1. Mở bài
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, MTTQ Việt Nam cùng hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã khẳng định rõ nét vai trò lịch sử và đóng góp chiến lược to lớn, trở thành bộ phận không thể tách rời của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN cũng như toàn bộ quá trình hình thành, phát triển, trưởng thành và lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV (2026) đã tổng kết sâu sắc: “Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định thành bại của sự nghiệp cách mạng” [1]. Quan điểm này được cụ thể hóa mạnh mẽ trong Văn kiện Đại hội XIV, khi Đảng nhấn mạnh MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là “cầu nối” giữa Đảng với Nhân dân, là lực lượng nòng cốt xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị [2].
Trong bối cảnh năm 2026 - năm mở đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội càng trở nên cấp thiết. Các tổ chức này không chỉ là “cầu nối” giữa Đảng với Nhân dân mà còn là lực lượng tiên phong trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trọng tâm [3].
Cơ sở lý luận khoa học cho vai trò lịch sử và đóng góp chiến lược của MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội nằm sâu sắc trong chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định sức mạnh của giai cấp công nhân nằm ở sự đoàn kết. Tư tưởng Hồ Chí Minh nâng tầm thành “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là cương lĩnh của cách mạng Việt Nam và là sức mạnh vô địch để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc Thống nhất do Đảng sáng lập năm 1930) cùng các tổ chức chính trị - xã hội chính là hiện thực sống động của sự vận dụng sáng tạo lý luận này vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, trở thành nhân tố then chốt góp phần hình thành, phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam từ một tổ chức nhỏ bé thành Đảng cầm quyền lãnh đạo toàn diện sự nghiệp cách mạng.
Luật MTTQ Việt Nam số 75/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15) đã quy định rõ ràng: MTTQ là “cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động để tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc [4]. Phương châm hành động “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển” của Đại hội X MTTQ Việt Nam (nhiệm kỳ 2024 - 2029) tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong này trong kỷ nguyên phát triển mới [5].
Bài viết tập trung phân tích sâu sắc, toàn diện vai trò lịch sử cùng những đóng góp chiến lược của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết thực tiễn qua các giai đoạn cách mạng từ năm 1930 đến nay, đặc biệt trong 40 năm đổi mới và bối cảnh năm 2026. Đồng thời, bài viết đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm phát huy hơn nữa vai trò này trong kỷ nguyên phát triển mới, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối của Đại hội XIV của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Các Uỷ viên UBTƯ MTTQ Việt Nam khoá XI. Ảnh: Đại đoàn kết.
2. Cơ sở lý luận và quá trình hình thành vai trò của MTTQ cùng các tổ chức chính trị - xã hội
Cơ sở lý luận sâu sắc nhất cho vai trò lịch sử cùng đóng góp chiến lược của MTTQ Việt Nam và hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội chính là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc - một nội dung cốt lõi của nền tảng tư tưởng Đảng Cộng sản Việt Nam.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định “sức mạnh của giai cấp công nhân nằm ở sự đoàn kết”. V.I.Lênin phát triển thành học thuyết về mặt trận thống nhất và liên minh giai cấp. Tư tưởng Hồ Chí Minh nâng tầm lý luận này thành “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là cương lĩnh của cách mạng, là sức mạnh vô địch để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, là bộ phận quan trọng của nền tảng tư tưởng Đảng mà chúng ta phải kiên định, bảo vệ và phát triển trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc Thống nhất do Đảng Cộng sản Đông Dương sáng lập năm 1930) là sản phẩm sáng tạo vĩ đại của Đảng trong việc vận dụng lý luận vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. MTTQ trở thành “cầu nối” giữa Đảng với Nhân dân và nhân tố then chốt góp phần hình thành, phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam từ tổ chức nhỏ bé thành Đảng cầm quyền lãnh đạo toàn diện sự nghiệp cách mạng.
Song song với MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội CCB Việt Nam...) được Đảng trực tiếp thành lập và lãnh đạo đã trở thành “cánh tay nối dài” vững chắc của Đảng trong quần chúng, là lực lượng nòng cốt thực hiện đường lối Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW.
Luật MTTQ Việt Nam số 75/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 97/2025/QH15) đã quy định rõ: “MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, thực hiện nguyên tắc hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động để tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc [6].
