/ Nghiên cứu - Trao đổi
/ Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh - Nền tảng triết học cho việc phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) nhân văn, đạo đức và bền vững tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh - Nền tảng triết học cho việc phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) nhân văn, đạo đức và bền vững tại Việt Nam trong kỷ nguyên số

18/05/2026 07:02 |

(LSVN) - Kết quả nghiên cứu khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam sống động, giúp Việt Nam dẫn dắt AI theo hướng “vì dân tộc và nhân loại” trong kỷ nguyên số.

Tóm tắt

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và 5.0, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành động lực then chốt của phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời đặt ra những thách thức nghiêm trọng về đạo đức, nhân văn và bền vững. Bài viết làm rõ giá trị nhân văn cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh - với hạt nhân là “con người là vốn quý nhất”, “khoa học phải phục vụ con người” và đạo đức cách mạng - để chứng minh đây chính là nền tảng triết học Việt Nam cho việc xây dựng AI nhân văn, đạo đức và bền vững. Thông qua phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu, so sánh liên ngành và vận dụng biện chứng, bài viết đề xuất mô hình “AI nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh” với ba trụ cột: con người - đạo đức - bền vững. Mô hình này được khuyến nghị tích hợp vào Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Chiến lược quốc gia về AI (cập nhật định kỳ theo Quyết định 127/QĐ-TTg năm 2021). Kết quả nghiên cứu khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam sống động, giúp Việt Nam dẫn dắt AI theo hướng “vì dân tộc và nhân loại” trong kỷ nguyên số.

Ảnh minh họa. Nguồn: Nhân dân.

Ảnh minh họa. Nguồn: Nhân dân. 

1. Mở đầu

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện sang kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành lực lượng sản xuất then chốt, định hình lại toàn bộ nền tảng kinh tế - xã hội toàn cầu một cách sâu sắc, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nhân loại. Theo báo cáo cập nhật của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum), AI có thể đóng góp thêm khoảng 15,7 nghìn tỉ USD vào GDP toàn cầu vào năm 2030, tương đương 14% GDP thế giới, thông qua việc nâng cao năng suất lao động, tối ưu hóa chuỗi cung ứng toàn cầu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng các dịch vụ thông minh trên mọi lĩnh vực từ y tế, giáo dục, sản xuất đến quản trị nhà nước. Tuy nhiên, đằng sau những lợi ích to lớn ấy là những thách thức đạo đức, nhân văn và bền vững nghiêm trọng, mang tính toàn cầu và đa chiều: thiên kiến thuật toán dẫn đến phân biệt đối xử hệ thống, mất việc làm hàng loạt do tự động hóa quy trình lao động, xâm phạm quyền riêng tư dữ liệu cá nhân trên quy mô rất lớn, thao túng thông tin và dư luận trên không gian mạng, cũng như nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc khi các mô hình AI chủ yếu được huấn luyện trên dữ liệu và giá trị phương Tây. Những rủi ro này không chỉ dừng lại ở khía cạnh kỹ thuật hay kinh tế mà còn mang tính triết học sâu sắc, đòi hỏi một khung nền tảng nhân văn vững chắc, mang đậm bản sắc dân tộc để đảm bảo AI thực sự phục vụ con người, vì con người và vì lợi ích chung của dân tộc, thay vì tha hóa con người hay làm sâu sắc thêm bất bình đẳng xã hội.

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thức rõ vai trò chiến lược then chốt của AI và đã có những bước đi quyết liệt, mang tính đột phá để đưa đất nước vào nhóm dẫn đầu khu vực ASEAN về lĩnh vực này. Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (ban hành kèm theo Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ) đã xác định rõ mục tiêu đưa AI trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng, phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 50 nước hàng đầu thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI [1]. Tiếp nối tinh thần đó, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XV đã thông qua Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026 - đây là đạo luật chuyên ngành đầu tiên về AI tại Việt Nam, quy định toàn diện về quyền, nghĩa vụ, quản lý rủi ro, đạo đức ứng dụng, hỗ trợ phát triển hệ sinh thái AI và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin [2]. Những văn kiện quan trọng này thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao độ của Đảng và Nhà nước trong việc chủ động hội nhập quốc tế, làm chủ công nghệ cốt lõi của cách mạng công nghiệp 4.0 và 5.0, nhằm tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và vì con người.

Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2026 - năm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam - các văn kiện Đại hội đã khẳng định mạnh mẽ vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó AI được xác định là một trong những công nghệ chiến lược then chốt, là động lực đột phá để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc [3]. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh việc “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, đồng thời yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, lấy con người làm trung tâm trong mọi chiến lược phát triển. Trước đó, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) đã mở đường bằng việc coi khoa học và công nghệ là “động lực then chốt” của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn liền với việc “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” và “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [4]. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã cụ thể hóa các định hướng chiến lược, đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu các nước thu nhập trung bình cao, với tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao [5].

Song, giữa bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra sôi động, khung pháp lý về AI ngày càng hoàn thiện và các nghị quyết Đảng liên tục khẳng định vai trò trung tâm của con người, một khoảng trống nghiên cứu lớn vẫn tồn tại trong lĩnh vực Hồ Chí Minh học: các công trình hiện hành chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, ứng dụng kinh tế hoặc quản trị rủi ro pháp lý, chưa hệ thống hóa một nền tảng triết học Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc để định hướng AI phát triển theo hướng “nhân văn, đạo đức và bền vững”. Các khung đạo đức AI quốc tế dù có giá trị tham khảo cao nhưng mang tính kỹ thuật và pháp lý chủ đạo, thiếu chiều sâu nhân văn phương Đông - đặc biệt là hệ giá trị con người Việt Nam được hun đúc qua tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chính vì vậy, bài viết khẳng định rằng “tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh - với hạt nhân cốt lõi là quan điểm ‘con người là vốn quý nhất’, ‘vì lợi ích của dân tộc và nhân loại’, ‘khoa học phải phục vụ con người’” [6] chính là nền tảng triết học Việt Nam vững chắc nhất cho việc phát triển trí tuệ nhân tạo nhân văn, đạo đức và bền vững trong kỷ nguyên số. Đây không phải là cách tiếp cận áp đặt máy móc mà là sự vận dụng biện chứng, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn mới của cách mạng công nghiệp 4.0 và 5.0, hoàn toàn phù hợp với tinh thần kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh được các Đại hội XII, XIII, XIV của Đảng liên tục nhấn mạnh. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực, là trung tâm của mọi hoạt động cách mạng và xây dựng đất nước; khoa học - kỹ thuật phải “từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng” [6], phải gắn liền với đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Áp dụng vào AI, những giá trị này trở thành kim chỉ nam để đảm bảo công nghệ không chỉ thông minh mà còn nhân văn, không chỉ hiệu quả mà còn công bằng, không chỉ phát triển mà còn bền vững, góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng của toàn dân tộc.

Bài viết này, với cách tiếp cận liên ngành giữa Hồ Chí Minh học, triết học, khoa học chính trị, đạo đức học và công nghệ thông tin, nhằm làm rõ giá trị vượt thời gian của tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, chứng minh đây chính là “lá chắn” nhân văn cho AI Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi để tích hợp vào khung chính sách quốc gia. Qua đó, bài viết không chỉ góp phần lấp khoảng trống nghiên cứu mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên số - một di sản tư tưởng giúp dân tộc ta không chỉ theo kịp mà còn dẫn dắt xu hướng phát triển AI nhân văn trên trường quốc tế, thực hiện thắng lợi đường lối Đại hội XIII và XIV của Đảng.

