/ Kinh nghiệm - Thực tiễn
/ Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Bulgaria

Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Bulgaria

28/01/2026 17:26 |

(LSVN) - Bulgaria được thành lập năm 681. Sau ngày lập quốc, Bulgaria luôn là đối tượng xâm chiếm và tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc Châu Âu. Bulgaria từng bị đế quốc Bi-dăng-tin (đế quốc Đông La Mã) đô hộ 170 năm (1018-1185)và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ đô hộ gần năm thế kỷ (1396-1878). Năm 1878, chiến tranh Nga - Thổ kết thúc với thắng lợi thuộc về phía Nga, hai bên ký Hiệp ước hòa bình San Stefano và Bulgaria được giải phóng khỏi đế chế Ottoman vào ngày 03/3/1878.

Hiến pháp năm 1991 quy định thành lập Tòa án Hiến pháp

Kể từ khi được giải phóng năm 1878, Bulgaria đã thông qua bốn bản Hiến pháp: Hiến pháp Turnovo, thông qua ngày 16/4/1879, Hiến pháp ngày 06/12/1947, Hiến pháp ngày 18/5/1971, cả ba bản Hiến pháp này đều không quy định một cơ quan chuyên trách để bảo vệ Hiến pháp. Điều 85 Hiến pháp 1971 quy định Quốc hội có thể giám sát luật được thông qua không trái với Hiến pháp. Ngày 10/11/1989, chế độ XHCN tại Bulgaria tan rã, chuyển sang chế độ đa đảng. Ngày 12/7/1991, Hiến pháp mới được thông qua, Điều 8 Hiến pháp quy định: Quyền lực nhà nước được phân chia giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chương VI Hiến pháp quy định Tòa án bao gồm: Tòa phá án tối cao, Tòa án hành chính tối cao, các Tòa án phúc thẩm, Tòa án tỉnh và Tòa án khu vực. Chương VIII của Hiến pháp quy định về Tòa án Hiến pháp. Sau khi Hiến pháp có hiệu lực, Đạo luật Tòa án Hiến pháp đã được thông qua ngày 16/8/1991 và Tòa án Hiến pháp được thành lập ngày 03/10/1991, vào ngày 26/12/1991 Tòa án phê chuẩn các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án Hiến pháp.

Tòa án Hiến pháp là cơ quan độc lập với Quốc hội, Tổng thống và Hội đồng bộ trưởng; nằm ngoài hệ thống xét xử, vì vậy Tòa án Hiến pháp không phải là cấp xét xử thứ tư và không thể hủy bỏ các quyết định của Tòa phá án tối cao và của Tòa án hành chính tối cao.

Cần phân biệt rõ chức năng của Tòa án Hiến pháp và của Tòa án hành chính tối cao. Tòa án hành chính tối cao có thẩm quyền kiểm soát tính hợp hiến và hợp pháp của các văn bản pháp luật của Chính phủ và của các Bộ trưởng (hàng năm có khoảng 30% các văn bản của Chính phủ bị Tòa án hành chính tối cao bãi bỏ). Tòa án Hiến pháp có chức năng  nhằm bảo đảm rằng Bulgaria là nhà nước pháp quyền, nhà nước mà pháp luật có vị trí tối cao, tất cả các thể chế nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mọi công dân được Tòa án Hiến pháp bảo đảm có các quyền và tự do được quy định trong Luật cơ bản. Vì vậy, Tòa án Hiến pháp được xem là người bảo vệ Hiến pháp và bảo đảm các quyền cơ bản của con người.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp

Tòa án Hiến pháp gồm 12 Thẩm phán: 4 Thẩm phán do Quốc hội bầu, 4 Thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm và 4 Thẩm phán được bầu bởi Hội đồng thẩm phán Tòa phá án tối cao và Hội đồng thẩm phán Tòa án hành chính tối cao. Các thẩm phán Tòa án Hiến pháp bầu ra Chánh án với nhiệm kỳ 3 năm, và có thể được tái nhiệm.

Công dân Bulgaria không giới hạn về độ tuổi, là luật sư có trình độ chuyên môn cao, có tư cách đạo đức tốt và có ít nhất 15 năm kinh nghiệm thì có thể là ứng viên Thẩm phán Tòa án Hiến pháp. Thẩm phán tòa án Hiến pháp được bầu hoặc bổ nhiệm có nhiệm kỳ 9 năm và không được tái nhiệm.

Thẩm phán Tòa án hiến pháp có quyền miễn trừ như các đại biểu Quốc hội, họ không bị khởi tố, truy tố và xét xử trước khi bị tước quyền miễn trừ. Trong trường hợp họ phạm tội, Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ trình lên Tòa án Hiến pháp để tước quyền miễn trừ của họ.

