phạm quyền con người sẽ là rất cần thiết với nước ta thời gian tới. Để tiếp cận các công nghệ cao, ứng dụng nhanh chóng khoa học, công nghệ hiện đại trong đó có trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn cần chú trọng lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, có chính sách thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu chuyên sâu về khoa học công nghệ bởi đây là nhân tố quyết định của mọi quyết định. Vấn đề này đặc biệt cần chú ý thực hiện trong lực lượng Công an nhân dân. Bởi đây là lực lượng cần gương mẫu, đi đầu trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh mạng, phòng, chống khủng bố, buôn bán người, di cư trái phép và cứu trợ nhân đạo.

Mỗi khu vực và mỗi quốc gia có những cách thức khác nhau, có cơ chế bảo vệ bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hoạt động hợp tác với các lực lượng an ninh, tình báo, cảnh sát, các cơ quan chức năng của các quốc gia có tác dụng, ý nghĩa to lớn trong đấu tranh phòng, chống với các loại tội phạm. Thời gian tới, các cơ quan chức năng của Việt Nam cần tiếp tục tăng cường hợp tác với cơ quan chức năng các nước trong khu vực và trên thế giới hơn nữa nhằm thường xuyên trao đổi, chia sẻ thông tin, hỗ trợ lực lượng, phương tiện phục vụ đấu tranh với các loại tội phạm nhằm bảo vệ hơn nữa quyền con người. Bên cạnh đó cần tăng cường đối thoại từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế về dân chủ, quyền con người.

Năm là, tăng cường giám sát và triển khai các biện pháp phát hiện, xử lý nhanh chóng, kịp thời và nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền con người.

Để tăng cường hiệu quả giám sát cần đẩy mạnh nghiên cứu tiến tới thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia theo Nguyên tắc Paris với lộ trình phù hợp thực tiễn, bối cảnh của đất nước. Việc thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia là khả thi, phù hợp với điều kiện của nước ta. Việt Nam có thể tham khảo những kinh nghiệm hay từ các quốc gia có hoàn cảnh tương đồng như: Malaysia, Philippin, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia … để thiết kế phù hợp. Nghiên cứu, cân nhắc có thể tiến tới thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia dưới dạng một ủy ban nhân quyền quốc gia do Quốc hội thành lập, tuy nhiên cần chú ý bảo đảm tính độc lập của thiết chế. Bởi lẽ, theo Hiến pháp hiện hành, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên ủy ban nhân quyền này giao cho Quốc hội thành lập là hợp lý nhất. Bên cạnh đó cần khuyến khích vai trò giám sát, phản biện và lan tỏa giá trị cao quý về nhân quyền của báo chí, tổ chức chính trị-xã hội, cộng đồng dân cư và từng công dân.

[1]  Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 27 – 28.

[2] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Báo Hà Nội mới, đăng ngày 8/2/2026, tr. 1.

[3] Báo cáo quốc gia lần thứ hai của Việt Nam về thực thi Công ước CAT.

[4] Lê Kiên (2021), Tỉ lệ đại biểu Quốc hội nữ khóa XV cao nhất từ trước đến nay, Https://tuoitre.vn, đăng ngày 10/06/2021, truy cập ngày 20/11/2025.

[5] Trung bình người Việt dành khoảng 7 tiếng mỗi ngày trên mạng, https://baolaocai.vn, đăng ngày 18/12/2025, truy cập ngày 10/2/2026.

[6] Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Hà Nội, 2022, tr.8.

[7] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Báo Hà Nội mới, đăng ngày 8/2/2026, tr. 1.

[8] Cuộc cách mạng của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo bền vững, https://baolaocai.vn, đăng ngày 18/10/2024, truy cập ngày 18/11/2025.

[9] TTXVN, Năm 2025: Tăng trưởng GDP đạt 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực, thế giới, https://vnanet.vn, đăng ngày 11/01/2026, truy cập ngày 8/02/2026.

[10] Báo cáo của Chính phủ, giai đoạn 2021-2025.

[11] Đoàn Duy Khương, Nguồn nhân lực cho nguyên khí quốc gia, https://www.sggp.org.vn, đăng ngày 20/11/2023, truy cập ngày 18/11/2025.

TS. NGUYỄN THỊ THANH NGA

Khoa Luật, Học viện Chính trị CAND