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

2.1. Khái niệm cốt lõi

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc và nhất quán về con người, coi con người là trung tâm, là mục tiêu tối thượng và là động lực quyết định của mọi sự nghiệp cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước. Người đã khẳng định một cách khoa học và biện chứng rằng “Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” [7]. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người không phải là khái niệm trừu tượng mà là sự thống nhất biện chứng giữa cá nhân và cộng đồng, giữa đức và tài, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích nhân loại; con người vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử, vừa là đối tượng phục vụ của mọi chính sách, mọi hoạt động khoa học - kỹ thuật. Quan điểm này không chỉ là nền tảng triết học của cách mạng Việt Nam mà còn là kim chỉ nam để vận dụng sáng tạo vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và 5.0 hiện nay.

Khi đặt trong mối liên hệ liên ngành với lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trở thành nền tảng triết học Việt Nam để xây dựng AI nhân văn (human-centered AI) - một cách tiếp cận coi con người là trung tâm của toàn bộ quá trình thiết kế, phát triển, triển khai và sử dụng AI, đảm bảo công nghệ phải phục vụ con người, nâng cao phẩm giá con người chứ không thay thế, tha hóa hay làm suy giảm vai trò sáng tạo của con người. AI nhân văn theo tinh thần Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc tối ưu hóa hiệu suất kỹ thuật mà phải hướng tới việc bảo vệ và phát huy giá trị nhân văn cốt lõi: con người là vốn quý nhất, khoa học - kỹ thuật phải “từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng” [7].

Đồng thời, đạo đức AI (AI ethics) trong tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu là sự vận dụng sáng tạo các nguyên tắc đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” vào môi trường số, nhấn mạnh minh bạch, công bằng, trách nhiệm giải trình và đặc biệt là sự kiểm soát của con người đối với công nghệ. Còn AI bền vững (sustainable AI) không chỉ yêu cầu giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường (như tiêu thụ năng lượng khổng lồ của các trung tâm dữ liệu) mà còn phải đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, giữa đô thị và nông thôn - hoàn toàn phù hợp với tư tưởng “vì lợi ích của dân tộc và nhân loại” mà Hồ Chí Minh đã nêu rõ.

Như vậy, ba khái niệm cốt lõi - tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, AI nhân văn, đạo đức AI và AI bền vững - không phải là những khái niệm tách rời mà tạo thành một thể thống nhất biện chứng, trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò nền tảng triết học, định hướng giá trị và kim chỉ nam đạo đức cho sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam trong kỷ nguyên số.

2.2. Tổng quan nghiên cứu

Trong nước, các công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, đạo đức cách mạng và vai trò của khoa học - kỹ thuật đã hình thành một hệ thống phong phú, sâu sắc, được các thế hệ nhà khoa học Hồ Chí Minh học kế thừa và phát triển không ngừng. Các công trình tiêu biểu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024) và nhiều tác giả khác đã làm rõ giá trị nhân văn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, coi khoa học - kỹ thuật phải phục vụ lợi ích của nhân dân [10]. Đặc biệt, sau Đại hội XIII và XIV của Đảng, nhiều nghị quyết của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) đã nhấn mạnh việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia [11]. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào đưa tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh vào đối thoại trực tiếp, bình đẳng và hệ thống với trí tuệ nhân tạo - một khoảng trống nghiên cứu rõ nét trong lĩnh vực Hồ Chí Minh học.

Ở cấp độ quốc tế, các khung đạo đức AI đã được xây dựng khá toàn diện. Khuyến nghị về Đạo đức Trí tuệ nhân tạo của UNESCO (2021) nêu rõ bốn giá trị cốt lõi: (1) Quyền con người và phẩm giá con người; (2) Sống trong một xã hội hòa bình, công bằng và kết nối; (3) Đa dạng và hòa nhập; (4) Môi trường và hệ sinh thái bền vững [8]. Trong khi đó, EU AI Act (2024) tập trung vào phân loại rủi ro của các hệ thống AI và yêu cầu giám sát chặt chẽ của con người đối với các ứng dụng có rủi ro cao [9]. Những khung này mang tính kỹ thuật và pháp lý cao, đã trở thành tham chiếu quan trọng cho nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam khi ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/03/2026) [12]. Song, các khung quốc tế vẫn thiếu chiều sâu triết học nhân văn phương Đông, đặc biệt là hệ giá trị “con người là vốn quý nhất” và tinh thần “vì dân tộc và nhân loại” được hun đúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh - điều mà một mô hình triết học Việt Nam hoàn toàn có thể bổ sung một cách sáng tạo và có giá trị.