Tòa án Hiến pháp có những thẩm quyền sau đây:

- Giải thích các quy định của Hiến pháp;

- Xem xét tính hợp hiến của đạo luật cũng như quy định cụ thể của đạo luật của Quốc hội và Sắc lệnh của Tổng thống sau khi được ban hành. Sau khi xem xét, nếu Tòa án Hiến pháp quyết định là không hợp hiến thì Quốc hội, Tổng thống phải sửa đổi luật, sắc lệnh. Chỉ duy nhất một trường hợp Tòa án Hiến pháp xem xét văn bản trước khi được ban hành là xem xét tính phù hợp giữa Hiệp ước quốc tế mà Bulgaria sẽ tham gia với Hiến pháp trước khi phê chuẩn, nếu không phù hợp thì cần sửa Hiến pháp và Tòa án Hiến pháp sẽ xem xét dự thảo Hiến pháp trước;

Tòa án Hiến pháp cũng xem xét tính phù hợp của Luật quốc gia với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế và các công cụ quốc tế mà Bulgaria là thành viên, nếu có mâu thuẫn thì phải sửa đổi luật quốc gia;

- Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa Quốc hội, Tổng thống và Hội đồng bộ trưởng và giữa các cơ quan chính quyền địa phương với các cơ quan chính quyền trung ương;

- Xem xét không công nhận tính hợp hiến của các hiệp hội và các đảng phái chính trị. Xem xét  tính hợp pháp của kết quả bầu cử Tổng thống, phó Tổng thống và các thành viên của Quốc hội;

- Truy cứu trách nhiệm đối với Tổng thống hoặc phó Tổng thống về tội phản quốc hoặc vi phạm Hiến pháp.

Ngoài ra, Tòa án Hiến pháp còn được trao quyền:

- Xem xét việc từ chức của Tổng thống hoặc Phó Tổng thống;

- Xem xét tư cách của thành viên Quốc hội;

- Xem xét việc từ chức của Thẩm phán Tòa án Hiến pháp khi họ không có khả năng thực hiện nhiệm vụ trong hơn một năm.

Quyền kiện ra Tòa án Hiến pháp

Theo quy định tại Điều 45 của Hiến pháp, công dân và pháp nhân không thể trực tiếp nộp đơn khiếu nại về hiến pháp lên Tòa án Hiến pháp, họ cần đề nghị và kiến nghị với các cơ quan nhà nước và một số quan chức thay mặt họ yêu cầu Tòa án Hiến pháp giải quyết, cụ thể Tòa án Hiến pháp sẽ giải quyết dựa trên đề xuất của: 1/5 số đại biểu trong tổng số đại biểu Quốc hội, Tổng thống, Hội đồng bộ trưởng, Tòa phá án tối cao, Tòa án hành chính tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao và Ombudsman (cơ quan thanh tra Quốc hội, như mô hình của Thụy Điển, Đan Mạch…), các tòa phúc thẩm của Tòa phá án tối cao (khi xét xử, khi có ý kiến về tính hợp hiến của luật áp dụng trong vụ án, hội đồng xét xử gồm 3 thẩm phán sẽ tạm dừng việc xét xử để đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét).

Thủ tục xem xét vụ án của Tòa án Hiến pháp

Vụ án hiến pháp được tiến hành qua hai giai đoạn: ở giai đoạn đầu tiên, Tòa án xem xét tính hợp lệ của đơn yêu cầu, nếu chấp nhận đơn, sẽ xác định các bên có lợi ích liên quan và ấn định thời hạn cho họ trình bày quan điểm và bằng chứng bằng văn bản. Kết thúc thời hạn, tòa đưa vụ án ra xét xử theo văn bản và ra quyết định. Các bên có lợi ích có liên quan không được triệu tập. Tòa án chỉ bắt buộc triệu tập các bên trong các trường hợp: khi Tổng thống hoặc phó Tổng thống bị Quốc hội buộc tội, khi bị cáo là đại biểu Quốc hội và khi một Thẩm phán Tòa án Hiến pháp bị tước quyền miễn trừ.

Về nguyên tắc, việc xét xử ở Tòa án Hiến pháp là giải thích Hiến pháp, do đó đều được ghi hình và công bố để dư luận biết. Vì vậy, trước khi xét xử, Tòa án sẽ thông báo tóm tắt về nội dung vụ án được khởi kiện, khả năng chấp nhận yêu cầu của vụ án cho Thông tấn xã Bulgaria, Đài truyền hình quốc gia và Đài tiếng nói Bulgaria hoặc các cơ quan báo chí, khi kết thúc giải quyết, quyết định sẽ được công bố và được đăng trên Tạp chí nhà nước. Trong trường hợp vụ án được dư luận quan tâm thì phiên tòa có thể mở công khai, các bên có cơ hội trình bày miệng một cách ngắn gọn hoặc trình bày bằng chứng bằng văn bản, người dân và các phương tiện thông tin được tham dự.

Khi xét xử, phải có ít nhất 2/3 thẩm phán có mặt, trường hợp xét xử buộc tội Tổng thống, Phó Tổng thống phải có ít nhất 3/4 thẩm phán có mặt. Tòa án Hiến pháp đưa ra phán quyết bằng việc bỏ phiếu theo đa số  (7 thẩm phán). Các quyết định của Tòa án Hiến pháp sẽ được dăng trên Tạp chí nhà nước trong vòng 15 ngày kể từ ngày thông qua và có hiệu lực sau 3 ngày đăng trên tạp chí này. Tuy nhiên, các quyết định về các tranh chấp liên quan đến tính hợp pháp của việc bầu Tổng thống, Phó Tổng thống hoặc thành viên của Quốc hội, về việc xác định không đủ tư cách hoặc không phù hợp là thành viên Quốc hội và về xác định thẩm phán của Tòa án Hiến pháp không có năng lực thực hiện nhiệm vụ và không phù hợp làm thẩm phán, thì những quyết định này có hiệu lực ngay kể từ ngày ký.

NGÔ CƯỜNG

(Ghi chép từ chuyến công tác tại Bulgari tháng 6/2012)