Đại hội lần thứ X MTTQ Việt Nam (nhiệm kỳ 2024 - 2029) với phương châm hành động “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển” đã cụ thể hóa vai trò tiên phong của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới [7].
3. Vai trò lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã góp phần quyết định, có ý nghĩa lịch sử sâu sắc và mang tính chiến lược lâu dài vào sự ra đời, trưởng thành, lớn mạnh và không ngừng đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng lãnh đạo duy nhất của cách mạng Việt Nam. Vai trò này không chỉ thể hiện ở việc tập hợp, huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn trực tiếp tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, đặc biệt trong bối cảnh năm 2026 - năm mở đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng [8].
Trong giai đoạn 1930 - 1945, khi Đảng Cộng sản Đông Dương mới ra đời trong điều kiện hoạt động bí mật, gian khổ, Mặt trận Dân tộc Thống nhất (tiền thân của MTTQ) đã trở thành hình thức tổ chức sáng tạo, rộng rãi nhất để Đảng tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, mọi dân tộc, tôn giáo, trí thức, nông dân, công nhân, tư sản dân tộc và các lực lượng yêu nước dưới ngọn cờ chống đế quốc, phong kiến. Nhờ sức mạnh đại đoàn kết, Mặt trận đã tạo nền tảng vững chắc giúp Đảng lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là minh chứng sống động cho luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: đại đoàn kết là “cương lĩnh” của cách mạng, là sức mạnh vô địch giúp Đảng từ tổ chức nhỏ bé nhanh chóng trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Sau năm 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Mặt trận Liên Việt (sau là MTTQ) đã huy động sức mạnh toàn dân tộc, biến cuộc kháng chiến thành “cuộc chiến tranh nhân dân” vĩ đại. Các tổ chức chính trị - xã hội như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân... trở thành “cánh tay nối dài” của Đảng trong tổ chức, giáo dục và động viên quần chúng tham gia chiến đấu, sản xuất, xây dựng hậu phương lớn. Nhờ đó, Đảng không chỉ lãnh đạo thắng lợi các cuộc kháng chiến mà còn được rèn luyện, trưởng thành trong thực tiễn, tăng cường sự gắn bó máu thịt với Nhân dân - yếu tố quyết định để Đảng trở thành Đảng cầm quyền sau năm 1975.
Bước vào công cuộc đổi mới từ Đại hội VI của Đảng (1986), MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã phát huy vai trò ở tầm cao mới: tham gia hiệp thương dân chủ, giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng các văn kiện quan trọng của Đảng, tiêu biểu là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991, bổ sung năm 2011), các nghị quyết Đại hội XII, XIII [9] và đặc biệt là Đại hội XIV năm 2026 [10]. Trên phương diện pháp lý, vai trò này được thể chế hóa rõ nét qua Luật MTTQ Việt Nam và các văn bản sửa đổi, bổ sung, trong đó Luật số 97/2025/QH15 đã khẳng định, mở rộng chức năng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền trong điều kiện mới [11]. Qua hơn 40 năm đổi mới, các tổ chức này đã trực tiếp tham gia tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những giá trị mới từ thực tiễn Việt Nam, góp phần làm sáng tỏ lý luận về đường lối đổi mới, kinh tế thị trường định hướng XHCN, dân chủ XHCN và đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đến Đại hội XIII (2021) và Đại hội XIV (2026), Đảng khẳng định ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội: “MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội là nơi tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” [12]. Các cơ chế cụ thể như Quyết định số 217-QĐ/TW và 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị đã tạo hành lang chính trị - pháp lý quan trọng để MTTQ thực hiện hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội [13]. Trong bối cảnh năm 2026, khi đất nước đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, tinh gọn bộ máy, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp và chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa XVI, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, vai trò này càng trở nên cấp thiết và mang tính thời sự sâu sắc.
Vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể không chỉ là biểu hiện sinh động của dân chủ xã hội chủ nghĩa mà còn là phương thức quan trọng để Đảng kịp thời nắm bắt dư luận, điều chỉnh đường lối, chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng trước các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng và trong đời sống xã hội. Thực tiễn năm 2026 cho thấy, với việc triển khai “Mặt trận số” và ứng dụng công nghệ số trong tuyên truyền, vận động, giám sát, các tổ chức này đã trở thành lực lượng tiên phong lan tỏa giá trị lịch sử, lý luận và thực tiễn của Đảng, góp phần bảo vệ thành quả hơn 40 năm đổi mới đồng thời định hướng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV [14] và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới [15].