Khoảng trống nghiên cứu chính nằm ở việc thiếu một mô hình triết học Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc, lấy tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh làm nền tảng để định hướng phát triển AI nhân văn, đạo đức và bền vững. Các nghiên cứu hiện hành chủ yếu dừng ở mức độ vận dụng chung chung hoặc tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, chưa có sự kết nối liên ngành sâu sắc giữa Hồ Chí Minh học với khoa học công nghệ hiện đại. Chính vì vậy, bài viết này hướng tới việc lấp đầy khoảng trống ấy, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là di sản lịch sử mà còn là kim chỉ nam sống động, khoa học và cách mạng cho việc xây dựng AI Việt Nam trong kỷ nguyên số, hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, XIV của Đảng và Luật Trí tuệ nhân tạo 2025.

3. Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh - Nền tảng triết học cho AI nhân văn

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh không chỉ là di sản tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam mà còn là nền tảng triết học sống động, khoa học và cách mạng nhất để định hướng phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) theo hướng nhân văn, đạo đức và bền vững trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh năm 2026 - khi Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được thông qua - việc khai thác sâu sắc giá trị nhân văn cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành yêu cầu cấp thiết, khoa học và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng ấy không phải là công cụ áp đặt mà là kim chỉ nam biện chứng, giúp Việt Nam xây dựng một mô hình AI mang bản sắc dân tộc, khác biệt với các khung kỹ thuật thuần túy của phương Tây, đồng thời bổ sung chiều sâu nhân văn phương Đông cho các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành.

3.1. Con người là trung tâm và mục tiêu tối thượng

Một trong những luận điểm cốt lõi, xuyên suốt và mang tính cách mạng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm coi “con người là vốn quý nhất”. Người đã khẳng định rõ ràng và sâu sắc rằng con người vừa là trung tâm, vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là động lực quyết định của mọi sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Trong AI, nguyên tắc này đòi hỏi mọi hệ thống trí tuệ nhân tạo phải lấy con người làm trung tâm tuyệt đối: không được phép thay thế vai trò sáng tạo của con người, không được làm suy giảm phẩm giá và quyền con người, mà phải phục vụ con người một cách toàn diện, vì lợi ích của dân tộc và nhân loại. AI không phải là “siêu trí tuệ” thay thế con người mà chỉ là công cụ hữu hiệu nhất để nâng cao năng lực sáng tạo, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc như tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ.

Quan điểm này hoàn toàn phù hợp và bổ sung giá trị sâu sắc cho Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 của Việt Nam, vốn nhấn mạnh nguyên tắc “con người là trung tâm” trong thiết kế, triển khai và giám sát AI. Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ sau Đại hội XIV, việc vận dụng tư tưởng “con người là vốn quý nhất” giúp AI Việt Nam tránh được nguy cơ tha hóa con người - một rủi ro lớn mà nhiều quốc gia đang đối mặt khi theo đuổi mô hình AI thuần kỹ thuật. Con người ở đây không chỉ là người dùng cuối mà là chủ thể sáng tạo, là đối tượng phục vụ và là người kiểm soát cuối cùng đối với mọi thuật toán và hệ thống AI.

3.2. Đạo đức cách mạng - Kim chỉ nam cho đạo đức AI

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh với sáu chữ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cùng tinh thần “yêu nước, yêu dân, yêu loài người” chính là kim chỉ nam vững chắc nhất để xây dựng đạo đức AI tại Việt Nam. Những giá trị đạo đức cách mạng này có thể được chuyển hóa sáng tạo thành bảy nguyên tắc đạo đức AI theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo nên một khung đạo đức mang đậm bản sắc Việt Nam, vừa khoa học vừa nhân văn:

1. Minh bạch và trách nhiệm (chí công vô tư) - mọi quyết định của AI phải được giải trình rõ ràng trước nhân dân và xã hội.

