/ Pháp luật - Đời sống
/ Trên thế giới không có quốc gia nào cho phép công dân được phát tán tài liệu để chống chính quyền, lật đổ chính quyền

Trên thế giới không có quốc gia nào cho phép công dân được phát tán tài liệu để chống chính quyền, lật đổ chính quyền

28/12/2025 06:00 |

(LSVN) - Dưới góc độ pháp lý thì mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì pháp luật là thước đo tính hợp pháp của hành vi con người, mọi hành vi vi phạm pháp luật thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lý. Bởi vậy, những hành vi tuyên truyền vật phẩm, tài liệu nhằm chống chính quyền nhân dân thì người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự.

Pháp luật Việt Nam có hiệu lực áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam và áp dụng cả những phạm vi ngoài lãnh thổ Việt Nam; áp dụng đối với công dân Việt Nam và đối với các chủ thể có hành vi có thể tác động đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ kinh tế, chế độ chính trị của Việt Nam. Bởi vậy, người thực hiện hành vi tuyên truyền tài liệu vật phẩm nhằm chống chính quyền nhân dân, chống lại nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch mà xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xâm phạm đếnlợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân, xâm phạm đến chế độ chính trị của Việt Nam thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật luật hình sự Việt Nam.

Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định: Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bởi vậy, đối với bị can Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài và các bị can khác thực hiện hành vi tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống chính quyền nhân dân, xâm phạm đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm đến chế độ chính trị ở Việt Nam thì sẽ bị xử lý theo luật hình sự Việt Nam, bất kể việc các cá nhân đó có còn quốc tịch Việt Nam hay không, có ăn ở sinh sống cư trú ở Việt Nam hay không.

Bị can Nguyễn Văn Đài và bị can Lê Trung Khoa. Ảnh: TTXVN.

Bị can Nguyễn Văn Đài và bị can Lê Trung Khoa. Ảnh: TTXVN. 

Đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành thì việc cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tiến hành điều tra đối với các bị can này là đúng thẩm quyền theo pháp luật hình sự Việt Nam và theo luật pháp quốc tế.

Theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam trước đây thì quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không thể triệu tập được, không biết bị can, bị cáo ở đâu thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ truy nã bị can, bị cáo đồng thời tạm đình chỉ điều tra, chờ đến khi nào bắt được sẽ tiếp tục phục hồi điều tra, truy tố, xét xử để giải quyết. Đặc biệt là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nếu cơ quan điều tra không xác định được bị can đang ở đâu hoặc có căn cứ cho thấy bị can đã bỏ trốn thì sẽ tiến hành truy nã bị can và tạm đình chỉ điều tra đối với bị can cho đến khi nào bắt được bị can. Quy định này đã được áp dụng lâu dài ở Việt Nam, tuy nhiên trong bối cảnh này không còn phù hợp, xung đột với luật pháp quốc tế dẫn đến trường hợp một số bị can trốn ra nước ngoài thì khó xử lý. Một số quốc gia quy định là cần có bản án có hiệu lực pháp luật thì họ mới đồng ý dẫn độ, quá trình điều tra truy nã bị can thì việc phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng ở một số quốc gia có xung đột về pháp luật dẫn đến khó khăn cho hoạt động tố tụng.

Vì vậy, để đảm bảo sự tương thích giữa luật pháp quốc gia và luật quốc tế, phù hợp với công ước, điều ước, hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số quốc gia thì Việt Nam đã có thông tư liên tịch quy định cho phép điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt đối với người phạm tội, có thể kết luận điều tra, truy tố và xét xử vắng mặt đối với bị can, bị cáo đang bỏ trốn.

Ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số 05/2025/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC quy định về “phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo” đã có quy định cụ thể để điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt đối với bị can, bị cáo đang bị truy nã.

Cơ quan điều tra áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 233, Viện Kiểm sát áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 243, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:

a) Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả.

Bị can, bị cáo trốn là trường hợp bị can, bị cáo cố ý trốn tránh, vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng không giao được giấy triệu tập cho bị can, bị cáo hoặc đã giao giấy triệu tập nhưng bị can, bị cáo không chấp hành, trình diện theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc che giấu tung tích, nơi cư trú, nơi làm việc, nơi học tập nhằm không chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Không biết bị can, bị cáo ở đâu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành các hoạt động xác minh theo quy định pháp luật nhưng không xác định được bị can, bị cáo ở đâu.

Việc truy nã không có kết quả là trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị can, bị cáo, áp dụng các biện pháp xác minh, truy bắt bị can, bị cáo nhưng đến khi hết thời hạn điều tra, hết thời hạn truy tố, hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc hết thời hạn theo quy định tại khoản 3 Điều 7 của Thông tư liên tịch này mà bị can, bị cáo không đầu thú hoặc không bắt được bị can, bị cáo.

b) Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là trường hợp có căn cứ xác định bị can, bị cáo đã xuất cảnh nhưng chưa có thông tin nhập cảnh và không xác định được nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, không triệu tập, dẫn độ được bị can, bị cáo để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, đã triệu tập, đã yêu cầu dẫn độ nhưng không thể đưa được bị can, bị cáo trở về Việt Nam để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này khi có đủ các điều kiện sau:

a) Đã thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

b) Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại các điều 16, 291, 351 và Chương V của Bộ luật Tố tụng hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý, giải quyết vụ án phải thông báo về quyền nhờ người bào chữa cho người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo để họ nhờ người bào chữa. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của bị can, bị cáo không nhờ người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Như vậy, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra phải truy tố và xét xử vắng mặt đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài và một số bị can khác khi đang thực hiện truy nã. Trường hợp bị can bị cáo cố tình vắng mặt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì căn cứ vào tài liệu thu thập được, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật, thậm chí có thể tiến hành tố tụng theo thủ tục rút gọn để đẩy nhanh tiến trình tố tụng hình sự, sớm giải quyết vụ án.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì hành vi làm, tàng trữ, phát tán các tài liệu vật phẩm nhằm chống nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thực hiện hành vi này có thể bị xử lý hình sự với chế tài cao nhất tới 20 năm tù. Cụ thể tội danh và hình phạt được quy định như sau:

“Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

Khi một nhà nước ra đời, được quốc tế thừa nhận, là ý chí nguyện vọng của đại đa số nhân dân trong nước thì đó là một thực thể độc lập trong quan hệ quốc tế, được pháp luật quốc gia và luật pháp quốc tế bảo vệ. Bất kỳ hành động nào xâm phạm đến sự tồn vong của nhà nước, xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hóa hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của các tổ chức cá nhân thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý, trong đó không loại trừ trường hợp có thể bị xử lý hình sự.

Pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng có những quy định để bảo vệ nhà nước của quốc gia đó bảo vệ chế độ chính trị, chế độ kinh tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi hợp pháp của nhà nước, của công dân. Bởi vậy, trong bất kỳ chế độ chính trị xã hội nào thì hành vi nhằm lật đổ chính quyền cũng là hành vi cấm kỵ, là hành vi nguy hiểm và người thực hiện hành vi này sẽ phải chịu chế tài nghiêm khắc (thời phong kiến có thể bị áp dụng chế tài tru di tam tộc, tru di cửu tộc...). Các quốc gia dù theo chế độ tư bản chủ nghĩa hay chế độ xã hội chủ nghĩa thì hệ thống pháp luật đều có tội danh xử lý đối với các phần tử, đối tượng chống đối, thực hiện các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền hoặc các hành vi tuyên truyền nhằm chống chính quyền, chống nhà nước đương thời.

Ở Việt Nam, hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ quyền tự do dân chủ và các quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng quy định nghĩa vụ của công dân là phải trung thành với nhà nước, là phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong đó có nhà nước và công dân dân. Mọi hành vi xâm phạm đến các khách thể mà luật hình sự bảo vệ thì đều là hành vi nguy hiểm và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự.

Hiến pháp Việt Nam ghi nhận quyền tự do dân chủ của mọi công dân, tuy nhiên việc thực hiện quyền tự do dân chủ của chủ thể này không được xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của chủ thể khác và không được xâm phạm đến các quyền cơ bản khác của công dân, không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, không nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân.

Hiến pháp ghi nhận các quyền cơ bản của công dân nhưng cũng quy định nghĩa vụ của công dân. Theo đó, Điều 15 Hiến pháp quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác. Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội”.

Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Điều 11, Hiến pháp 2013 quy định: “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”.

Bởi vậy, những hành vi lợi dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, nếu xâm phạm đến Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đe dọa đến hòa bình, an ninh, trật tự, xâm phạm đến chế độ chính trị của Việt Nam thì người vi phạm sẽ bị xử lý bằng pháp luật luật hình sự Việt Nam.

Trong vụ án trên, đến nay đã có kết luận điều tra, có cáo trạng và Tòa án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Căn cứ vào kết quả điều tra, truy tố cho thấy cơ quan tiến hành tố tụng đã có căn cứ, chứng cứ để buộc tội đối với các bị cáo trong vụ án này. Hành vi của các bị cáo thực hiện trên không gian mạng, hoạt động chống phá Nhà nước một cách công khai nên việc thu thập chứng cứ rất dễ dàng và đó là chứng cứ khách quan không thể chối cãi. Với những chứng cứ được thu thập trên không gian mạng từ các tài khoản mạng xã hội do các bị cáo lập ra, các thông tin luận điệu xuyên tạc công khai thì cơ quan tiến hành tố tụng xác định có đủ căn cứ để truy tố, xét xử đối với các bị cáo này theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trường hợp các bị cáo về nước đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật thì sẽ được thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản của công dân, các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong đó có quyền bào chữa. Trường hợp nếu phiên tòa hình sự sơ thẩm tới đây các bị cáo vẫn bỏ trốn, vắng mặt tại phiên tòa thì căn cứ vào kết quả điều tra, các tài liệu chứng cứ và cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được, Tòa án vẫn xét xử và có thể kết tội đối với các bị cáo này.

Việc bị can, bị cáo cố tình trốn tránh, vắng mặt thì mất quyền bào chữa, không thực hiện được các quyền giao nộp chứng cứ, đánh giá chứng cứ, tranh tụng, quyền bào chữa tại phiên toà. Với pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay thì hoàn toàn có thể xét xử vắng mặt đối với bị cáo đang bị truy nã, với kết quả điều tra, kết quả xét xử thì có thể có một bản án vắng mặt đối với người bị buộc tội trong vụ án này. Khi đã có bản án có hiệu lực pháp luật mà các bị cáo cố tình không về để chấp hành án thì cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam có thể phối hợp với cơ quan tố tụng ở nước sở tại tiến hành dẫn độ người phạm tội về Việt Nam để chấp hành án theo luật pháp quốc tế.

Tiến sĩ, Luật sư ĐẶNG VĂN CƯỜNG

Đoàn Luật sư TP. Hà Nội