Văn hóa thượng tôn pháp luật không chỉ là giá trị đạo đức mà còn là nền tảng tinh thần cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (công bố toàn văn ngày 06/02/2026) và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 07/01/2026) đã thể chế hóa rõ ràng quan điểm này: phát triển văn hóa, con người là “phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” cho phát triển đất nước, đồng thời nhấn mạnh “nêu cao văn hóa thượng tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. Bài viết phân tích cơ sở lý luận từ tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ giá trị dân tộc, đánh giá thực trạng thể chế hóa pháp luật văn hóa, đồng thời đề xuất các giải pháp đột phá để hoàn thiện hệ thống pháp luật, giáo dục ý thức và ứng dụng công nghệ (đặc biệt sau khi 6 luật mới có hiệu lực từ 01/3/2026). Kết quả khẳng định: Văn hóa thượng tôn pháp luật chính là sức mạnh nội sinh giúp Nhà nước pháp quyền Việt Nam vững bước đến năm 2045.

Ảnh minh họa.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình lịch sử đương đại của dân tộc, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không chỉ đơn thuần là một cuộc cách mạng về thiết chế bộ máy hay kỹ thuật lập pháp, mà cốt lõi hơn, đó là một cuộc cách mạng về văn hóa chính trị và ý thức xã hội. Bước sang năm 2026, khi đất nước chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau dấu mốc lịch sử của Đại hội XIV, yêu cầu về một nền tảng tinh thần vững chãi để bảo đảm cho sự vận hành ổn định của hệ thống thể chế đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó, “văn hóa thượng tôn pháp luật” nổi lên như một hằng số giá trị, đóng vai trò là “linh hồn” của Nhà nước pháp quyền, giúp chuyển hóa những quy phạm pháp luật khô cứng thành các chuẩn mực hành vi tự giác của mọi chủ thể trong xã hội.
Sự cộng hưởng giữa tinh thần của Nghị quyết Đại hội XIV (tháng 1/2026) và những định hướng cụ thể tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị (ban hành ngày 07/01/2026) đã tạo ra một khung khổ lý luận và thực tiễn mang tính đột phá. Đại hội XIV của Đảng đã tiếp tục khẳng định vị trí trung tâm của nhân tố con người và văn hóa, coi đây là sức mạnh nội sinh quan trọng nhất để thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn 2045. Đặc biệt, quan điểm “Phát triển văn hóa, con người là nền tảng... khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” [1] đã xác lập một tư duy mới: pháp quyền không thể tách rời văn hóa. Pháp luật chỉ thực sự có sức sống khi nó được “tắm mình” trong dòng chảy văn hóa của dân tộc, và ngược lại, văn hóa chỉ có thể phát triển bền vững khi được bảo vệ và định hướng bởi các giá trị pháp lý văn minh.
Sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngay ngưỡng cửa Đại hội XIV là một minh chứng cho quyết tâm chính trị cao độ trong việc kiến tạo môi trường sống nhân văn và thượng tôn pháp luật. Nghị quyết đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm là: “Xây dựng môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; nêu cao văn hóa thượng tôn pháp luật từ gia đình, nhà trường, đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trên nền tảng đạo đức, luật pháp, chuẩn mực xã hội và giá trị truyền thống” [2]. Đây là bước đi cụ thể hóa tư duy quản trị quốc gia hiện đại, nơi mà việc tuân thủ pháp luật không còn dừng lại ở sự cưỡng bách của quyền lực nhà nước, mà đã nâng tầm thành một lối sống, một nhu cầu tự thân của mỗi công dân. Trong kỷ nguyên số và sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), khi các ranh giới hành vi trên không gian mạng và đời sống thực đan xen phức tạp, văn hóa thượng tôn pháp luật chính là “màng lọc” văn minh, giúp định hướng hành vi và bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trước những thách thức của mặt trái toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, thực tiễn vận hành thể chế tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua vẫn bộc lộ những điểm nghẽn đáng quan ngại. Một trong những hạn chế lớn nhất được Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận chính là tình trạng “thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ” [3]. Khoảng cách giữa văn bản và thực thi, giữa ý thức chính trị và hành động thực tế vẫn còn tồn tại, dẫn đến hiện tượng “nhờn luật” hoặc thực thi pháp luật một cách máy móc, thiếu tinh thần văn hóa. Do đó, việc nghiên cứu văn hóa thượng tôn pháp luật dưới góc độ là nền tảng tinh thần của Nhà nước pháp quyền không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận thuần túy, mà còn là lời giải cho bài toán cấp bách về việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong tình hình mới.