2. Công bằng và không thiên kiến (liêm chính) - loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong thuật toán.

3. Tôn trọng quyền con người (yêu dân) - bảo vệ quyền riêng tư, phẩm giá và tự do cá nhân.

4. Phục vụ lợi ích chung (vì dân tộc và nhân loại) - AI phải hướng tới lợi ích của toàn xã hội chứ không chỉ lợi nhuận.

5. Kiểm soát của con người (nhân văn) - con người luôn là chủ thể cuối cùng kiểm soát và giám sát AI.

6. Bảo vệ môi trường và bền vững (kiệm) - giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

7. Sáng tạo và thích ứng văn hóa Việt Nam (cần kiệm) - AI phải mang bản sắc dân tộc, không sao chép máy móc mô hình nước ngoài.

Những nguyên tắc này vượt trội so với Khuyến nghị về Đạo đức Trí tuệ nhân tạo của UNESCO (2021) và EU AI Act (2024) ở chỗ nhấn mạnh “đạo đức cách mạng” - sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và hành động, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lợi ích dân tộc và nhân loại. Đây chính là giá trị bổ sung độc đáo mà tư tưởng Hồ Chí Minh mang lại cho đạo đức AI toàn cầu.

3.3. Khoa học phục vụ nhân dân và tính bền vững

Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách khoa học và sâu sắc rằng “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng”. Áp dụng vào lĩnh vực AI, nguyên tắc này đòi hỏi khoa học kỹ thuật không được chạy theo lợi nhuận thuần túy hay xu hướng công nghệ mù quáng mà phải phục vụ nhân dân một cách thiết thực nhất: giảm bất bình đẳng số giữa các vùng miền, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Trong bối cảnh Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Nghị quyết Đại hội XIV, AI bền vững theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải trở thành động lực then chốt để xây dựng lực lượng sản xuất mới, hiện đại, đồng thời bảo đảm phát triển xanh và bao trùm.

3.4. Tính sáng tạo và vận dụng biện chứng

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tinh thần “độc lập tư tưởng” và “vận dụng sáng tạo”. Do đó, AI Việt Nam không được sao chép máy móc các mô hình phương Tây mà phải mang bản sắc riêng - “AI nhân văn Hồ Chí Minh” - kết hợp hài hòa truyền thống nhân nghĩa dân tộc với công nghệ hiện đại nhất. Đây chính là sự vận dụng biện chứng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng công nghiệp 4.0 và 5.0, hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, XIV của Đảng và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Tóm lại, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh chính là nền tảng triết học vững chắc nhất, khoa học nhất và cách mạng nhất để Việt Nam xây dựng một nền AI nhân văn, đạo đức và bền vững - không chỉ theo kịp mà còn dẫn dắt xu hướng phát triển công nghệ vì con người trong kỷ nguyên số.

