Theo Luật sư Hoàng Tuấn Vũ, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho biết, việc vừa lái xe vừa sử dụng điện thoại để xem Google Maps khi điều khiển xe máy chia thành 02 trường hợp:
Trường hợp 1: Dùng tay cầm và thao tác với điện thoại trong quá trình điều khiển xe
Theo khoản 6 Điều 9 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định, việc dùng tay cầm và sử dụng điện thoại hoặc thiết bị điện tử khác khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đang di chuyển trên đường bộ là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.
Theo đó, khi lái xe, người tham gia giao thông không được dùng tay cầm và sử dụng điện thoại hay Google Maps.
Cụ thể, điểm đ khoản 4 Điều 7 và điểm b khoản 10 Nghị định 168/2024/NĐ-CP quy định mức phạt với hành vi vừa lái xe vừa sử dụng điện thoại như sau:
- Đối với hành vi sử dụng điện thoại khi đi xe máy (Không gây tai nạn) thì sẽ bị xử phạt từ 800.000 đồng đến 01 triệu đồng, đồng thời bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
- Còn đối với hành vi sử dụng điện thoại khi đi xe máy (Gây tai nạn) thì sẽ bị xử phạt từ 10 - 14 triệu đồng, đồng thời bị trừ 10 điểm giấy phép lái xe.
Trường hợp 2: Gắn điện thoại lên giá đỡ xe máy để xem Google Maps mà không dùng tay cầm và thao tác với điện thoại trong quá trình điều khiển xe
Đối với trường hợp này, theo Luật sư, như đã đề cập nêu trên, việc dùng tay cầm và sử dụng điện thoại hoặc thiết bị điện tử khác khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đang di chuyển trên đường bộ là hành vi bị nghiêm cấm.
Tuy nhiên, trường hợp cá nhân gắn điện thoại lên giá đỡ để xem Google Maps mà không dùng tay cầm và thao tác với điện thoại trong quá trình điều khiển xe, thì không vi phạm quy định nêu trên.
Lý do là lỗi trong quy định vừa nêu nhấn mạnh vào hành vi "dùng tay cầm và sử dụng điện thoại". Khi điện thoại được cố định trên giá đỡ và cá nhân chỉ quan sát màn hình để định hướng mà không thao tác, thì không thuộc hành vi bị cấm.
Tuy nhiên, việc sử dụng điện thoại (dù gắn trên giá đỡ) vẫn phải đảm bảo an toàn giao thông.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Ngoài ra, bên cạnh các mức xử phạt nêu trên, tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP cũng đã quy định các mức phạt đối với hành vi dùng điện thoại khi lái xe.
Cụ thể, theo điểm h khoản 5; điểm b khoản 16 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người lái xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô tham gia giao thông mà một tay lái xe một tay dùng điện thoại sẽ bị xử phạt tiền từ 04 - 06 triệu đồng và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Đối với người lái xe ô tô, xe chở người bốn bánh có gắn động cơ, xe chở hàng bốn bánh có gắn động cơ và các loại xe tương tự xe ô tô tham gia giao thông mà một tay lái xe một tay dùng điện thoại mà gây tai nạn giao thông thì bị phạt tiền từ 20 - 22 triệu đồng và bị trừ 10 điểm giấy phép lái xe theo điểm h khoản 5; điểm b khoản 10; điểm d khoản 16 Điều 6 Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
Cũng theo điểm đ khoản 4; điểm b khoản 13 Điều 7 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người lái xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy tham gia giao thông mà một tay lái xe một tay dùng điện thoại thì sẽ bị xử phạt tiền từ 800.000 - 01 triệu đồng và bị trừ 04 điểm giấy phép lái xe.
Còn người lái xe đạp, xe đạp máy tham gia giao thông mà một tay lái xe một tay dùng điện thoại thì sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo điểm h khoản 1 Điều 9 Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
07 nguyên tắc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ
Theo Điều 3 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 có quy định 07 nguyên tắc đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ như sau:
- Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Bảo đảm giao thông đường bộ được trật tự, an toàn, thông suốt, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; phòng ngừa vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, tai nạn giao thông đường bộ và ùn tắc giao thông; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân và tài sản của cơ quan, tổ chức.
- Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Người tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành các quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và quy định khác của pháp luật có liên quan, có trách nhiệm giữ an toàn cho mình và cho người khác.
- Mọi hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ phải công khai, minh bạch và thuận lợi cho người dân.
- Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