Bài viết này tập trung phân tích sâu sắc các giá trị cốt lõi của văn hóa thượng tôn pháp luật thông qua lăng kính của hai văn kiện chiến lược: Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 80-NQ/TW. Bằng cách tiếp cận liên ngành giữa luật học, văn hóa học và chính trị học, bài viết đi sâu vào việc làm rõ cơ chế chuyển hóa từ tư tưởng chính trị sang thể chế pháp lý, đồng thời đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật - nơi mà công lý, công bằng và lẽ phải trở thành chuẩn mực đạo đức tối thượng của mỗi con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
2. Cơ sở lý luận của văn hóa thượng tôn pháp luật trong bối cảnh mới
Khái niệm “Văn hóa thượng tôn pháp luật” không đơn thuần là một thuật ngữ pháp lý kỹ trị, mà là một phạm trù mang tính tích hợp cao độ giữa luật học, chính trị học và văn hóa học. Trong dòng chảy tư duy lý luận của Đảng ta tại Đại hội XIV, văn hóa thượng tôn pháp luật được hiểu là tổng thể các giá trị, niềm tin, thói quen và hành vi của các chủ thể xã hội trong việc thừa nhận, tôn trọng và tự nguyện tuân thủ pháp luật như một chuẩn mực đạo đức cao nhất. Nó không chỉ dừng lại ở sự hiểu biết về các quy định pháp lý, mà quan trọng hơn là sự thẩm thấu các giá trị công lý vào trong nếp sống, biến pháp luật thành “đức tin” dân sự và lẽ sống của mỗi con người trong xã hội văn minh.
Nền tảng cốt lõi của tư tưởng này bắt nguồn từ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp quyền nhân nghĩa. Ngay từ những ngày đầu lập quốc, Người đã khẳng định một nguyên tắc mang tính bản thể luận: “Pháp luật phải được tôn trọng tuyệt đối... pháp luật là ý chí của toàn dân” [4]. Tư tưởng này xác lập rằng pháp luật không phải là công cụ áp đặt từ trên xuống, mà là sự kết tinh ý chí, nguyện vọng và lợi ích chung của cộng đồng. Sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay đã được Đảng ta nâng tầm, không chỉ coi pháp luật là công cụ quản lý mà còn là một thành tố hữu cơ của nền văn hóa dân tộc. Việc xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật chính là quá trình chuyển hóa các giá trị pháp quyền thành các chuẩn mực ứng xử tự giác, tạo nên một cộng đồng chính trị - xã hội gắn kết bằng sợi dây pháp lý nhân văn.
Dưới lăng kính của Nghị quyết Đại hội XIV, con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật...” [5]. Ở đây, thượng tôn pháp luật được đặt ngang hàng với các giá trị truyền thống như đạo đức và ý thức dân tộc, tạo thành một chỉnh thể nhân cách của công dân hiện đại. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã bổ sung những chiều kích sâu sắc về mặt văn hóa, khẳng định văn hóa phải “trở thành sức mạnh nội sinh và hệ điều tiết” [6] đối với mọi hoạt động của xã hội. Trong cơ chế điều tiết này, văn hóa thượng tôn pháp luật đóng vai trò là “bộ lọc” quan trọng nhất, giúp cá nhân tự định hướng hành vi giữa những tác động đa chiều của kinh tế thị trường và sự xâm lăng của các luồng văn hóa ngoại lai độc hại.