4. Thực trạng và giải pháp áp dụng tại Việt Nam

4.1. Thực trạng

Trong bối cảnh năm 2026 - khi Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 và Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được ban hành với tinh thần “đột phá mạnh mẽ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” - Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển trí tuệ nhân tạo. Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (Quyết định 127/QĐ-TTg năm 2021) đã tạo nền tảng vững chắc, dẫn đến việc hình thành các trung tâm AI quốc gia tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, sự gia tăng nhanh chóng của hệ sinh thái startup AI, cùng với việc các tập đoàn lớn như Viettel và FPT triển khai hàng loạt giải pháp AI thực tiễn trong giám sát giao thông thông minh, xử lý tài liệu tự động, chấm điểm tín dụng và phát hiện gian lận ngân hàng. Kinh tế số đã chiếm khoảng 14% GDP năm 2025 và tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, khẳng định vị thế Việt Nam ngày càng nổi bật trong nhóm dẫn đầu ASEAN về một số chỉ số nghiên cứu và ứng dụng AI.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ ấy vẫn tồn tại những hạn chế cơ bản, đòi hỏi phải có sự can thiệp sâu sắc từ nền tảng triết học nhân văn Hồ Chí Minh. Cụ thể, khung đạo đức AI quốc gia còn thiếu tính thống nhất và chưa được triển khai đồng bộ trên toàn hệ thống, dẫn đến nguy cơ thiên kiến thuật toán trong các mô hình AI huấn luyện trên dữ liệu không cân bằng; bất bình đẳng số giữa đô thị và nông thôn vẫn còn rõ nét, khi ứng dụng AI chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn trong khi vùng sâu, vùng xa chưa tiếp cận được đầy đủ; đồng thời, tác động môi trường từ các trung tâm dữ liệu lớn (data center) đang gia tăng, với mức tiêu thụ năng lượng khổng lồ và nguy cơ ô nhiễm nếu không có quy hoạch bền vững. Những hạn chế này không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay quản lý mà còn phản ánh khoảng trống về nền tảng triết học: thiếu sự định hướng nhân văn sâu sắc để đảm bảo AI thực sự “phục vụ con người, vì con người” như tư tưởng Hồ Chí Minh đã dạy. Chính vì vậy, việc xây dựng mô hình “AI nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh” trở thành yêu cầu cấp thiết, khoa học và cách mạng để khắc phục những bất cập hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối Đại hội XIII, XIV của Đảng.

4.2. Mô hình “AI nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh”

Để khắc phục những hạn chế nêu trên và tận dụng tối đa các thành tựu đã đạt được, bài viết đề xuất mô hình “AI nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh” với ba trụ cột vững chắc, được xây dựng trên nền tảng triết học nhân văn cốt lõi của Người. Trụ cột thứ nhất là “Con người” - coi con người Việt Nam là trung tâm tuyệt đối, là mục tiêu tối thượng và là động lực quyết định của mọi hệ thống AI, đảm bảo công nghệ không thay thế mà nâng cao vai trò sáng tạo, phẩm giá và quyền lợi của con người theo tinh thần “con người là vốn quý nhất”. Trụ cột thứ hai là “Đạo đức” - vận dụng trực tiếp bảy nguyên tắc đạo đức AI đã được chuyển hóa từ đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh (minh bạch - chí công vô tư, công bằng - liêm chính, tôn trọng quyền con người - yêu dân, phục vụ lợi ích chung - vì dân tộc và nhân loại, kiểm soát của con người, bảo vệ môi trường - kiệm, sáng tạo và thích ứng văn hóa Việt Nam - cần kiệm). Trụ cột thứ ba là “Bền vững” - hướng tới AI xanh, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và môi trường sống, đảm bảo phát triển bao trùm, công bằng giữa các vùng miền, giữa các thế hệ.

Mô hình này được cụ thể hóa qua các lĩnh vực ứng dụng then chốt. Trong giáo dục, AI sẽ hỗ trợ cá nhân hóa lộ trình học tập cho từng học sinh, sinh viên nhưng tuyệt đối giữ vững vai trò trung tâm của thầy cô và giá trị nhân văn truyền thống, tránh tình trạng máy móc thay thế con người như một số mô hình AI thuần túy hiện nay. Trong y tế, AI hỗ trợ chẩn đoán bệnh chính xác và nhanh chóng nhưng phải bảo vệ nghiêm ngặt quyền riêng tư bệnh nhân theo tinh thần “yêu dân”, đảm bảo con người luôn là chủ thể quyết định cuối cùng trong mọi can thiệp y khoa. Trong hành chính công, AI sẽ góp phần xây dựng chính phủ số “của dân, do dân, vì dân” - một chính phủ minh bạch, trách nhiệm, gần dân và phục vụ dân theo đúng di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giúp giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nhưng không làm suy giảm vai trò giám sát của nhân dân.