4. Đóng góp chiến lược trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc XHCN
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026), MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội đã khẳng định vai trò lịch sử và đóng góp chiến lược to lớn, trở thành lực lượng nòng cốt huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN [8].
Là lực lượng chủ lực trong các phong trào thi đua yêu nước, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã triển khai hiệu quả nhiều cuộc vận động lớn: “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” và phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát”. Những phong trào này đã huy động nguồn lực khổng lồ từ nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh [16].
Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, MTTQ Việt Nam đã thực hiện hiệu quả vai trò giám sát cán bộ, đảng viên tại khu dân cư và đẩy mạnh phản biện xã hội đối với các dự án luật, quy hoạch, kế hoạch của cơ quan nhà nước. Theo Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), phản biện xã hội của Mặt trận là việc nhận xét, đánh giá, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật một cách khách quan, khoa học, góp phần bảo đảm tính đúng đắn và phù hợp với thực tiễn [18].
Các tổ chức chính trị - xã hội đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng cho đoàn viên, hội viên và nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW [19].
Đến Đại hội XIV, Đảng tiếp tục nhấn mạnh vai trò của MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền [20]. Những đóng góp chiến lược này không chỉ thể hiện ở mặt kinh tế - xã hội mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về chính trị, tư tưởng, góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị XHCN [21].
5. Đóng góp chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc XHCN
Trong bối cảnh năm 2026 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục khẳng định vai trò lịch sử là “lá chắn” vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo vệ Tổ quốc XHCN theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị [15].
Là lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã chủ động triển khai giám sát, phản biện xã hội và tuyên truyền trên không gian mạng, kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. MTTQ đã triển khai nền tảng “Mặt trận số”, xây dựng “Thế trận lòng dân trên không gian mạng”, tạo hệ sinh thái số vững mạnh bảo vệ trận địa tư tưởng của Đảng [22].
Một đóng góp chiến lược nổi bật là vai trò của MTTQ trong bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát huy đối ngoại nhân dân. Thông qua các cuộc vận động tuyên truyền về biển, đảo và quan hệ hữu nghị quốc tế, Mặt trận đã khơi dậy tinh thần yêu nước, khẳng định lập trường kiên định của Việt Nam về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước [23].
Những đóng góp trên đã giúp Đảng nắm chắc tình hình tư tưởng nhân dân, kịp thời điều chỉnh chính sách, giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng theo tinh thần Nghị quyết 35-NQ/TW. MTTQ tiếp tục khẳng định vị trí là “mái nhà chung” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [25].
6. Thực tiễn và giải pháp nâng cao vai trò trong kỷ nguyên phát triển mới
Bước vào năm 2026 - thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt trong tiến trình phát triển đất nước, khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng - vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục được đặt trong yêu cầu phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, toàn diện và dài hạn. Đây là giai đoạn đất nước chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”.
Thực tiễn năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV cho thấy, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã có nhiều đổi mới đột phá, thích ứng nhanh với bối cảnh xã hội số và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo Nghị quyết 35-NQ/TW. Các mô hình “Mặt trận cơ sở thích ứng số”, “Đoàn thể số”, “khu dân cư thông minh”, “nền tảng kết nối Nhân dân - chính quyền” được thí điểm và nhân rộng, góp phần mở rộng không gian hoạt động của Mặt trận từ thực tiễn truyền thống sang không gian mạng - một “mặt trận mới” có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh thông tin và đấu tranh tư tưởng ngày càng gay gắt.
Đồng thời, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tăng cường phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong hệ thống chính trị, đặc biệt là Ban Chỉ đạo 35 các cấp, cơ quan tuyên giáo, báo chí, đội ngũ trí thức và nhà khoa học để triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Hoạt động không chỉ dừng ở tuyên truyền, vận động mà đã chuyển sang phân tích, phản biện và định hướng dư luận xã hội, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Nghị quyết Đại hội XIV: “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò chủ thể của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” [26].