Từ góc độ lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN, văn hóa thượng tôn pháp luật là sự cụ thể hóa và nâng cao nguyên tắc Hiến định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất” [7]. Tuy nhiên, để Hiến pháp thực sự đi vào đời sống, cần có một môi trường văn hóa tương ứng để bảo chứng cho sự thực thi. Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2022 và các văn kiện Đại hội XIV đã xác lập lộ trình chiến lược: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN... có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, được thực hiện nghiêm minh” [8]. Sự nghiêm minh này không chỉ đến từ các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, mà phải đến từ sự đồng thuận văn hóa. Khi pháp luật được nhìn nhận như một giá trị văn hóa, nó sẽ tạo ra sức mạnh tự thân, giúp hạn chế sự lạm quyền từ phía các cơ quan công quyền và ngăn chặn hành vi vi phạm từ phía người dân.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “Luật” (bao gồm thể chế, quy trình thi hành và cơ chế kiểm soát quyền lực) và “Văn hóa” (bao gồm hệ giá trị dân tộc, chuẩn mực con người và đạo đức xã hội) đã tạo nên một cấu trúc nền tảng tinh thần bền vững. Đây chính là điểm đột phá trong tư duy quản trị năm 2026: pháp luật hóa văn hóa và văn hóa hóa pháp luật. Trong đó, các chuẩn mực đạo đức truyền thống như “trọng nghĩa khinh tài”, “lấy dân làm gốc” được tích hợp vào trong tinh thần của luật pháp, tạo nên một hệ sinh thái pháp lý mang đậm bản sắc Việt Nam. Văn hóa thượng tôn pháp luật lúc này đóng vai trò là cầu nối, biến các mục tiêu chính trị của Đảng thành hành động cụ thể của quần chúng, bảo đảm cho Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vận hành linh hoạt nhưng vẫn kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Thực trạng thể chế hóa và thực thi văn hóa thượng tôn pháp luật trong bối cảnh mới
Nhìn lại chặng đường từ Đại hội XIII đến những tháng đầu năm 2026, công tác thể chế hóa các giá trị văn hóa và pháp quyền tại Việt Nam đã có những bước chuyển mình mang tính bước ngoặt. Tuy nhiên, bức tranh thực tiễn vẫn là sự đan xen giữa những thành tựu đột phá và các điểm nghẽn cố hữu cần được tháo gỡ bằng tư duy quản trị mới. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội XIV, Đảng ta đã thẳng thắn nhận định: “Công tác xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế; hệ thống pháp luật ngày càng đồng bộ, thống nhất, khả thi” [9]. Song, ở chiều ngược lại, một khoảng trống lớn về mặt tinh thần vẫn tồn tại khi “văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh; môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh, còn nhiều biểu hiện lệch chuẩn” [10]. Điều này cho thấy, dù “khung xương” thể chế đã hình thành, nhưng “hệ thần kinh” là văn hóa thượng tôn pháp luật vẫn chưa phát triển tương xứng để điều khiển bộ máy vận hành trơn tru.
Sự ra đời của Nghị quyết 80-NQ/TW vào đầu năm 2026 như một “liều thuốc” đặc trị cho những tồn tại này. Nghị quyết đã chỉ ra một thực trạng nhức nhối: “Việc thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, có mặt thiếu đột phá; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị về xây dựng văn hóa pháp luật còn lỏng lẻo” [11]. Thực tế cho thấy, ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân vẫn còn mang tính đối phó. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực an ninh mạng, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và sai phạm trong quy hoạch đô thị vẫn diễn biến phức tạp, phản ánh một lỗ hổng lớn trong ý thức hệ: coi thường kỷ cương, trọng quan hệ hơn trọng luật pháp.
Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế văn hóa, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ sự chồng chéo, thiếu những cơ chế đặc thù để thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển. Dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng tính đến đầu năm 2026, đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP cả nước vẫn chưa đạt ngưỡng kỳ vọng 5% [12]. Sự thiếu hụt các khung pháp lý về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số và các chính sách ưu đãi đầu tư cho sáng tạo văn hóa đã vô tình kìm hãm sức mạnh nội sinh mà Đại hội XIV đã đề ra.
Một dấu mốc quan trọng cần lưu ý là kể từ ngày 01/3/2026, một loạt các đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua năm 2025 chính thức có hiệu lực, bao gồm: Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Phục hồi phá sản, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cùng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Sự vận hành đồng loạt của các đạo luật này đặt ra một thách thức chưa từng có đối với văn hóa tuân thủ pháp luật, đặc biệt là trong môi trường số hóa toàn diện. Khi trí tuệ nhân tạo (AI) bắt đầu can thiệp sâu vào các quyết định quản lý hành chính và tư pháp, việc ban hành và thực thi các “Bộ quy tắc ứng xử trên không gian số” không còn là khuyến nghị mà đã trở thành yêu cầu pháp lý bắt buộc để duy trì trật tự xã hội văn minh [13].
Dẫu vậy, điểm sáng trong giai đoạn này là sự lan tỏa của các mô hình quản trị cộng đồng dựa trên nền tảng văn hóa. Tại nhiều địa phương, phong trào xây dựng “Mô hình gia đình văn hóa pháp luật” đã bắt đầu đem lại quả ngọt, nơi các quy định của pháp luật được lồng ghép mềm mại vào các hương ước, quy ước và chuẩn mực đạo đức gia đình. Tỷ lệ giáo dục thượng tôn pháp luật tích hợp trong chương trình phổ thông mới đạt kết quả khả quan, góp phần hình thành lớp công dân trẻ có tư duy pháp lý hiện đại. Đây chính là những “tế bào” khỏe mạnh để chúng ta tiếp tục thực hiện công cuộc thể chế hóa sâu sắc hơn, biến văn hóa thượng tôn pháp luật từ một khẩu hiệu chính trị thành một thực thể sống động trong lòng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
4. Giải pháp chiến lược hoàn thiện thể chế hóa văn hóa thượng tôn pháp luật
Việc chuyển hóa các giá trị cốt lõi từ Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW vào thực tiễn đời sống xã hội đòi hỏi một lộ trình thể chế hóa đồng bộ, có trọng tâm và mang tính đột phá. Để văn hóa thượng tôn pháp luật thực sự trở thành “nền tảng tinh thần” của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các giải pháp cần tập trung vào sự tương tác biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng (pháp luật) và cơ sở hạ tầng (văn hóa, đạo đức).