4.3. Kiến nghị chính sách

Để triển khai hiệu quả mô hình trên, cần có các kiến nghị chính sách cụ thể, khả thi và đồng bộ. Thứ nhất, tích hợp toàn diện mô hình “AI nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh” vào Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Chiến lược AI quốc gia cập nhật giai đoạn 2026 - 2035, biến ba trụ cột con người - đạo đức - bền vững thành nguyên tắc cốt lõi trong mọi quy định pháp lý và chiến lược quốc gia. Thứ hai, thành lập Hội đồng đạo đức AI quốc gia lấy cảm hứng trực tiếp từ tư tưởng Hồ Chí Minh, với sự tham gia của các nhà khoa học Hồ Chí Minh học, chuyên gia công nghệ và đại diện nhân dân, nhằm giám sát, đánh giá và hướng dẫn đạo đức cho mọi dự án AI lớn. Thứ ba, xây dựng chương trình giáo dục đạo đức AI từ tư tưởng Hồ Chí Minh dành cho cán bộ, sinh viên và doanh nghiệp trên toàn quốc, đưa nội dung này vào chương trình đào tạo tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các trường đại học, giúp thế hệ trẻ không chỉ làm chủ công nghệ mà còn làm chủ giá trị nhân văn. Thứ tư, thúc đẩy hợp tác quốc tế nhưng kiên định giữ vững chủ quyền triết học Việt Nam, nghĩa là tiếp thu tinh hoa quốc tế nhưng không sao chép máy móc, mà luôn lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng định hướng để Việt Nam không chỉ theo kịp mà còn dẫn dắt xu hướng AI nhân văn trên trường quốc tế.

5. Kết luận

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là di sản vĩ đại nhất, là kim chỉ nam sống động và khoa học nhất cho Việt Nam trong kỷ nguyên AI. Việc xây dựng trí tuệ nhân tạo nhân văn, đạo đức và bền vững theo tư tưởng của Người không chỉ giúp đất nước tránh được những rủi ro đạo đức, bất bình đẳng và mất bản sắc mà còn khẳng định vị thế tiên phong của Việt Nam trong khu vực ASEAN và trên trường quốc tế. Đó chính là cách tốt nhất, sâu sắc nhất để tôn vinh “vị Cha già dân tộc” - Người không chỉ dẫn dắt dân tộc ta giành độc lập, tự do trong thế kỷ XX mà còn soi sáng con đường phát triển khoa học - công nghệ vì con người trong thế kỷ XXI, hoàn toàn phù hợp với tinh thần kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh được các Đại hội XII, XIII, XIV của Đảng liên tục khẳng định.

Việt Nam hãy hành động ngay hôm nay, với quyết tâm chính trị cao nhất: biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành sức mạnh mềm vượt trội của AI Việt Nam - một nền AI vì con người, vì dân tộc, vì hòa bình và tiến bộ nhân loại. Chỉ khi đó, chúng ta mới thực sự xây dựng được một Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng của toàn Đảng, toàn dân trong thời đại mới.

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

[1], [21] Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 về việc ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030.

[2], [12], [19], [16] Quốc hội. (2025). Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (có hiệu lực từ ngày 01/03/2026).

[3], [15], [20] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Toàn văn công bố ngày 23/01/2026).

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. NXB CTQGST, Hà Nội.

[5], [11], [17], [23] Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[6], [22] Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5, 11). NXB CTQG, Hà Nội.

[7], [13] Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 5). NXB CTQG, Hà Nội.

[8], [18] UNESCO. (2021). Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence. Paris: UNESCO.

[9] European Union. (2024). EU Artificial Intelligence Act.

[10] Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. (2024). Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vận dụng trong thời kỳ mới. NXB CTQGST, Hà Nội.

[14] Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập (Tập 11). NXB CTQG, Hà Nội.

LÊ HÙNG

BÙI QUỐC TUẤN

Học viện Chính trị khu vực I.