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội vẫn còn một số hạn chế. Như Nghị quyết Đại hội XIV đã chỉ rõ: “hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội... chất lượng chưa cao” [27]. Do đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động. Một số tổ chức cơ sở còn biểu hiện hành chính hóa, chưa gắn bó mật thiết với Nhân dân; phương thức tập hợp quần chúng chậm đổi mới; ứng dụng công nghệ số chưa đồng bộ; năng lực nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng xã hội có lúc, có nơi chưa kịp thời.
Trong bối cảnh đó, việc đề xuất và triển khai các giải pháp nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước theo tinh thần Đại hội XIV, với những định hướng lớn, mang tính hệ thống và lâu dài.
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho các tổ chức này hoạt động đúng định hướng chính trị, phát huy vai trò là nền tảng chính trị của chính quyền nhân dân. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện” [28], trong đó Mặt trận và các đoàn thể giữ vai trò quan trọng trong việc gắn kết Đảng với Nhân dân.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động theo hướng hiện đại, linh hoạt, thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số quốc gia. Việc xây dựng “Mặt trận số”, “đoàn thể số” phải gắn với chuyển đổi toàn diện từ tư duy đến hành động, từ phương thức vận động truyền thống sang phương thức tương tác đa nền tảng, đa chiều. Đây cũng là cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XIV về “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số” [29].
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Cần xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực chuyên môn cao, đặc biệt là khả năng làm chủ công nghệ và thích ứng với môi trường số. Đồng thời, chú trọng thu hút, trọng dụng đội ngũ trí thức, cán bộ trẻ - lực lượng có vai trò quan trọng trong đổi mới sáng tạo và lan tỏa giá trị xã hội.
Thứ tư, tăng cường phối hợp giữa MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội với các lực lượng tuyên giáo, báo chí, khoa học nhằm xây dựng trận địa tư tưởng vững chắc trong xã hội. Đây là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh “cạnh tranh thông tin” và “đấu tranh nhận thức” ngày càng gay gắt, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, giữa khoa học và chính trị.
Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo các quy định của Đảng, đặc biệt là Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW. Đây là cơ chế quan trọng để kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân - yếu tố được Đại hội XIV xác định là nền tảng cho sự phát triển bền vững.
Kết luận
Vai trò lịch sử và đóng góp chiến lược của MTTQ Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội là minh chứng sống động cho sức sống của lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. Trong kỷ nguyên phát triển mới năm 2026, các tổ chức này tiếp tục là “cầu nối” quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa đất nước vững bước thực hiện khát vọng “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phải là chiến sĩ tiên phong trên mặt trận này, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN phồn vinh, hạnh phúc.
Tài liệu tham khảo:
[1], [28] Đảng CSVN, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV, 2026.
[2], [15] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
[3] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2026.
[4], [6], [11] Quốc hội, Luật số 97/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật MTTQ Việt Nam số 75/2015/QH13, ngày 27/6/2025.
[5], [7] Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ X (nhiệm kỳ 2024 - 2029), 2024.
[8], [10], [12], [14] Đảng CSVN (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. CTQGST, Hà Nội.
[9] Đảng CSVN (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. CTQGST, Hà Nội.
[13] Bộ Chính trị, Quyết định số 217-QĐ/TW và 218-QĐ/TW về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
[16] Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài, Phỏng vấn “MTTQ Việt Nam tiếp tục hoàn thành sứ mệnh của mình”, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ngày 15/02/2026.
[17] “Hệ thống Mặt trận góp phần quan trọng vào thành công chung của cuộc bầu cử”, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. Hồ Chí Minh, tháng 4/2026.
[18], [21] “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới”, Tạp chí Cộng sản, ngày 08/02/2026.
[19] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng CSVN, tháng 1/2021.
[20], [24], [26] Đảng CSVN (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV.
[22] Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, “10 hoạt động và sự kiện nổi bật của công tác Mặt trận năm 2025”, Trang thông tin điện tử Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ngày 31/12/2025.
[23] Hướng dẫn số 06/HDMTTQ-BTT của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về công tác tuyên truyền biển, đảo và biên giới đất liền năm 2025.
[25] “Phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam với tư cách là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”, Tạp chí Cộng sản, ngày 08/02/2026.
[27] “Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ XIV của Đảng CSVN”, ngày 23/01/2026 (phần đánh giá hạn chế).
[29] “Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ XIV của Đảng CSVN”, ngày 23/01/2026 (phần quan điểm chỉ đạo).
NCS. TRẦN THỊ THANH TÂM
Học viện Chính trị khu vực I.