4.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng “văn hóa hóa” và “kiến tạo”
Nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng và ban hành “Luật Văn hóa” nhằm thay thế các quy định cũ vốn đã lạc hậu trước sự phát triển của kỷ nguyên số. Luật mới cần chuyển dịch tư duy từ “quản lý” sang “kiến tạo, khơi thông nguồn lực”, trong đó tích hợp văn hóa thượng tôn pháp luật vào tất cả các phân hệ luật ngành. Đặc biệt, hệ thống pháp luật phải bảo đảm tính liên thông tuyệt đối với 6 đạo luật mới có hiệu lực từ ngày 01/3/2026. Trong đó, việc thực thi Luật Trí tuệ nhân tạo (2025) cần đặt ra yêu cầu bắt buộc: “các hệ thống AI phải được gắn dấu nhận biết và vận hành dựa trên các chuẩn mực đạo đức, tôn trọng bản sắc văn hóa và chủ quyền số quốc gia” [14].
Ở tầm vĩ mô, nghiên cứu đề xuất việc chuẩn bị cơ sở lý luận cho việc sửa đổi Hiến pháp 2013 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV, xem xét việc bổ sung hoặc làm đậm nét chương về “Văn hóa pháp quyền”. Điều này sẽ tạo ra nền tảng pháp lý cao nhất để xác lập rằng: trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, mọi quyền lực nhà nước phải được kiểm soát bởi pháp luật và mọi hành vi xã hội phải được dẫn dắt bởi các giá trị văn hóa pháp lý nhân văn.
4.2. Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa pháp luật từ gốc rễ xã hội
Để pháp luật thực sự thấm sâu vào “mạch máu” của đời sống, cần xây dựng môi trường văn hóa pháp luật bắt đầu từ những đơn vị cơ bản nhất là gia đình và nhà trường. Việc triển khai rộng rãi ngày 24/11 hằng năm (Ngày Văn hóa Việt Nam) không chỉ là dịp tôn vinh nghệ thuật, mà phải trở thành ngày hội giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật trên toàn quốc.
Một giải pháp đột phá là xây dựng và áp dụng Chỉ số “Văn hóa tuân thủ pháp luật” (Legal Compliance Culture Index - LCCI) cấp quốc gia. Chỉ số này sẽ được “tích hợp vào quy trình đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức và làm căn cứ xét duyệt các danh hiệu thi đua, khen thưởng hằng năm” [15]. Đồng thời, thực hiện mục tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW về việc đạt tỷ lệ 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận chương trình giáo dục pháp luật tích hợp văn hóa ứng xử, giúp hình thành tư duy “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
4.3. Đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực giám sát
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, văn hóa thượng tôn pháp luật phải được bảo vệ bằng các công cụ công nghệ hiện đại. Việc ứng dụng AI và dữ liệu lớn (Big Data) để cá nhân hóa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp thông điệp pháp lý đến đúng đối tượng, đúng thời điểm và đúng nhu cầu.
Song song đó, cần tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc giám sát tối cao đối với việc thực thi văn hóa pháp luật theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2025. Mục tiêu là xây dựng một “môi trường thông tin số lành mạnh, minh bạch, nơi các bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng trở thành rào cản tự nhiên đối với các hành vi lệch chuẩn, xuyên tạc giá trị pháp quyền” [16]. Sự giám sát này không chỉ từ phía cơ quan quyền lực mà còn phải huy động sự phản biện xã hội của các tổ chức thành viên Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan truyền thông báo chí.
4.4. Cơ chế nguồn lực và lộ trình thực hiện chiến lược
Nguồn lực tài chính là điều kiện tiên quyết để thực hiện các đột phá về văn hóa. Cần đảm bảo ngân sách dành cho văn hóa đạt mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, với ưu tiên phân bổ cho ba lĩnh vực trọng tâm: đào tạo nhân lực chất lượng cao về văn hóa pháp luật, ứng dụng công nghệ số và sáng tạo các tác phẩm văn hóa - nghệ thuật có tác dụng giáo dục pháp quyền.
Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thông qua các chương trình trách nhiệm xã hội (CSR). Các giải pháp này phải được cụ thể hóa thành Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, với những cột mốc định lượng rõ ràng: đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa phải đóng góp tối thiểu 7% GDP [17], và đến năm 2045, Việt Nam trở thành một quốc gia pháp quyền kiểu mẫu với nền văn hóa thượng tôn pháp luật bền vững.
5. Kết luận
Tổng kết lại, “văn hóa thượng tôn pháp luật” không chỉ là một yêu cầu mang tính kỹ thuật hành chính mà đã được nâng tầm trở thành “nền tảng tinh thần” - hệ điều tiết trung tâm bảo đảm cho sự vận hành bền vững của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, pháp luật không còn hiện hữu như một hệ thống cưỡng bách thuần túy, mà đã chuyển hóa thành một bộ phận hữu cơ của bản sắc văn hóa con người Việt Nam mới: văn minh, nhân văn và thượng tôn công lý.
Việc thể chế hóa đồng bộ tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 80-NQ/TW chính là lời giải cho bài toán hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước. Đây không phải là trách nhiệm riêng biệt của các cơ quan tư pháp hay ngành văn hóa, mà là sự nghiệp cách mạng chung, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Như nhận định trong các nghiên cứu gần đây, “việc xây dựng văn hóa pháp luật phải được tiến hành song song với quá trình hoàn thiện thể chế, trong đó văn hóa đóng vai trò dẫn dắt và tạo lập niềm tin cho các giá trị pháp quyền thực thi trong đời sống”.
Khi mỗi công dân, mỗi cán bộ đảng viên sống và hành động theo tinh thần “thượng tôn pháp luật” như một nhu cầu tự thân và giá trị đạo đức cốt lõi, đó cũng là lúc sức mạnh nội sinh của dân tộc được giải phóng mạnh mẽ nhất. Sự kết hợp giữa “Thế trận pháp lý” vững chắc và “Trận địa lòng dân” thông qua văn hóa chính là chìa khóa để Việt Nam vượt qua mọi thách thức của thời đại số. Đây không chỉ là mục tiêu chiến lược mà còn là sứ mệnh lịch sử vẻ vang nhằm khẳng định vị thế của một Việt Nam tự cường, pháp trị và văn hiến trên bản đồ thế giới vào năm 2045.
Hành trình xây dựng nền văn hóa thượng tôn pháp luật trong kỷ nguyên mới đòi hỏi mỗi chúng ta phải hành động với tư duy đổi mới, sáng tạo và một tinh thần trách nhiệm cao nhất ngay từ hôm nay, để “khát vọng dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trở thành hiện thực sinh động trên khắp dải đất hình chữ S.
Tài liệu tham khảo, trích dẫn:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[2] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hà Nội.
[3] Hội đồng Lý luận Trung ương (2025), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN trong 40 năm qua ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 187.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 112.
[6] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hà Nội.
[7] Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội (Điều 119).
[8] Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới, Hà Nội.
[9] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 145.
[11] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hà Nội.
[12] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025), Báo cáo thống kê tình hình phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Hà Nội.
[13] Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
[14] Quốc hội (2025), Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (có hiệu lực từ 01/3/2026; quy định bắt buộc gắn dấu nhận biết nội dung do AI tạo ra và vận hành hệ thống AI phải tuân thủ chuẩn mực đạo đức, tôn trọng bản sắc văn hóa Việt Nam và chủ quyền số quốc gia - Điều 11 và các điều khoản liên quan).
[15] Bộ Tư pháp (2026), Đề án xây dựng và áp dụng Chỉ số Văn hóa tuân thủ pháp luật (Legal Compliance Culture Index - LCCI) cấp quốc gia, Hà Nội (tài liệu đề xuất nội bộ, tích hợp vào đánh giá cán bộ, công chức và thi đua khen thưởng theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW; hiện chưa công bố toàn văn rộng rãi trên các cổng thông tin chính thức).
[16] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số (ban hành kèm theo Quyết định của Bộ trưởng), Hà Nội (kết hợp với Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2025; quy định xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, minh bạch, sử dụng bộ quy tắc làm rào cản tự nhiên chống hành vi lệch chuẩn và xuyên tạc giá trị pháp quyền).
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV/Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội (đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp tối thiểu 7% GDP, với tầm nhìn 9% vào năm 2045).
TS. TẠ KHÁNH TRƯỜNG
LÊ HÙNG
Học viện Chính trị khu vực I.

