/ Thư viện pháp luật
/ Trình tự kê biên tài sản để thi hành án dân sự

Trình tự kê biên tài sản để thi hành án dân sự

26/05/2026 14:33 |

(LSVN) - Ngày 13/5, Chính phủ ban hành Nghị định 152/2026/NĐ-CP về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự 2025.

Trong đó, tại Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP có quy định rõ về kê biên tài sản để thi hành án dân sự.

Cụ thể, trường hợp tài sản đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà phát sinh các giao dịch liên quan đến tài sản đó thì tài sản đó bị kê biên, xử lý để thi hành án. Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đối với tài sản đó.

Ảnh minh họa. Nguồn: VGP.

Ảnh minh họa. Nguồn: VGP.

Trường hợp có giao dịch về tài sản mà không còn tài sản khác hoặc có tài sản khác nhưng không đủ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án và chi phí thi hành án thì xử lý như sau:

- Trường hợp có giao dịch về tài sản nhưng chưa hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản theo quy định. Khi kê biên tài sản, nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự 2025, trường hợp cần tuyên bố giao dịch vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự 2025.

- Trường hợp có giao dịch về tài sản kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng đã hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên không kê biên tài sản mà thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 39 của Luật Thi hành án dân sự 2025 và có văn bản thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.

- Trường hợp có các giao dịch khác liên quan đến tài sản mà không chuyển giao quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng cho người khác thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao dịch được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và các quy định của pháp luật có liên quan.

Cũng theo Điều 54 Nghị định 152/2026/NĐ-CP, cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án quy định tại khoản 4 Điều 54 này.

Trường hợp thi hành nghĩa vụ trả tiền mà người phải thi hành án giao tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý hoặc đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan thì Chấp hành viên ra quyết định và thực hiện kê biên tài sản theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2025 và Nghị định này. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

Trường hợp tài sản kê biên đang cho thuê thì Chấp hành viên thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự 2025.

Ngoài ra, Chấp hành viên ra quyết định kê biên bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 80 của Luật Thi hành án dân sự 2025 trong trường hợp phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án gắn liền với tài sản đã kê biên.

Trường hợp phát hiện tài sản khác không gắn liền với tài sản đã kê biên thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên mới đối với tài sản đó và xử lý theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định kê biên có sai sót mà không làm thay đổi nội dung của quyết định kê biên thì Chấp hành viên ra quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên.

Nghị định 152/2026/NĐ-CP này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

TRẦN NGUYÊN

Các tin khác